Báo cáo đề tài:"GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO DỊCH VỤ SỬA CHỮA MÁY TÍNH TẬN NƠI CỦA CÔNG TY TNHH THÀNH DANH" pot - Pdf 15

LỜI MỞ ĐẦU
Kinh doanh dịch vụ là một ngành không mới ở Việt Nam nhưng trong giai
đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thế giới và trong nước đang chuyển dịch theo
hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp thì hoạt động trong ngành này lại càng có
nhiều áp lực cạnh tranh hơn. Các công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ dù lớn
hay nhỏ cũng đều phải tự hoàn thiện mình để có thể cạnh tranh được với các đối
thủ của mình. Trong ngành dịch vụ thì Marketing chiếm một vai trị vô cùng quan
trọng, Marketing sẽ tạo ra sự khác biệt cho những sản phẩm dịch vụ, tạo ra điểm
nhấn riêng cho công ty. Vì vậy, các công ty dịch vụ muốn đứng vững trong giai
đoạn hiện nay cần phải có một chiến lược marketing đúng đắn và phải ngày càng
hoàn thiện chiến lược đó để tồn tại và phát triển.
Lí do chọn đề tài:
• Thứ nhất, hiện tại công ty chưa có một chiến lược marketing cho dịch vụ
sửa chữa máy tính tận nơi hoàn chỉnh. Mà trong lĩnh vực dịch vụ thì một chiến
lược marketing hoàn chỉnh sẽ là yếu tố quyết định sự thành bại của công ty.
• Thứ hai, Chiến lược marketing này sẽ giúp khách hàng tin tưởng và nhận
biết thương hiệu công ty.
• Thứ ba, thông qua đề tài này sẽ giúp công ty có được một số giải pháp sơ
bộ về marketing.
Vì vậy nên em chọn đề tài: “GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC
MARKETING CHO DỊCH VỤ SỬA CHỮA MÁY TÍNH TẬN NƠI CỦA
CÔNG TY TNHH THÀNH DANH”
Mục tiêu nghiên cứu:
• Nêu lên thực trạng của công ty, những khó khăn thách thức mà công ty
đang gặp phải để công ty có thể khắc phục.
• Nêu lên điểm mạnh, điểm yếu của công ty so với các đối thủ cạnh tranh
để công ty có thể tranh thủ những điểm mạnh và hạn chế điểm yếu của mình để có
sức cạnh tranh tốt hơn đối thủ.
•Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để giúp công ty hoạt động cũng như
cạnh tranh tốt hơn trên thị trường.
Phương pháp nghiên cứu đề tài:

khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể
trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất.
Trên góc độ hàng hoá, dịch vụ là hàng hoá vô hình mang lại chuỗi giá trị
thoả mãn một nhu cầu nào đó của thị trường.
Từ quan niệm trên, chúng ta thấy rằng dịch vụ phải gắn với hoạt động để
tạo ra nó. Các nhân tố cấu thành dich vụ không như hàng hoá hiện hữu, chúng
không tồn tại dưới dạng hiện vật. Sản phẩm dịch vụ nằm trong trạng thái vật chất
hoặc vượt quá giới hạn vật chất lan vào các trạng thái tinh thần phi vật chất như
trạng thái tình cảm, ý thức. Ngày nay có trường phái cho rằng tất cả hàng hoá mua
và sử dụng ngay tại nơi sản xuất, khách hàng không mang theo được đều thuộc
dịch vụ.
Dịch vụ là một quá trình hoạt động, quá trình đó diễn ra theo một trình tự
bao gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau. Mỗi khâu, mỗi bước có thể là dịch vụ
nhánh hoặc dịch vụ độc lập với dịch vụ chính.
Mỗi loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng một giá trị nào đó. Giá trị
của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ. Giá trị ở đây thoả
mãn mong đợi của người tiêu dùng, nó có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm
và động cơ mua của dịch vụ. Những giá trị của hệ thống dịch vụ được gọi là chuỗi
giá trị. Chuỗi giá trị mang lại lợi ích tổng thể cho người tiêu dùng dịch vụ. Trong
chuỗi giá trị, có giá trị của dịch vụ chính do những hoạt động chủ yếu trong dịch
vụ tạo ra và mang lại lợi ích cơ bản cho người tiêu dùng. Tương tự, giá trị của dịch
vụ phụ do những hoạt động phụ trợ tạo nên và mang lại lợi ích phụ thêm. Đối với
cùng một loại dịch vụ có chuỗi giá trị chung thể hiện mức trung bình mà xã hội có
thể đạt được và được thừa nhận. Những vấn đề liên quan tới sản xuất cung ứng
dịch vụ:
+ Dịch vụ cơ bản: là hoạt động dịch vụ tạo ra giá trị thoả mãn lợi ích cơ bản
của người tiêu dùng đối với dịch vụ đó. Đó chính là mục tiêu tìm kiếm của người
mua.
+ Dịch vụ bao quanh: là các dịch vụ phụ hoặc các khâu của dịch vụ được
hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng. Dịch vụ bao quanh có

