LUẬN VĂN: Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay pot - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng
xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài
Định hướng XHCN là một vấn đề được Đảng ta chính thức nêu ra từ Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991). Suốt từ đó cho tới nay, Đảng và Nhà
nước ta đã có nhiều cố gắng trong sự lãnh đạo và quản lý đất nước, nhằm bảo đảm định

xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" Luận án PTS của
Dương Thị Liễu; Hà Nội, 1996.
- "Về nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Một số vấn đề về lý luận và thực
tiễn ở nước ta hiện nay" Luận án TS của Phạm Ngọc Minh, Hà Nội, 2000.
Bên cạnh những công trình chuyên khảo về vấn đề này, như đã nêu trên, các tạp
chí "Cộng sản", "Triết học", "Nghiên cứu Lý luận", "Thông tin Lý luận"… Cũng đã
xuất hiện nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu đề cập tới việc phát huy vai trò
nhân tố chủ quan như:
- "Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc nước ta" của Dương Phú Hiệp, tạp chí Triết học số 2/1973.
- "Vị trí và vai trò của nhân tố chủ quan trong cơ chế tác động của quy luật xã
hội" của Phạm Văn Đức, tạp chí Triết học số 3/1989.
- "Những yếu tố cơ bản làm tăng cường chất lượng của nhân tố chủ quan trong
xây dựng chủ nghĩa xã hội" của Trần Bảo, tạp chí Triết học số 3 tháng 9/1991.
- "Xu hướng và các nhân tố bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế nhiều
thành phần" của Nguyễn Chí Mỹ, tạp chí Cộng sản số 10/5/1997 v.v
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây rất có giá trị , các tác giả nghiên
cứu đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của điều kiện khách quan và nhân tố chủ
quan trong quá trình phát triển xã hội nói chung và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
nói riêng.
Tuy nhiên cho tới nay, vẫn chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu có tính
hệ thống vai trò nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Vì vậy, tác giả luận văn mạnh dạn đi sâu vào tìm
hiểu nghiên cứu vấn đề này. Với mong muốn có những đóng góp nhất định về phương

diện lý luận và thực tiễn, góp phần vào việc xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng
nhân tố chủ quan, nhằm giữ vững định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần ở nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Luận văn có mục đích: Trên cơ sở làm rõ vai trò nhân tố chủ quan trong

và giảng dạy bộ môn triết học trong các trường chính trị tỉnh thành.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn bao gồm 2 chương 4 tiết.

Chương I
Nhân tố chủ quan và vai trò của nó đối với việc
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
ở nước ta hiện nay

1.1. Nhân tố chủ quan và vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội
1.1.1. Khái niệm: "Nhân tố chủ quan", "Điều kiện khách quan"
Khái niệm nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan được hình thành và phát
triển trong quá trình nghiên cứu hoạt động thực tiễn của con người. Do vậy, để làm sáng
tỏ nội dung của các khái niệm đó, đòi hỏi phải đề cập tới các khái niệm có liên quan tới
hoạt động của con người. Đó là những khái niệm: "chủ thể", "khách thể".
Khái niệm "chủ thể": trong hoạt động tác động và cải tạo thế giới khách quan,
con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh khách quan; đồng thời là chủ thể của hoạt động
cải tạo hoàn cảnh khách quan, từ đó hình thành nên khái niệm chủ thể. Đây là một khái
niệm đã được nhiều nhà triết học quan tâm nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, các
nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về nội dung của khái
niệm này như:
Có người cho rằng: "Chủ thể" là con người (cá nhân hoặc nhóm ) tiến hành
hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn 59, tr. 92 .
Cũng có người hiểu: "chủ thể là con người có ý thức và ý chí, và đối lập với
khách thể bên ngoài" 60, tr. 192 .
Qua những quan niệm khác nhau trên đây cho thấy: tùy theo cấp độ xem xét,
chủ thể có thể là cả loài người, có thể là một nhóm, một giai cấp, một đảng phái Đang
thực hiện một quá trình hoạt động nhằm cải tạo khách thể tương ứng.
Kế thừa những cách hiểu trên, trong luận văn này chúng tôi quan niệm:

vào chủ thể song khách thể không đối lập trừu tượng với chủ thể. Vì nó chính là đối
tượng mà chủ thể luôn luôn hướng vào cải tạo bằng hoạt động có ý thức của mình.

