1
Kỷ yếu Hội nghị Khoa học toàn quốc “Công nghệ sinh học trong nghiên cứu cơ bản”, Trường Đại
học Nông nghiệp I, Hà Nội, 2005. 89-92.
Nghiên cứu mối quan hệ di truyền của 12 loài thuộc chi Dipterocarpus (họ
Dipterocarpaceae) dựa trên các chỉ thị phân tử
Nguyễn Thuý Hạnh, Nguyễn Đức Thành*
Viện Công nghệ Sinh học, Viện KH&CNVN
Nguyễn Hoàng Nghĩa
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
I. Mở đầu
Cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) phân bố rộng khắp trên thế giới, là một họ thực vật điển hình của
rừng nhiệt đới Đông Nam á gồm 13 chi và 470 loài. Họ này có ý nghĩa lớn về kinh tế và sinh thái
học.
Chi Dipterocarpus là một trong 8 chi thuộc tộc Dipterocarpeae thuộc họ phụ Dipterocarpoideae,
gồm 69 loài phân bố ở Srilanka, ấn Độ, Thái Lan, Philippin, Bali, Boneo, Trung Quốc ở Việt Nam
các loài thuộc chi Dipterocarpus gồm 14 loài phân bố ở cả hai miền Bắc và Nam. Ngoài việc cung
cấp gỗ dùng trong gia dụng, chế biến ván ép, ván sàn, các loài cây họ Dầu còn cho một số sản
phẩm làm sơn véc-ni, trồng làm cây cảnh trên đường phố, cây bóng mát trong công viên. Do chiến
tranh phá hoại và do khai thác không hợp lý mà diện tích rừng có cây họ Dầu giảm đi đáng kể cả
về diện tích và trữ lượng rừng. Có những loài chỉ còn thấy như những cá thể đơn lẻ còn xót lại
(Chò nâu) ở Yên Bái, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Cạn. Bên cạnh đó có những loài không còn tìm
thấy ở rừng tự nhiên mà chỉ tìm thấy ở rừng tái sinh ( Dầu song nàng). Do tính chất có chứa dầu
nên những cây họ này thường mất sức nảy mầm vì vậy số lượng cây ngày càng ít. Trước thực
trạng này, việc tìm hiểu đa dạng di truyền loài này rất cần thiết từ đó có phương án bảo tồn nguồn
gen cây rừng .
Phân loại và đánh giá mức độ đa dạng của thực vật dựa vào hình thái mất nhiều thời gian và độ
Dipterocarpus với 7 mồi RAPD có 194 phân đoạn cho đa hình. Số phân đoạn đa hình giao động từ
8 đến 44 tương đương với 44,44% đến 100% (Hình 1). Điều này chứng tỏ giữa các loài trong chi
này có mức độ đa dạng cao, Đặc biệt trong các mồi RAPD được sử dụng có mồi OPB15 và mồi
OPC9 cho tỷ lệ băng đa hình 100%.
1,5 kb
3 kb
0,5 kb
M 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
A
B
M 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
1,5 kb
3 kb
0,5 kb
Hình 1. Sản phẩm PCR của mồi OPC8 (A) và OPB11 (B) với ADN genome với 12 loài chi
Dipterocarpus
M- Marker 1kb; 1- Dầu rái, 2- Dầu bao, 3- Dầu cát, 4- Dầu song nàng, 5- Dầu lông, 6- Dầu trà
beng, 7-Dầu đồng, 8- Dầu lá bóng, 9- Dầu Haselt, 10- Chò nâu, 11- Dầu đọt tím, 12- Dầu mít
Xét về đa hình các loài cây thuộc chi Dipterocarpus cho thấy: tất cả các loài đều cho tỷ lệ đa
hình lớn hơn 64%, trong đó loài Dầu cát cho tỷ lệ băng đa hình cao nhất (83.33%), và loài Dầu đọt
cắt với mỗi loại enzym các sản phẩm PCR đều cho tỷ lệ đa hình thấp.Tổng số băng nhận được là
169 trong đó có 44 băng đa hình tương ứng với 26% (Hình 2B). Mức độ đa hình nhận được ở đây
thấp hơn so với mức độ đa hình chúng tôi nhận được trước đây ở 17 loài thuộc 6 chi khác nhau
của họ Dầu (Dipterocarceae) [3]. Kết quả nghiên cứu này cho thấy các loài trong cùng một chi có
mức độ đa dạng di truyền thấp hơn so với các loài ở các chi khác nhau.
Khi dùng enzym HaeIII để cắt sản phẩm của mồi psbC - trnS đã tạo ra 3 băng có kích thước
800bp, 300bp, 200bp, trong 12 loài nghiên cứu chỉ duy nhất có loài Dầu rái không có băng 300bp.
Như vậy chúng ta có thể nhận biết được loài Dầu rái bằng cặp mồi psbC- trnS với việc cắt sản
2
phẩm PCR với enzym HaeIII. Ngoài ra, sản phẩm PCR với mồi trnH - trnK được cắt bằng enzym
RsaI cũng tạo ra 3 băng có kích thước 400bp, 300bp, 100bp, tất cả các loài nghiên cứu đều có 3
băng trên, riêng loài Dầu mít không có băng 100bp, đây chính là điểm có thể nhận biết được loài
Dầu mít.