hệ thống, đều từ cấu trúc của dịch vụ cơ bản phát triển thành. Một sản phẩm dịch
vụ cụ thể gắn liền với cấu trúc của nó và là kết quả của quá trình hoạt động của hệ
thống cấu trúc đó.
+ Sản phẩm dịch vụ khĩ tồn trữ: dịch vụ khĩ thể tồn kho, khĩ thể cất trữ và
không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác. Dịch vụ khĩ thể tồn trữ
được như vậy nên việc sản xuất mua bán, tiêu dùng dịch vụ bị giới hạn bởi thời
gian. Cũng từ đặc điểm này mà làm mất cân đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa các
thời điểm khác nhau trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng.
1.1.1.3 Phân loại dịch vụ:
Phân loại dịch vụ là một công việc của Marketing và giữ vị trí rất quan
trọng trong kinh doanh dịch vụ. Sự phân loại dịch vụ giúp các nhà doanh nghiệp
xác định được chiến lược kinh do-anh đúng đắn và có hiệu quả đồng thời khai thác
triệt để các nguồn tài nguyên cho sản xuất cung ứng dịch vụ, thu hút khách hàng
và thoả mãn tối đa nhu cầu của họ.
Có các phương pháp phân loại sau:
+ Phân loại theo phương pháp loại trừ: Dịch vụ là một bộ phận của nền
kinh tế ngoài công nghiệp sản xuất hàng hoá hiện hữu, nông nghiệp và khai
khoáng. Như vậy, bất kì loại sản xuất nào không rơi vào ba ngành trên đều thuộc
dịch vụ, bao gồm:
- Thương mại
- Vận chuyển, phân phối, lưu kho
- Ngân hàng, bảo hiểm ……
- Phân loại theo mức độ liên hệ với khách hàng: hoạt động dịch vụ luôn có
sự liên hệ với khách hàng nhưng mức độ rất khác nhau. Vd:
+ Mức độ liên hệ cao: chăm sóc sức khoẻ, khách sạn gia thông công cộng,
nhà hàng, dịch vụ bất động sản…
+ Mức liên hệ thấp:
+ Phân loại theo mảng dịch vụ: phân loại dựa vào những đặc tính riêng biệt
của dịch vụ.
1.1.2. Marketing dịch vụ:

+ Giao tiếp cá nhân dịch vụ là sự tác động qua lại giữa khách hàng và nhân
viên cung ứng dịch vụ là quá trình tác động tương hỗ trong môi trường dịch vụ
nhất định cùng với những quy chế được chấp thuận ở cả hai phía. Đó là các hoạt
động tạo ra dịch vụ và chuyển cho khách hàng tiêu dùng. Hoạt động này quyết
định chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của khách hàng sau khi tiêu dùng.
+ Thị trường hoạt động Marketing dịch vụ. Có sáu loại thị trường mà các
nhà Marketing cần phải nghiên cứu, chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Trong
các thị trường đó phải sử dụng Marketing để thiết lập các mối quan hệ nhằm triển
khai và thực hiện tốt các chương trình của doanh nghiệp.
+ Thị trường khách hàng. Doanh nghiệp trước hết phải tập trung Marketing
vào thị trường khách hàng. Đó là nhu cầu của người mua đối với loại sản phẩm
nào đó. Mức tác động thấp nhất của Marketing vào thị trường này là xây dựng mối
quan hệ lâu dài với khách hàng và thu hút khách hàng mới
+ Thị trường chuyển giao. Thị trường này xuất hiện giữa doanh nghiệp và
các loại khách hàng của mình. Thị trường này được hình thành từ nội tại giữa các
dịch vụ thành phần, các dịch vụ phụ của hệ thống quá trình dịch vụ do nhiều thành
viên tham gia cung ứng. Họ phụ thuộc nhau, cung cấp dịch vụ cho nhau và cho
khách hàng. Do đó mức độ trung thành và sự thoả mãn của họ là yếu tố rất quan
trọng.
+ Thị trường cung cấp: ngày càng có nhiều biến đổi và trở nên rất quan
trọng không chỉ đối với dịch vụ mà còn đối với hàng hoá hiện hữu. Sản xuất hàng
hoá càng phát triển, phân công lao động càng sâu sắc, sự phụ thuộc lẫn nhau trong
sản xuất kinh doanh càng nhiều. Đó là nhân tố chủ yếu giúp thị trường này phát
triển. Hoạt động quan trọng của Marketing trên thị trường này là tổ chức cung cấp
nguồn lực. Đó là việc hình thành một số trung gian quan trọng, phat triển các mối
quan hệ với những nguồn lực cả hiện tại và tương lai.
+Thị trường tuyển dụng. Nguồn lao động có kĩ năng luôn cần thiết và bức
xúc trong chuyển giao dịch vụ. Đây là nguồn lực ngày càng khan hiến đối với các
tổ chức kinh do-anh dịch vụ và các tổ chức kinh doanh khác. Thị trường tuyển
dụng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố. Quan hệ cung cầu trong thị trường này

• Chất lượng hoạt động - mức độ mà tất cả các đơn vị của sản phẩm đều
hoạt động như nhau.
• Tính bền - tuổi thọ hoạt động dự kiến của sản phẩm dưới các điều kiện và
áp lực tự nhiên.
• Độ tin cậy - khả năng sản phẩm không bị trục trặc hay hư hỏng.
• Khả năng sửa chữa - khả năng sản phẩm có thể sửa chữa nếu bị hư hỏng.
• Phong cách - ấn tượng và cảm giác về sản phẩm.
• Thiết kế - cách mà tất cả các đặc tính nêu trên phối hợp với nhau (dễ sử
dụng, đẹp mắt, bền).
• Cũng có thể phân biệt sản phẩm bằng các đặc điểm khác biệt về dịch vụ
như sau:
• Dễ đặt hàng - mức độ mà khách hàng dễ đặt mua sản phẩm.
• Giao hàng - mức độ giao sản phẩm nhanh chóng và chính xác.
• Lắp đặt - mức độ thực hiện tốt công việc để làm cho sản phẩm có thể sử
dụng tại nơi chỉ định.
• Huấn luyện khách hàng - bất cứ thứ gì công ty cung cấp để huấn luyện
khách hàng sử dụng sản phẩm.
• Tư vấn khách hàng - bất cứ điều gì công ty tư vấn hay các dịch vụ nghiên
cứu cho khách hàng.
• Bảo dưỡng và sửa chữa - mức độ công ty giúp khách hàng duy trì sản
phẩm hoạt động tốt.
Trong thực tế, việc thiết kế một sản phẩm sẽ dựa trên sự hiểu biết sâu sắc
về những nhu cầu, mong muốn và khả năng sẵn sàng chi trả của khách hàng kết
hợp với việc nghiên cứu thị trường.
1.2.1.2 Quyết định về sản phẩm:
Quyết định về nhãn hiệu
Nhãn hiệu (Brand) là một cái tên, biểu tượng, dấu hiệu, hoặc kiểu thiết kế
hoặc kết hợp các yếu tố này để xác định hang hĩa, dịch vụ của một người bán hoặc
một nhĩm người bán cĩ phân biệt với hàng hĩa, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.
Nhãn hiệu giúp khách hàng dễ dàng nhận biết sản phẩm của doanh nghiệp