Khi xem xét hoạt động của con người, người ta không chỉ nghiên cứu các khái
niệm chủ thể và khách thể; mà còn quan tâm tới khái niệm "nhân tố chủ quan" và "điều
kiện khách quan". Bởi vì các khái niệm điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan được
dùng để chỉ mối quan hệ giữa hoạt động có ý thức của con người và hoàn cảnh mà trong
đó con người hoạt động.
Khái niệm nhân tố chủ quan không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm chủ thể.
Hiện nay trên sách, báo, tạp chí nghiên cứu xuất hiện nhiều những quan niệm khác nhau
về khái niệm nhân tố chủ quan.
Chẳng hạn, trong khi nghiên cứu khái niệm "nhân tố chủ quan", có tác giả đồng
nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có ý thức của con người nói chung. "Nhân tố chủ
quan trong sự phát triển xã hội là hoạt động có ý thức của những con người, những giai
cấp, những chính đảng sáng tạo ra lịch sử " 36, tr. 18. Cũng có tác giả lại giới hạn và
đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người. Như vậy, nhóm quan
niệm nêu trên thường nhấn mạnh đặc trưng sáng tạo của ý thức, tư tưởng, nhấn mạnh
vai trò của ý thức trong việc phản ánh điều kiện khách quan.
Những quan niệm trên đây có nhiều giá trị và tính hợp lý, vì đã chỉ ra vai trò của
ý thức, tính tự giác trong hoạt động của con người. Nhưng, nếu đồng nhất nhân tố chủ
quan với hoạt động có thức của con người; hoặc giới hạn nhân tố chủ quan với hoạt động
tự giác của con người, thì theo chúng tôi chưa thật đầy đủ và như vậy dễ dẫn đến tình
trạng "chủ quan hóa" hoạt động của con người. Bởi vì, hoạt động của con người không
chỉ thuần túy thuộc về nhân tố chủ quan mà còn bị chi phối và quy định của điều kiện
khách quan.
Ngoài những quan niệm nêu trên, còn có quan niệm đồng nhất nhân tố chủ quan
với ý thức của chủ thể hoạt động. Về quan niệm này, A.K.Uleđôp đã nhận xét và phê phán
một cách xác đáng, rằng:
Nhiều phẩm chất tư tưởng, tâm lý xã hội, đạo đức của các tập đoàn
xã hội, của các giai cấp và các tổ chức của nó, của các dân tộc là nằm trong

thực tiễn cải tạo các khách thể xác định. Tổng hợp toàn bộ những nội dung đó tạo thành
khái niệm nhân tố chủ quan. Nhấn mạnh điều đó tác giả V.N Lavrineko cho rằng:

Nhân tố chủ quan trong quá trình lịch sử là những khả năng khác
nhau của con người mà bằng sự tác động của mình, đã đem lại sự biến đối
trong những mặt nhất định của đời sống xã hội. Điều quan trọng nhất cấu
thành nhân tố chủ quan là ý thức và nói chung là đời sống tinh thần của con
người, những kỹ năng, kỹ xảo và thói quen của họ trong hoạt động sản xuất,
kinh nghiệm xã hội, trình độ văn hóa và đồng thời là những phẩm chất ý chí
của họ: Tính tổ chức trong hoạt động của con người có một ý nghĩa to lớn
35, tr. 20.
Từ những nội dung phân tích trên đây cho thấy, giữa nhân tố chủ quan và chủ
thể có sự thống nhất, nhưng không đồng nhất với nhau. Sự thống nhất giữa khái niệm
"chủ thể" và "nhân tố chủ quan" được thể hiện ở chỗ: nhân tố chủ quan là thuộc về chủ
thể. Còn giữa các khái niệm này có sự khác nhau và tính độc lập tương đối, vì nhân tố
chủ quan, là khái niệm để chỉ những yếu tố, đặc trưng cấu thành phẩm chất của chủ thể,
được chủ thể huy động và trực tiếp tạo ra năng lực, cũng như động lực của chủ thể
nhằm để biến đổi khách thể cụ thể. Với quan niệm như trên, chúng tôi hiểu: Nhân tố chủ
quan là những gì thuộc về chủ thể và tham gia trực tiếp vào một hoạt động cụ thể của
chủ thể cũng như bản thân sự hoạt động đó.
Với quan niệm về khái niệm nhân tố chủ quan nêu trên, theo chúng tôi, cấu trúc
của nhân tố chủ quan, bao gồm các nhân tố sau đây:
Thứ nhất: ý thức của chủ thể là nhân tố cấu thành nội dung khái niệm nhân tố
chủ quan. Song điều đáng lưu ý ở đây, không phải toàn bộ ý thức nói chung của chủ thể
là nhân tố chủ quan. ý thức của chủ thể tồn tại với tư cách là yếu tố của nhân tố khách
quan là bộ phận ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và là phương châm của
hoạt động, nói cách khác là ý thức đã biến thành đặc điểm nhất định của hành vi, của
hoạt động của chủ thể 35, tr. 19.
Thứ hai: Nói tới nhân tố chủ quan là nói tới hoạt động có ý thức của chủ thể
(con người cụ thể, của giai cấp, của chính đảng ) để sáng tạo ra lịch sử; là nói tới


- Những điều kiện khách quan là tất cả những gì tạo nên một hoàn cảnh hiện
thực quy định và tác động lên mọi hoạt động của chủ thể, tồn tại không phụ thuộc vào ý
chí của chủ thể hoạt động 4, tr. 19.
- Điều kiện khách quan là tổng thể các mặt, các nhân tố tạo nên một hoàn cảnh
hiện thực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể và tác động vào hoạt động của chủ thể
trong hoàn cảnh cụ thể đó 35, tr. 12.
- Điều kiện khách quan là những yếu tố tạo nên một hoàn cảnh hiện thực tồn tại
bên ngoài, độc lập với chủ thể đang hoạt động ở những thời điểm cụ thể nhất định và có
tham gia vào việc quy định kết quả hoạt động của chủ thể 36, tr. 16.
Kế thừa những quan niệm đó, chúng tôi hiểu: Điều kiện khách quan là tổng thể
các mặt, các yếu tố, các mối quan hệ tồn tại ở bên ngoài chủ thể, độc lập với chủ thể,
hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động, quy định hoạt động của
chủ thể trong mỗi hoạt động xác định.
Từ khái niệm điều kiện khách quan như chúng tôi đã nêu trên cho thấy: Điều
kiện khách quan đó là hoàn cảnh chủ thể tồn tại và hoạt động, nó quyết định hoạt động
của chủ thể. Bởi vì "Bất kỳ một hoạt động nào của chủ thể cũng có thể được thực hiện
khi có những điều kiện nhất định. Những điều kiện đó đóng vai những tiền đề của hoạt
động" 61, tr. 71-72.
Xét về các yếu tố cấu thành điều kiện khách quan, trước hết phải nói đến những
điều kiện vật chất tạo nên một hoàn cảnh hiện thực, độc lập với chủ thể xác định và quy
định hoạt động của chủ thể đó. Nếu như các điều kiện vật chất bao giờ cũng là những
điều kiện khách quan xét trong mối tương quan chung với ý thức, song điều kiện khách
quan được xác định cụ thể lại không phải chỉ là những điều kiện vật chất mà còn bao
gồm cả những yếu tố thuộc lĩnh vực ý thức, tư tưởng. Những hiện tượng tinh thần, ý
thức tồn tại khách quan đối với một chủ thể cụ thể, ảnh hưởng đến hoạt động của chủ
thể, đó cũng là yếu tố cấu thành điều kiện khách quan.
Như vậy những yếu tố vật chất và tinh thần tư tưởng tồn tại khách quan với chủ
thể cụ thể, cấu thành hoàn cảnh và tác động đến hoạt động của chủ thế đó đều là những
bộ phận cấu thành điều kiện khách quan.


