Luận văn: Ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11 Trung học phổ thông - Pdf 15


Luận văn
Ứng dụng công nghệ
thông tin trong thiết kế bài
giảng Địa lí lớp 11 Trung
học phổ thông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình( Sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh… )
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài 1
II. Mục đích của đề tài 3
III. Nhiệm vụ của đề tài 3
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
V. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 3
VI. Phương pháp nghiên cứu 5
VII. Đóng góp của đề tài 6
VIII. Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng CNTT

3.5.Tiểu kết chương …………………………………………… …………98
KẾT LUẬN …………………………………………………………………105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 111
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt
Viết đầy đủ
TKBG
Thiết kế bài giảng
PPDH
Phương pháp dạy học
THPT
Trung học phổ thông
KT-XH
Kinh tế -xã hội
CNTT
Công nghệ thông tin
SGK
Sách giáo khoa
GD - ĐT
Giáo dục - Đào tạo
Nxb
Nhà xuất bản

29
2
Bảng 1.2
Mô hìnhGiáo dục trong thời đại thông tin
31
3
Bảng 1.3
Điều tra tình hình của việc ứng dụng CNTT
dạy học Địa lí ở một số trường THPT
33
4
Bảng 2.1
Một số địa chỉ Website cần thiết để giáo viên
tham khảo trong quá trình TKBG
51
5
Bảng 3.1
Tên trường và các giáo viên tham gia thực
nghiệm
97
6
Bảng 3.2
Trường, lớp và học sinh tham gia thực nghiệm
98
7
Bảng 3.3
Kết quả thực nghiệm
99
8
Bảng 3.4

Hình 2.3
Màn hình làm việc chính của Powerpoin
61
5
Hình 2.4
Danh sách các tệp mẫu.
63
6
Hình 2.5
Một slide chủ của một tệp trình diễn
64
7
Hình 2.6
Các kiểu chữ nghệ thuật trong WordArt Gallery
68
8
Hình 2.7
Một Slide chữ nghệ thuật trong bài Liên minh
châu Âu
69
9
Hình 2.8
Một Slide biểu đồ trong bài Hoa Kì
70
10
Hình 2.9
Một Slide “Bản đồ tự nhiên châu Phi” trong bài:
Một số vấn đề của châu Phi
71
11

89
19
Hình 2.18
Bảng số liệu và tháp dân số châu Phi
90
20
Hình 2.19
Hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân châu Phi
92
21
Hình 2.20
Một số slide về cảnh chặt phá rừng
91
22
Hình 2.21
Bảng số liệu và tháp dân số châu Phi
93
23
Hình 2.22
Những hình ảnh về hoạt động sản xuất nông nghiệp
93
24
Hình 3.1
Biểu đồ đánh giá kết quả thực nghiệm
102

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1

MỞ ĐẦU

phương pháp giảng dạy và học tập của ngành GD - ĐT. Nghị quyết hội nghị
Trung ương Đảng Cộng sản khoá VIII đã chỉ ra một trong những nhiệm vụ
quan trọng của ngành GD - ĐT là phải “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD
- ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nề nếp tư duy
sáng tạo của người học.Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu . . .”
Muốn giờ học đạt kết quả tốt thì chính người GV phải chuẩn bị (thiết
kế) trước giờ lên lớp (thi công). Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là người GV
phải biết lựa chọn phương pháp phù hợp cùng với việc ứng dụng CNTT để
hướng dẫn tổ chức và điều khiển HS phát huy hết năng lực trong quá trình
tìm kiếm tri thức. Tuy nhiên đây là một vấn đề còn khá mới mẻ đối với
GV, nhất là GV địa lý ở trường phổ thông, rất nhiều GV còn lúng túng
trong việc tiếp cận kiến thức lý luận và một hệ thống PPDH có sử dụng
CNTT (nói chung) và các phần mềm Địa lý (nói riêng) với những nguyên
tắc, hình thức tổ chức cũng như qui trình của việc thiết kế bài giảng
(TKBG) cụ thể và tương thích. Đặc biệt là việc TKBG có sử dụng CNTT
trong giảng dạy Địa lí, hiện nay do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách
quan nên chưa được đầu tư thích đáng.
Trước ý nghĩa và sự cần thiết của yêu cầu đổi mới PPDH và nâng cao
chất lượng TKBG, cũng như mở rộng thêm khả năng ứng dụng CNTT vào
dạy học Địa lí ở trường THPT hiện nay. Tôi đã lựa chọn vấn đề : “Ứng dụng
công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11 Trung học phổ
thông ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình với mong muốn góp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3