Quan hệ di truyền giữa 12 loài cây họ Dầu
Dựa vào số liệu RAPD và số liệu ADN lục lạp, khoảng cách di truyền giữa các loài nghiên cứu
được tính toán. Kết quả cho thấy mức độ tương đồng di truyền giao động từ 0,18 đến 0,41. Biểu
đồ quan hệ di truyền (Hình 3) được xây dựng trên cơ sở các hệ số tương đồng di truyền giữa 12
loài nghiên cứu cho thấy: hai loài Dầu đọt tím và Dầu rái có quan hệ di truyền xa so với 10 loài
còn lại và có hệ số tương đồng di truyền tương ứng là 0,18 và 0,21. 10 loài còn lại này phân thành
hai nhóm: nhóm 1 gồm 3 loài: Dầu mít, Dầu Haselt, Dầu song nàng có mức tương đồng di truyền là
0,26. Nhóm 2 gồm 7 loài: Dầu bao, Chò nâu, Dầu cát, Dầu trà beng, Dầu lông, Dầu đồng, Dầu lá
bóng có mức tương đồng di truyền là 0,27. Ngoài ra các loài trong hai nhóm trên đều có mức độ
tương đồng di truyền rất khác nhau và ở mức độ thấp, chỉ riêng hai loài Dầu trà beng và Dầu cát có
mức độ tương đồng di truyền cao hơn cả, tuy nhiên vẫn ở mức thấp (0,41). Những kết quả trên cho
thấy 12 loài nghiên cứu có quan hệ di truyền rất xa nhau. Điều này chứng tỏ sự đa dạng di truyền
cao của 12 loài thuộc chi Dipterocarpus ở Việt Nam.
Coefficient
0.18 0.24 0.30 0.36 0.41
Hình 3. Biểu đồ quan hệ di truyền giữa 12 loài thuộc chi Dipterocarpus
Từ những kết quả nhận được có thể đi đến các kết luận sau:
12 loài cây họ Dầu thuộc chi Dipterocarpus có mức độ đa dạng về mặt di truyền cao, hệ số di
truyền giao động từ 0,18 đến 0,41.
Hai loài Dầu trà beng và Dầu cát có mối quan hệ di truyền gần nhau hơn so với các loài khác
trong chi, có cùng hệ số di truyền là 0,41.
Hai cặp mồi pscC – trnS và trnH - trnK có thể dùng để nhận biết hai loài Dầu rái và Dầu mít bằng
việc cắt sản phẩn PCR tương ứng với hai enzym HaeIII và RsaI.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999. Một số loài cây bị đe doạ ở Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
2. Nguyễn Đức Thành, 1999. ứng dụng và phát triển các chỉ thị sinh học phân tử trong nghiên cứu
đa dạng phân tử ở lúa. Hội nghị công nghệ sinh học toàn quốc, Hà Nội: 1205-1215.
3. Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Thuý Hạnh, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005. Nghiên cứu quan hệ di
truyền của một số loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) ở Việt Nam dựa trên đa hình ADN
genome và lục lạp. Hội Nghị khoa học toàn quốc, Hà Nội 2005 - Những vấn đề Nghiên cứu cơ
bản trong khoa học sự sống. Bài đã gửi đăng.
4. Ashton, P.S.J,1982. Dipterocarparceae. In C.G.G.J. Van Steenis [ed.], Flora Malesiana, Series
1, Spermatophyta, vol.9, 237-552. Martinus Nijhoff Pulishers, The Hague.
3
relationship between Gordonia and Polyspora (Theaceae) base on the combined analyses of
molecular data from the nuclear, plastid, and itochondrial genomes”. Plant Syst. Evol. 248: 45-
55.
Lời cám ơn. Công trình có sự hỗ trợ của Hội đồng Khoa học tự nhiên và đề tài “Bảo tồn nguồn gen cây rừng” của
Viện KHLNVN. Các tác giả xin cảm ơn GS.TSKH Lê Xuân Tú đã đọc và góp ý cho bản thảo.
Summary
The study of genetic relationships between 12 tree species of Dipterocarpus
(Dipterocarpaceae) base on molecular markers
Nguyen Thuy Hanh, Nguyen Duc Thanh
Institute of Biotechnology, VAST
Nguyen Hoang Nghia
Forest Science Institute of Vietnam
Dipterocarpus are the plants of economic value which are distributed largely in Vietnam. After the war the
tree of these species were considerablely decreased. In the present work, the genetic relationships between
twelve species of Dipterocarpus were investigated using RAPD and cpDNA markers.The RAPD analyses using
random amplified polymorphic primers revealed 194 polymorphic fragments from total number of 250 obtained
fragments. Non - coding regions of cpDNA were amplified using chloroplast primers trnK - trnH, psc C - trnS,
trnM - rbcL, trnD - trnT, and polymorphisms were subsequently generated by digestion of the PCR products
with HaeIII, HhaI, RsaI. Of 169 generated fragments, 44 showed polymorphism in investigated species. Based
on RAPD and cpDNA analysed data, a dendogram of genetic relationships between twelve Dipterocarpus
species were constructed. The data obtained showed that the species are very divergent. In addition, using
two primers pair psbC - trnS and trnH -trnK two specie D. costatus Gaertn and D. alatus Roxb could be
discriminated by cleaving their PCR products with HaeIII and RsaI restricton enzyme , respectively.