và sự tác động sáng tạo trở lại của nhân tố chủ quan đối với điều kiện khách quan, đó là:
Dựa trên năng lực nhận thức của mình, chủ thể xem xét, đánh giá điều kiện khách quan,
từ đó chủ thể đặt ra phương hướng, phương thức để thực hiện nhiệm vụ đã đặt ra. Ngoài
ra, nhân tố chủ quan, bằng hoạt động thực tiễn, chủ thể đã cải tạo điều kiện, hoàn cảnh
khách quan; tạo ra những điều kiện khách quan thuận lợi cho hoạt động của mình. Thực
chất vai trò nhân tố chủ quan ở đây, là sự phát hiện ra những khả năng khách quan, trên
cơ sở những điều kiện, phương tiện vật chất vốn có của hoàn cảnh khách quan để biến
đổi hoàn cảnh theo quy luật vận động vốn có của nó.
1.1.2. Vai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội
Lịch sử xã hội là lịch sử của con người, do con người. Hành động làm nên lịch
sử xã hội đầu tiên của con người, đó là con người tiến hành cải tạo thế giới tự nhiên
nhằm đáp ứng những nhu cầu của mình. Khẳng định điều đó, trước đây Lênin đã từng
chỉ ra: "Thế giới không thỏa mãn con người và con người quyết định biến đổi thế giới
bằng hành động của mình" [28, tr. 229]. Chính bằng hoạt động cải tạo tự nhiên, con
người đã xác lập nên mối quan hệ khách quan giữa con người với con người trong việc
cải tạo tự nhiên, từ đó tạo ra các quan hệ xã hội của con người và tạo thành xã hội. Do
đó "xã hội với tính cách là hệ thống là tổng thể những hình thức hoạt động khác nhau
của con người, các quan hệ xã hội" [61, tr.106].
Xã hội ra đời không ngừng vận động và phát triển, quá trình phát triển đó bao
giờ cũng sự thống nhất biện chứng giữa cái khách quan và cái chủ quan, giữa điều kiện
khách quan và nhân tố chủ quan. Trong sự tác động lẫn nhau giữa điều kiện khách quan
và nhân tố chủ quan, điều kiện khách quan bao giờ cũng giữa vai trò quyết định. Tuy
nhiên điều đó không có nghĩa, nhân tố chủ quan hoàn toàn thụ động và lệ thuộc vào
điều kiện khách quan mà nó có thể chuyển được các điều kiện khách quan thành nội
dung hoạt động tự do sáng tạo của mình. Chính vì vậy nhân tố chủ quan có vai trò to lớn
trong tiến trình phát triển của lịch sử [35, tr. 24]. Vai trò nhân tố chủ quan đối với quá
trình phát triển của xã hội biểu hiện ở chỗ, bằng hoạt động có ý thức; bằng tính tích cực
và tự giác của mình các chủ thể lịch sử nhận thức những điều kiện khách quan; quy luật