một phần nhỏ bé trong việc phổ cập, ứng dụng CNTT để nâng cao chất l-
ượng, hiệu quả dạy và học môn Địa lí ở trường THPT.
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

vào dạy học (nói chung) và TKBG (nói riêng) cũng đã được nghiên cứu và
ứng dụng rộng rãi trên thế giới nhất là ở những khu vực và quốc gia có nền
kinh tế phát triển như: Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, NICs. . .
Ở Việt Nam nhận rõ vai trò của CNTT đối với đời sống xã hội, Đảng -
Nhà nước đã có những chính sách phát triển CNTT từ những năm 1993 và
phát triển công nghệ phần mềm từ năm 2000. Do đó, CNTT đã được áp dụng
có hiệu quả vào nhiều lĩnh vực của sản xuất, dịch vụ và đời sống xã hội. Tuy
nhiên trong giáo dục thì gần đây mới được chú ý vì thế còn nhiều hạn chế.
Để đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước, góp
phần đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả Giáo dục, thời gian gần đây có
nhiều nhà khoa học giáo dục đã tiến hành nghiên cứu vấn đề này. Các công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan tới việc ứng dụng CNTT và
các phần mềm tin học trong TKBG có thể kể đến:
- “Phần mềm PC- Fact với giảng dạy địa lí ”. PGS Nguyễn Dược biên
soạn. Nxb Giáo Dục, 1998.
- “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy”- Kỷ yếu Hội thảo
Khoa học công nghệ Bộ GD - ĐT, 2001.
- “Khai thác phần mềm PC – Fact trong dạy học Địa lí ”. Hội thảo
Khoa học ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong Giáo dục phổ
thông. Bộ GD - ĐT, 2001.
- “Khai thác chương trình PC – Fact, Encarta World 2000 và Power
Point để thiết kế và xây dựng bài giảng địa lí ”. PGS .TS Nguyễn Trọng Phúc.
Hội thảo khoa học “ Sử dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp
dạy học” ĐHSP Hà Nội, 2002.
- “Thiết kế bài giảng địa lí ở trường phổ thông” PGS.TS Nguyễn Trọng
Phúc, Nxb ĐHSP Hà Nội, 2004.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5

- “Thiết kế bài giảng địa lí kinh tế - xã hội theo hướng dạy học tích

6.2. Phương pháp điều tra, quan sát, tổng kết kinh nghiệm
- Tìm hiểu thực tế việc dạy học Địa lí (nói chung) và TKBG Địa lí lớp
11 THPT (nói riêng), đặc biệt là những chương trình có sử dụng CNTT trong
dạy học.
- Dự giờ một số tiết dạy ở các chương trình THPT có sử dụng CNTT,
từ đó rút ra kinh nghiệm và bổ sung những vấn đề có liên quan vào đề tài
nghiên cứu.
Việc áp dụng các phương pháp, phương tiện dạy học cho phù hợp với
khả năng học sinh là một quá trình thử nghiệm lâu dài, đòi hỏi nhiều kinh
nghiệm của GV. Để việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy Địa lí ở trường phổ
thông đạt hiệu quả tốt cần hiểu kĩ về thái độ của GV và HS, tình hình thực tế
của các trường mà nhất là học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước
trong lĩnh vực này để rút ra những bài học kinh nghiệm.
6.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành ứng dụng CNTT để TKBG và thực hiện các giờ dạy ở
trường phổ thông. Sử dụng phiếu thăm dò để kiểm tra kết quả từ phía HS
và lấy ý kiến của GV nhằm đánh giá mức độ khả thi của đề tài. Kiểm tra
tính thực tiễn của việc ứng dụng CNTT vào TKBG có thể sử dụng được
thường xuyên hay không, đồng thời thấy được những thiếu sót và chưa
hợp lí để từ đó có những phương hướng điều chỉnh cho hợp lí làm tăng
tính khả thi của đề tài.
6.4.Phương pháp toán thống kê
Được dùng trong việc xử lý kết quả số liệu thống kê sau khi tiến hành
điều tra, thực nghiệm sư phạm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7