lược marketing cho riêng nó.
Để có một sản phẩm mới nhà quản trị phải đối mặt với một số quyết định
sau:
- Quyết định độ dài sản phẩm có nghĩa là doanh nghiệp có thể tăng độ dài
của sản phẩm bằng cách kéo giãn dòng sản phẩm hay lấp đầy dòng sản phẩm
- Quyết định hiện đại hóa dòng sản phẩm nhằm thu hút người tiêu dùng, tạo
chỗ đứng cho công ty trên thị trường
- Quyết định làm nổi bậc dịng sản phẩm bằng cách tạo ra những tính đặc
trưng cho sản phẩm nhằm làm cho sản phẩm của cơng ty đặc biệt hơn các sản
phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh
- Quyết định cắt tỉa dòng sản phẩm. Cắt tỉa sản phẩm được chia thành hai
trường hợp: cắt tỉa những sản phẩm có lợi nhuận suy giảm; cắt tỉa những sản phẩm
khả năng sản xuất hạn chế và cơng ty tập trung vào các sản phẩm cho lợi nhuận
cao hơn.
1.2.2 Giá:
Giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay dịch vụ
của nhà cung cấp. Việc định giá trong một môi trường cạnh tranh không những vô
cùng quan trọng mà còn mang tính thách thức. Nếu đặt giá quá thấp, nhà cung cấp
sẽ phải tăng số lượng bán trên đơn vị sản phẩm theo chi phí để có lợi nhuận. Nếu
đặt giá quá cao, khách hàng sẽ dần chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Quyết định về
giá bao gồm điểm giá, giá niêm yết, chiết khấu, thời kỳ thanh toán, v.v.
1.2.2.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng của giá:
Giá cả cĩ ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế, cơng ty kinh doanh
và cả trong tâm trí của khách hàng. Giá cả là yếu tố duy nhất tạo ra thu nhập
từ sản phẩm trong marketing.
Giá quyết định đến mức tăng trưởng của nền kinh tế, mức lợi n
huận cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và chi tiêu của khách
hàng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định giá:
1.2.2.2 Phương pháp định giá:

-Các yếu tố môi
trường khác(nền kinh
tế, chính phủ…)
Yếu tố bên trong:
-Mục tiêu marketing
-Chiến lược
marketing
-Chi phí
-Tổ chức định giá
- Đủ lượng khách hàng chấp nhận giá sao
- Chi phí sản xuất với quy mơ nhỏ khơng cao lắm
- Đối thủ cạnh tranh khó khăn trong việc cạnh tranh thị trường
Chiến lược giá thâm nhập thị trường (market penetration pricing) cơng ty
ấn định giá thấp với hy vọng sẽ hấp dẫn, thu hút được nhiều khách hàng nhằm
giành được một thị phần lớn. Việc ấn định giá thấp sẽ thuận lợi trong các điều kiện
sau:
- Thị trường rất nhạy cảm với giá cả, giá thấp sẽ mở rộng được thị trường
- Chi phí sản xuất tỷ lệ nghịch với sản lượng
- Giá thấp sẽ khơng kích thích đối thủ cạnh tranh
 Chiến lược giá cho hỗn hợp sản phẩm:
Định giá cho dịng sản phẩm (product line pricing)
Định giá sản phẩm tự chọn (optional product pricing)
Định giá sản phẩm kèm theo (captive product pricing)
Định giá thứ phẩm hay sản phẩm phụ (by product pricing)
Đặt giá sản phẩm (product – bundle pricing)
 Điều chỉnh giá:
Giảm giá (discound pricing and allowances) nhiều công ty áp dụng nhằm
kích thích khách hàng trong các trường hợp:
- Thanh toán sớm
- Mua số lượng lớn