khách quan của xã hội tương ứng với những điều kiện khách quan ấy. Ví dụ, trong đời
sống xã hội, trong điều kiện còn tồn tại một số người này có tư liệu sản xuất, còn một số
người khác thì hoàn toàn không có (hoặc có không đáng kể) và đồng thời được tự do về
mặt pháp luật, thì hai loại người ấy nhấn định có quan hệ với nhau với tính cách là nhà
tư bản và công nhân làm thuê. Do vậy, tất yếu quy luật giá trị thặng dư thực hiện trong
những quan hệ ấy.
Từ những nội dung trên đây chỉ ra, quy luật khách quan trong sự phát triển của
xã hội không phải hoàn toàn bất biến, nó sẽ bị thay đổi mức độ phát huy tác dụng của
nó khi điều kiện khách quan bị thay đổi. Vì vậy vai trò nhân tố chủ quan trong sự phát
triển của xã hội là ở chỗ, nhân tố chủ quan biết vận dụng những điều kiện khách quan
này, để xóa bỏ điều kiện khách quan khách theo những quan hệ tất yếu, vốn có trong sự
phát triển của hiện thực khách quan. Từ đó làm mất hiệu lực của một quy luật khách
quan nhất định làm cho quy luật khách quan mới phát huy tác dụng. Tức là căn cứ vào
lợi ích của thực tiễn, chủ thể có thể đẩy mạnh, hoặc ngược lại kìm hãm tác dụng của
một quy luật nào đó hay của cả một loạt quy luật. Điều đó cũng có nghĩa, trong quá
trình hoạt động thực tiễn của các chủ thể lịch sử, bằng năng lực chủ quan của mình đã
nẩy ra những phương pháp nhấn định về việc sử dụng, áp dụng những quy luật khách
quan. Khi thay đổi những điều kiện khách quan, thì có thể hướng dẫn, thay đổi hoặc
ngăn ngừa sự phát huy tác dụng của các quy luật.
Sự vận động và phát triển của xã hội biểu hiện trên những nấc thang của nó,
tương xứng với mỗi nấc thang phát triển là một chế độ kinh tế - xã hội. Trong mỗi chế
kinh tế - xã hội cùng tồn tại và phát huy tác dụng của nhiều quy luật khách quan, trong
đó vai trò phát huy tác dụng của các quy luật khách quan đối với chế độ kinh tế - xã hội
đó không phải là ngang nhau. Ngoài ra, trong đời sống xã hội, quy luật xã hội bao giờ
cũng tác động lẫn nhau với quy luật tự nhiên. Quy luật của tự nhiên ảnh hưởng đến xã
hội thông qua tác dụng của chính quy luật xã hội. Như vậy, vai trò nhân tố chủ quan còn
được thể hiện ở chỗ, dựa trên năng lực nhận thức các quy luật khách quan (tự nhiên - xã
hội), các chủ thể điều chỉnh một cách tự giác sự tác động tổng hợp của nhiều quy luật

khách quan, làm cho các quy luật phát huy tác dụng có lợi nhất đối với chủ thể. Nhân tố

hoạt động của mình, các chủ thể bảo đảm một cách tự giác và có mục đích cho các quy
luật khách quan, những khả năng khách quan phát huy tác dụng và được hiện thực hóa
theo một chiều hướng nhất định. Quá trình phát triển của xã hội phải xuất phát, dựa trên
những điều kiện khách quan, nhưng những điều kiện khách quan chỉ thực sự trở thành
nhân tố động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội khi có được sự phát huy vai trò to lớn
của nhân tố chủ quan.
1.2. Vai trò nhân tố chủ quan trong việc bảo đảm định hướng xã hội chủ
nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta
Từ một nền kinh tế thuần nhất về thành phần và chế độ sở hữu chuyển qua kinh
tế nhiều thành phần và đa dạng sở hữu; Từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển
quan cơ chế thị trường; Từ một nền kinh tế đóng cửa chuyển qua nền kinh tế mở cửa
với bên ngoài - Đó là sự chuyển hướng lớn lao, một sự thay đổi sâu sắc trong xây dựng
nền kinh tế ở nước ta. Nhưng toàn bộ sự chuyển hướng đó, không phải là chúng ta đã
thay đổi mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và thực hiện suốt
mấy thập kỷ qua. Sự thay đổi đó, chỉ là sự thay đổi về biện pháp; về bước đi để chúng ta
càng có khả năng sớm đến với mục tiêu XHCN.
1.2.1. Phát triển theo hướng XHCN - một khả năng khách quan của nền
kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay
Cách mạng XHCN tháng Mười năm 1917 thành công đã mở ra một thời đại
mới: thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
Ngày nay, tuy CNXH đang lâm vào một thời kỳ khủng hoảng, thoái trào, nhiều
mô hình CNXH hiện thực đã bị đổ vỡ. Nhưng không phải vì thế mà tính chất của thời
đại đã thay đổi. Khẳng định điều đó, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Đảng ta cho rằng: "Loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội" [13, tr. 76].
Nền kinh tế còn nghèo so với thế giới và khu vực. Vì vậy, cũng phải thấy rằng,
chúng ta lựa chọn con đường phát triển của đất nước theo con đường XHCN trong dòng