VII. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hoá và làm sáng tỏ cũng như
tiếp thu những cơ sở lý luận , cơ sở thực tiễn của việc TKBG (nói chung)

công nghệ thông tin
1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
*Tiết học Địa lí và các kiểu tiết học Địa lí:
Hiện nay, quá trình dạy học ở trường phổ thông được thực hiện theo
chương trình do Bộ GD - ĐT quy định dưới hai hình thức: Nội khoá và
ngoại khoá.Trong hình thức dạy học nội khoá, tiết học giữ một vai trò và vị
trí đặc biệt quan trọng. Tiết học được xem là đơn vị thời gian cơ bản để
tính thời lượng chương trình cho mỗi bộ môn. Trong tiết học, các nhiệm vụ
dạy học, nội dung dạy học các nguyên tắc và PPDH đều được thực hiện.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm tiết học,
song tựu chung thì tiết học có thể được hiểu như sau: “Tiết học đó là một
khoảng thời gian của quá trình dạy học, trong đó HS tự giác, tích cực lĩnh
hội nội dung học vấn dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của GV để hình thành
nhân cách và phát triển năng lực trí tuệ”. Qua cách hiểu như trên, chúng ta
có thể thấy rằng: Tiết học của các môn học, trong đó có môn địa lí, là hình
thức cơ bản của hình thức tổ chức dạy học theo trường, theo lớp như hiện
nay. Trong tiết học, các nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường phổ thông như:
Hình thành kiến thức, kĩ năng , kĩ xảo, phát triển tư duy và giáo dục tư
tưởng cho HS đều được thực hiện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9

Dựa trên những nhiệm vụ chính của tiết học, hiện nay chương trình
giảng dạy môn Địa lí của các trường phổ thông có những kiểu tiết học sau;
- Tiết học mở đầu
- Tiết học nắm kiến thức và kĩ năng mới
- Tiết học vận dụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Địa lí:
- Tiết học khái quát hóa và hệ thống hoá tri thức Địa lí
- Tiết học kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh
* Bài học Địa lí:

2 đơn vị kiến thức. Các đơn vị kiến thức trong bài học Địa lí cũng là những
kiến thức cơ bản, chúng được trình bày qua một hoặc nhiều khái niệm. Do
tính chất và dung lượng của mỗi bài khác nhau, nên đơn vị kiến thức của mỗi
bài có thể không giống nhau. Có nhiều loại bài học khác nhau:
- Bài học trình bày kiến thức mới
- Bài học ôn tập
- Bài học thực hành
Cấu trúc bài học là sự xác lập vị trí và các mối liên hệ cũng như sự tác
dộng lẫn nhau của các yếu tố (thành tố) có tính quy luật của một đối tượng
nào đó. Bài học trình bày một nội dung kiến thức nhất định, có vị trí nhất định
trong sách giáo khoa, đồng thời bài học phải đảm bảo một lượng kiến thức kỹ
năng phù hợp với tiết học. Từ đó có thể rút ra khái niệm cấu trúc bài học, phải
được xây dựng trên những thành tố sau:
+ Phương pháp luận khoa học Địa lí.
+ Đối tượng nhiệm vụ của môn Địa lí ở trường phổ thông.
+ Nội dung khoa học của bài Địa lí.
+ Trình độ nhận thức của HS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11