- Do khả năng tiêu thụ khơng cao, thị phần bị suy giảm
- Do muốn khống chế thị trường
- Chiến tranh về giá
Tăng giá: việc tăng giá có thể ảnh hưởng không tốt cho việc bán hàng
nhưng việc tăng giá thành công có thể gia tăng lợi nhuận một cách đáng kể.
1.2.3 Phân phối:
1.2.3.1 Định nghĩa kênh phân phối
Kênh phân phối là một tập hợp các công ty và cá nhân có tư cách tham gia
vào quà trình lưu chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu
dung.
Việc phân phối đề cập đến địa điểm bán hàng và đưa sản phẩm hay dịch vụ
đến với khách hàng. Địa điểm phân phối có thể là một cửa hàng bán lẻ, một mạng
lưới phân phối toàn quốc, một website thương mại điện tử, hay một catalog gửi
trực tiếp đến khách hàng. Việc cung cấp sản phẩm đến nơi và vào thời điểm mà
khách hàng yêu cầu là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của bất kỳ kế
hoạch marketing nào.
Các chức năng kênh phân phối: Nghiên cứu - Chiêu thị - Tiếp xúc - Làm
thích ứng - Đàm phán - Kho vận - Đầu tư - Chấp nhận rủi ro
1.2.3.2 Hệ thống tổ chức kênh phân phối:
Kênh phân phối truyền thơng: gồm các nhà sản xuất, bán lẽ hoạt động độc
lập nhau để tìm kiếm khả năng tối đa hóa lợi nhuận một cách riêng lẻ cho dù điều
này có thể giảm lợi nhuận cho tổng thể. Không một thành viên nào có thể kiểm
soát các thành viên cịn lại cũng như không có những ràng buộc về giá trị và trách
nhiệm trong giải quyết các tranh chấp.
Hệ thống kênh phân phối dọc – VMS (vertical marketing channel) gồm nhà
sản xuất, một hay nhiều nhà bán sỉ, và một hay nhiều nhà bán lẻ hoạt động như
một hệ thống thống nhất. Trong trường hợp này, một thành viên của kênh có thể là
chủ của các thành viên khác, hoặc là dành cho họ những quyền uy đãi trong buôn
bán, hoặc có đủ sức đảm bảo họ phải hợp tác tồn diện. Trong hệ thống này, lực
lượng chủ đạo có thể là người sản xuất, người bán sĩ, hoặc người bán lẻ. Hệ thống

và thực hiện giao dịch mua bán thật sự. Những hoạt động này bao gồm quảng cáo,
catalog, quan hệ công chúng và bán lẻ, cụ thể là quảng cáo trên truyền hình, đài
phát thanh, báo chí, các bảng thông báo, đưa sản phẩm vào phim ảnh, tài trợ cho
các chương trình truyền hình và các kênh phát thanh được đông đảo công chúng
theo dõi, tài trợ cho các chương trình dành cho khách hàng thân thiết, bán hàng
qua điện thoại, bán hàng qua thư trực tiếp, giới thiệu sản phẩm tận nhà, gởi catalog
cho khách hàng, quan hệ công chúng v.v
1.2.4.2 Thành phần của chiêu thị:
Quảng cáo: là hình thức giới thiệu những ý tưởng, sản phẩm tới thị trường
mục tiêu thơng qua các phương tiện không phải là con người.
Khuyến mãi: gồm nhiều cơng cụ thường là ngắn hạn nhằm mục đích kích
thích việc mua hàng nhanh chóng cho sản phẩm nào đó. Khuyến mãi hỗ trợ cho
quãng cáo và tạo điều kiện cho khách hàng cá nhân.
Quan hệ cộng đồng: khai thác sự chú ý của quần chúng về một sự kiện xã
hội hoặc thể thap để tạo ấn tượng cho sản phẩm. Nhằm xây dựng mối quan hệ tốt
với quần chúng để nhận được sự ủng hộ của cộng đồng và xây dựng ấn tượng tốt
về doanh nghiệp.
Chào hàng cá nhân: tiếp xúc cá nhân với khách hàng để trình bày trực tiếp
sản phẩm một cách sống động, thuyết phục và lơi cuốn sự chú ý của khách hàng.
Marketing trực tiếp: là các hoạt động marketing thực hiện thông qua thư từ
hay catalog, có nhiều phương tiện thơng tin trực tiếp như điện thoại, thư điện tử,…
được sử dụng rất phổ biến để thơng đạt với người tiêu dung thị trường mục tiêu.
1.2.4.3 Các công cụ của chiêu thị:
Quảng cáo: in ấn, pano, bao bì, tờ bướm, áp phích, biểu tượng & logo.
Khuyến mãi: các cuộc thi, trị chơi, quà tặng, phát dung thử, hội chợ triển
lãm, phiếu thưởng, chiết khấu, mua trả gĩp.
Quan hệ công chúng: hội thảo, cơng tác từ thiện, tài trợ các chương trình.
Chào hàng cá nhân: trình bày khi bán hàng, hội chợ bán hàng, chương trình
cổ động, hàng mẫu.
1.2.5 Con người:

nhà cung cấp và khách hàng tương tác với nhau. Một vài tác giả khác cho rằng yếu
tố hữu hình là nhân tố riêng biệt trong marketing mix, chỉ là một yếu tố phụ của
nhân tố sản phẩm trong marketing mix. Tuy nhiên yếu tố hữu hình này nên được
nhận ra và được chú ý nhiều hơn như là một nhân tố chính trong marketing mix.
Yếu tố hữu hình có thể chia làm 2 loại: thiết yếu và ngoại vi. Yếu tố thiết
yếu miêu tả quyết định chủ chốt được đưa ra bởi nhà cung cấp dịch vụ về thiết kế
và layout của một toà nhà. Những điều này có thể được sử dụng để công thêm một
cách đáng kể xung quanh sản phẩm.Yếu tố hữu hình ngoại vi có giá trị ít trên tổng
thể của nó.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DO-ANH
VÀ HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY TRONG
LĨNH VỰC SỬA CHỮA MÁY TÍNH TRONG 3 NĂM GẦN
ĐÂY
2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY:
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:
Công ty TNHH Tư Vấn Nghiên Cứu & Phát Triển Thành Danh được thành
lập từ năm 2001 với số vốn điều lệ là 1 tỷ VNĐ.
Công ty có trụ sở đặt tại: 764/2 Quang Trung, P. 11, Quận Gị Vấp
Giấy phép hoạt động số: 0310534467, do Phòng Đăng Ký Kinh Doanh thuộc Sở
Kế Hoạch và Đầu Tư Tp.HCM cấp ngày 23/12/2010.
Email: [email protected]
Số điện thoại: 0977007930
Tên người Đại diện Pháp luật: Lê Minh Thành
Trải qua 9 năm hoạt động, công ty đã phát triển từ một công ty có quy mô
rất nhỏ, khoảng 10 nhân viên lên thành một công ty có quy mô lớn hơn là có 35
nhân viên: phòng kỹ thuật: 12 người, phòng kế toán: 3 người, phòng kinh doanh: 5
người, phòng phần mềm: 5 người, phòng Marketing: 3 người, vị trí quản lý: 2
người, các bộ phận khác: 5 người. Tất cả các nhân viên đều tốt nghiệp cao đẳng
trở lên, có kinh nghiệm trong vị trí làm việc của mình, rất cầu tiến và hết lòng vì

Phòng
Phần
Mềm
Phòng
Marketing
Phòng
hóa
phẩm
+ Phòng phần mềm : Ngoài việc thiết kế phần mềm cho công ty và hỗ trợ
các nhân viên ở các phòng ban khác về những phần mềm ứng dụng mới. Phòng
phần mềm còn phụ trách việc thiết kế các phần mềm theo yêu cầu của khách hàng,
thiết kế trang web cho các doanh nghiệp
+ Phòng Marketing: Mục đích của Phòng Marketing là tập hợp các chiến
lược cho bốn thành phần của Marketing Mix nhằm đảm bảo doanh thu hàng năm,
phát triển các dịch vụ mới, tăng doanh số bán hàng và mở rộng thị trường. Phòng
Marketing sẽ lập kế hoạch và triển khai các hoạt động quảng cáo, các chương trình
khuyến mãi, tài trợ… cho các sản phẩm, dịch vụ cung ứng của công ty trên thị
trường. Lập kế hoạch và triển khai các hoạt động chăm sóc khách hàng và phát
triển khách hàng mới.
2.1.3. Mục tiêu, tầm nhìn, sứ mạng:
2.1.3.1 Mục tiêu:
 Ngắn hạn:
• Tạo niềm tin và thỏa mãn của khách hàng về thương hiệu.
• Đạt doanh số ít nhất 50 hợp đồng trong dịp khuyến mãi. 30 hợp đồng kể
từ tháng thứ 2 đối với khách hàng tổ chức. Duy trì mức tăng 20% hợp đồng trong
vòng 6 tháng
• Đạt doanh số 500 PC trong tháng khuyến mãi. 300 PC đối với khách hàng
cá nhân. Duy trì với mức tăng 20% trong vòng 6 tháng.
• Phát triển hệ thống khách hàng thân thuộc bằng hệ thống database
 Dài hạn: ( đến năm 2020)