chảy lịch sử tự nhiên, với những quy luật vốn có của nó, là sự lựa chọn đúng đắn, nhưng
hết sức khó khăn. Biện chứng của cuộc sống đã tạo ra một thời đại mới, với những khả

tâm. Các thành tựu, các phát minh khoa học đã nhanh chóng được ứng dụng vào quá
trình sản xuất; vào quá trình đổi mới công nghệ. Do vậy, khoa học đã mở ra khả năng to
lớn cho phép con người, các quốc gia dân tộc, bằng ứng dụng những quy trình công
nghệ hiện đại, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nâng trình độ phát
triển quá trình sản xuất của xã hội lên một trình độ mới về chất.
Bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của nền sản xuất xã hội thể hiện ở
chỗ, nó đã thúc đẩy lực lượng sản xuất thế giới bước vào một thời kỳ phát triển cao
chưa từng có, sự phát triển đó được thực hiện trên tất cả các yếu tố cấu thành lực lượng
sản xuất. Trong đó, nhất là yếu tố người lao động. Đội ngũ người lao động ngày nay đòi
hỏi phải có hàm lượng trí tuệ cao; có chuyên môn cơ bản. Sự chuyển hóa về chất của
lực lượng sản xuất kéo theo nó hàng loạt các chuyển biến khác về lao động sản xuất của
con người ngay cả trong sản xuất cũng như khâu tổ chức và quản lý nền sản xuất. Từ đó,
tạo ra những phương hướng, cách thức mới cho mọi quốc gia trong việc lựa chọn con
đường phát triển kinh tế của mình, nhất là việc lựa chọn cách thức khai thác các nguồn
lực cho phát triển kinh tế. Trong đó nguồn lực người lao động được xác định là một
trong các nguồn lực quan trọng.
Có thể nói, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, do đó mở
ra một thời cơ lớn cho các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) có thể sử dụng;
lợi dụng nó nhằm để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Vì, nếu biết tận dụng đúng đắn
những thành tựu của khoa học - công nghệ thì chỉ trong khoảng thời gian ngắn có thể
chuyển từ nước lạc hậu trở thành nước công nghiệp phát triển, và như vậy rút ngắn được
khoảng cách so với các nước phát triển.
Chính những thành quả của cách mạng khoa học - công nghệ mang lại và sự tác
động của nó đã thúc đẩy quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới. Xu thế hội nhập
vào nền kinh tế thế giới của các quốc gia, dân tộc trở nên tất yếu khách quan. Bởi vậy,
ngay ở các nước tư bản phát triển, giai cấp tư sản đã có những bước điều chỉnh lớn về

quan hệ sản xuất cho phù hợp với đòi hỏi khách quan của xu thế đó. Các công ty tư bản
mở rộng sự liên kết, đầu tư và đi kèm động thái sát nhập nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh. Từ đó thúc đẩy nhanh sự phát triển của quá trình chu chuyển vốn bằng con đường