Vì thế, ta thấy rằng mỗi bài học thường bắt đầu bằng phần vào bài
nhằm xác định mục tiêu của bài. Phần nội dung bài học bao gồm tên các mục,
tiếp đến là nội dung cụ thể của các đề mục. Tên đề mục thường là một vấn đề,
một khái niệm hay là một tình huống có vấn đề cần giải quyết. Còn nội dung
của các đề mục thường bao gồm phần thông báo nội dung kiến thức của mỗi
đề mục. Mà các bài học có nội dung dài - ngắn khác nhau. Sau phần nội dung
là phần kết luận, củng cố kiến thức. Cuối mỗi bài học là phần câu hỏi. Tuỳ
mỗi bài học mà hệ thống câu hỏi và bài tập giao động từ 2 đến 3 câu. Bản
thân các câu hỏi trong bài học cũng đã bao hàm cả ba loại là tái hiện kiến thức
- phát triển tư duy - rèn luyện kỹ năng.

Hình 1: Cấu trúc bài giảng
Trích: Thiết kế bài giảng Địa lí ở trường phổ thông. Nguyễn Trọng Phúc.
Nxb ĐHSP Hà Nội 2003, 2004.
Vì vậy, TKBG (giáo án), phải quán triệt được tinh thần cơ bản của
chương trình, phải nhất quán với bản kế hoạch từng năm, từng học kì, từng
chương. Khi TKBG, GV phải chú ý đầy đủ các mặt: Mục tiêu, nội dung, hình
thức, phương pháp dạy của GV, phương pháp học của HS, hiệu quả Nghĩa là
phải chú ý đến tất cả các nhân tố của quá trình dạy học. Trong TKBG, tiến trình
bài giảng phải là tiến trình hoạt động thực sự của bản thân chủ thể là HS, thời
gian chủ yếu phải giành cho hoạt động của HS.
Thiết kế bài giảng
(Giáo án)
Cấu trúc
tiết học
Cấu trúc bài
học Địa lí
Hình thức tổ
chức hoạt
động của
GV-HS
Phương
pháp-
phương tiện
dạy học Địa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14

Với nghĩa đó, có người đã nói “nghề dạy học không phải là một khoa học
mà còn là một nghệ thuật”.
Trong quá trình TKBG, người GV phải tổ chức sao cho các hoạt động
của GV và HS phải vừa đảm bảo lôgíc nội dung trí dục - thích hợp với thời
gian, vừa có một hiệu quả giáo dục và giáo dưỡng cao nhất. Người GV cần
phải biết phối hợp nhịp nhàng giữa việc HS tự tìm tòi, khám phá tri thức và sự
hướng dẫn chỉ đạo của GV sau mỗi hoạt động cụ thể. Đây là cách vận dụng
PPDH học một cách khoa học, hợp lí nhất.
1.1.1.2. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học
* Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay:
Chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng lớn: Cách
mạng khoa học - công nghệ và cuộc cách mạng xã hội. Những cuộc cách
mạng này đang phát triển như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng có trong
lịch sử loài người, thúc đẩy nhiều lĩnh vực có những bước tiến mạnh mẽ và
đang mở ra những triển vọng hết sức lớn lao. Các cuộc cách mạng này đòi hỏi
gia đình, nhà trường, xã hội phải đào tạo ra những con người mới có tri thức
khoa học công nghệ tiến tiến, có kĩ năng, kĩ xảo vững chắc, sáng tạo, thích
ứng được với yêu cầu mới của thời đại, có ý thức nghề nghiệp để giải quyết
“Trúng, nhanh, sáng tạo” các nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra. Ngoài ra còn đòi
hỏi con người phải có đầu óc khoa học, có trình độ học vấn cao, biết sử dụng
các quy luật tự nhiên và xã hội để xây dựng cuộc sống. Con người có tính
nhân bản cao, có ý thức chấp hành pháp luật, có tinh thần dân tộc, biết giữ gìn
và phát huy truyền thống, tinh hoa của dân tộc. Con người có cá tính và bản
sắc riêng, có ý chí, hoài bão, tự chủ, tự giác. Trong đó GD - ĐT giữ vai trò
then chốt trong việc xây dựng con người mới phát triển toàn diện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15