vụ cho các hoạt dộng đối nội cũng như đối ngoại của doanh nghiệp, từ chức năng
chia sẻ tập tin và máy in, làm máy chủ phục vụ hệ thống trao đổi thông tin cho đến
máy chủ phục vụ các ứng dụng chuyên biệt.
Ngoài ra, công ty còn cung cấp các thiết bị lưu trữ dữ liệu, từ các thiết bị ghi đĩa
compact disk cho đến các thiết bị đọc đĩa quang/ từ, cũng như máy vi tính, các
thiết bị ngoại vi như máy in, máy quét, linh kiện, các loại mực in chính hiệu…
Công ty còn cung cấp dịch vụ sửa chữa máy vi tính tận nơi cho cá hộ gia đình và
các tổ chức.
2.1.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty từ
2007- 2009:
Đơn vị tính: đồng
Danh mục Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2008/2007
Doanh thu 2.356.980.050 3.545.975.088 Tăng 50.45%
Chi phí 456.852.100 583.666.351 Tăng 27.76%
Lợi nhuận trước thuế 4.593.2023 55.362.886
Lợi nhuận sau thuế 20.254.301 39.861.278 Tăng 96.80%
( Nguồn: Phòng Kế Toán)
Đơn vị tính: đồng
Danh mục Năm 2008 Năm 2009 So sánh 2009/2008
Doanh thu 3.545.975.088 6.344.148.106 Tăng 78.91%
Chi phí 583.666.351 717.272.887 Tăng 22.89%
Lợi nhuận trước thuế 55.362.886 276.607.381
Lợi nhuận sau thuế 39.861.278 228.201.090 Tăng 472.49%
( Nguồn: Phòng Kế Toán)
BIỂU ĐỒ DOANH THU
( Nguồn: Phòng Kế Toán)
Nhìn vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm, doanh thu
của công ty tăng rất nhanh qua các năm. Năm 2008 tăng 50.45% so với năm 2007,
đặc biệt là năm 2009 tăng rất mạnh, tăng tới 78,91% so với năm 2008. Điều này
cho thấy dấu hiệu kinh doanh rất tốt, hiệu quả từ phía công ty. Tuy công ty hoạt

vụ sửa chữa với phương châm : “ cung cấp một dịch vụ có mức giá cạnh tranh với
chất lượng tốt”.
- Để làm được điều này, công ty đã bỏ ra chi phí lúc đầu là khá lớn, đã phải chịu lỗ
trong 5 năm đầu tiên. Vì nếu công ty đưa ra mức giá sửa chữa bằng hoặc cao hơn
các đối cạnh tranh của mình thì khó mà lôi kéo được các khách hàng, vì công ty
các đối thủ đã thành lập từ lâu, có uy tín, có nguồn vốn lớn, có khách hàng thân
thiết. Cộng thêm vào đó, đặc điểm của ngành dịch vụ là phải cho khách hàng trải
nghiệm thì khách hàng mới tin tưởng sử dụng, nên công ty đã có thời kì đưa ra các
chương trình khuyến mãi là sẽ được sửa chữa miễn phí, để khách hàng có thể trải
nghiệm chất lượng của những sản phẩm mà công ty cung cấp.
Đơn vị tính: đồng
STT Vị trí Số lượng Tiền/máy/lần
Khách lẻ
1 PC 1 65,000
2 Laptop 1 95,000
3 Máy in 1 35,000
Văn phòng

Trích đoạn Đơn vị tính: đồng Loại máy Số lượng (cái) Đơn giá (1 cái) Về chiến lược Marketing dịch vụ: Môi trường vi mô:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status