trong quá trình định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế của nước ta.
Khẳng định khả năng khách quan phát triển theo định hướng XHCN của nền
kinh tế nhiều thành phần còn bắt nguồn từ chính thực tiễn sau hơn 10 năm đổi mới ở
nước ta.
Trước thời kỳ đổi mới, do chưa nhận thức và quán triệt đầy đủ đặc điểm và
hoàn cảnh bao trùm của nước ta, đó là đi nên CNXH với một xuất phát điểm về kinh tế
còn thấp; từ một nước nông nghiệp lạc hậu chưa trải qua giai đoạn phát triển TBCN nên
chúng ta đã vấp phải những sai lầm lệch lạc, chủ quan. Trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta
đã nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi XHCN, thiết lập ngay nền kinh tế XHCN
thuần nhất dưới hai hình thức kinh tế quốc doanh và tập thể. Điều đó thể hiện rõ nét
trong phong trào hợp tác hóa ở miền Bắc vào những năm 1958-1976 và trong cải tạo
công thương nghiệp ở miền Nam năm 1978. Từ đó, làm cho nền kinh tế ở nước ta
không những không phát triển mà còn bị suy thoái, nhiều tiềm năng và lợi thế kinh tế
của đất nước không được khai thác và phát huy.
Nhận thức ra những lệch lạc sai lầm trên đây, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh
đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước. Đó là một cuộc biến đổi sâu sắc trong tư duy
chính trị về CNXH của Đảng, là biểu hiện năng lực nhận thức đúng đắn các quy luật
khách quan quá trình phát triển của xã hội. Vì:
Một xã hội, ngay cả khi phát hiện được quy luật tự nhiên của sự
vận động của nó cũng không thể nào nhảy qua được các giai đoạn phát triển
tự nhiên hay dùng sắc lệnh xóa bỏ những giai đoạn đó, nhưng có thể rút
ngắn, làm dịu bớt những cơn đau đẻ [34, tr. 21].
Quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc nêu trên, Đảng ta đã chủ động xây
dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường theo
định hướng XHCN.

Với đường lối phát triển kinh tế đúng đắn và đã được Đảng ta đề ra từ Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) và tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện trong
các văn kiện tiếp theo, đã tạo thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế
nước ta thời gian qua.

tiếp tục được xác lập và củng cố. Quá trình đó được thực hiện trên cả ba phương diện.
Về sở hữu, một mặt chúng ta tiếp tục duy trì chế độ sở hữu công cộng với
những tư liệu sản xuất chủ yếu, trong đó nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Mặt khác,
chúng ta đã thực hiện đa dạng hóa các hình thức sở hữu cho phù hợp với trình độ phát
triển thực tế của lực lượng sản xuất, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của lực lượng
sản xuất.
Về quản lý, thông qua đổi mới chế độ quản lý đối với nền kinh tế nhiều thành
phần, trước hết là cơ chế quản lý đối với thành phần kinh tế nhà nước, chúng ta đã dần
dần tạo lập được cơ chế để người lao động thực hiện quyền làm chủ, kiểm tra, kiểm soát
quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia quyết định những vấn đề lớn của doanh nghiệp.
Cùng với đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới kinh tế HTX.
Trên quan điểm "HTX được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động
trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần đóng góp; mỗi xã
viên có quyền ngang nhau đối với công việc chung" [13, tr. 95]. Vì vậy, những năm qua
các doanh nghiệp nhà nước và thành phần kinh tế hợp tác xã đã có sự vươn lên trong
nền kinh tế. Những đổi mới quản lý đó đã khắc phục được tình trạng: tha hóa về chế độ
sở hữu; tình trạng "cha chung không ai khóc" trước đây.
Về phân phối, quan hệ phân phối không ngừng được củng cố và đổi mới. Quá
trình phân phối có sự thay đổi lớn, đã kết hợp chặt chẽ giữa nhiều hình thức phân phối
làm cho quá trình phân phối ngày càng hợp lý, bảo đảm tính công bằng và tạo ra động
lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung.
Bên cạnh tiền đề kinh tế khách quan như đã nêu trên, trong quá trình phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, một điều kiện khách quan rất cơ bản và có ý
nghĩa to lớn, tạo ra khả năng phát triển theo hướng XHCN ở nước ta đó là chúng ta có

một hệ thống chính trị vững chắc, đã được tôi luyện và thử thách trong đấu tranh cách
mạng luôn được quần chúng tin yêu. Quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
hệ thống chính trị ở nước ta tiếp tục được đổi mới cho phù hợp với kết cấu kinh tế - xã
hội; luôn giữ vững được sự ổn định về chính trị xã hội. Đó là cơ sở khách quan cho quá
trình phát triển kinh tế theo định hướng XHCN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status