vấn đề’’. Nghị quyết TW 2 khoá VIII (12/1996) tiếp tục khẳng định : “ Đổi
mới mạnh mẽ phương pháp GD - ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều
kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS nhất là sinh viên đại học. Phát
triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong
toàn dân, nhất là thanh niên”. Đặc biệt định hướng đổi mới PPDH đã được
Đảng, Nhà nước ta thể chế hoá qua Luật Giáo dục (12/1980), được cụ thể hoá
trong các chỉ thị của Bộ GD - ĐT, đặc biệt chỉ thị số 15(4/1999).
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi rõ “ Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và
học là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010 đã khẳng định “ Tạo bước
chuyển cơ bản về mặt chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên
tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự
nghiệp phát triển KT-XH của đất nước, của từng vùng, từng địa phương, hướng
tới một xã hội học tập. Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng
tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực”.
Mục tiêu lớn được ngành GD - ĐT đặt ra trong đổi mới phương pháp
dạy và học hiện nay là một trong những mục tiêu chính. Chính vì vậy, đổi
mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết trong tất cả các cấp học ở nước ta hiện
nay. Việc đổi mới PPDH được thực hiện trong mối quan hệ mật thiết giữa các
thành tố của quá trình dạy học: Mục tiêu - Phương pháp - Nội dung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17


Sự dạy học tích cực chỉ có thể có hiệu quả và chất lượng cao khi có sự
cộng tác hết sức chặt chẽ, hợp lí giữa thầy và trò, trong đó thầy giữ vai trò chủ
đạo, trò giữ vai trò tích cực, tự lực làm sao cho quá trình dạy học là sự hoạt
động tương đồng và phối hợp của cả thầy và trò về mặt trí tuệ và thực hành
một cách mãnh liệt, đầy lôi cuốn.
PPDH tích cực thực chất là cách dạy hướng tới việc tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo chống lại thói quen học tập thụ động của HS. Dạy và học
tích cực là một trong những mục tiêu chung và cũng là tiêu chuẩn về giáo dục
hiệu quả, định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà
trường phổ thông.
Trong PPDH tích cực, nhiệm vụ của người GV là trở thành người thiết
kế, giúp học sinh có cơ hội phát huy tính chủ động (đến mức tối đa) trong
việc tiếp thu kiến thức và kĩ năng bộ môn. Nhiệm vụ truyền thống của người
GV trước đây là chuyền giao thông tin, nay được điều chỉnh và mở rộng thành
nhiệm vụ tạo ra các điều kiện học tập và hỗ trợ quá trình học tập của người
học. HS được thách thức trong quá trình tham gia tích cực tự học. Bản chất
của dạy học tích cực nằm trong khái niệm học như một quá trình tích cực và
kiến tạo, thông qua đó người học xây dựng mối quan hệ giữa thông tin mới và
những kiến thức, kĩ năng đã có.
Những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực có liên quan đến
vấn đề ứng dụng CNTT trong TKBG , có thể kể đến:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh.
- Dạy học chú trọng phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của giáo viên với sự tự đánh giá của học sinh.
Để thực hiện dạy học tích cực có hiệu quả phải sử dụng linh hoạt các
PPDH và các hoạt động học tập khác nhau, có sự liên kết giữa các PPDH
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status