LUẬN VĂN: Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Phát triển nguồn lực con người
trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cuộc cạnh tranh giữa các nước có nền kinh tế phát triển đang diễn ra
gay gắt. Trong cuộc cạnh tranh này, phần chiến thắng sẽ thuộc về quốc gia có nguồn lực
con người chất lượng cao, có khả năng sáng tạo và chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức khoa
học tiên tiến. Vì vậy, phát triển NLCN luôn được đặt ở vị trí trung tâm hàng đầu trong
chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia đang tiến hành công
nghiệp hóa.
Quá trình phát triển kinh tế-xã hội nước ta diễn ra khi cuộc cách mạng khoa học-
công nghệ trên thế giới đã đạt tới đỉnh cao. Điều kiện lịch sử này cho phép chúng ta có
thể và cần phải vận dụng tiến bộ KH-CN để có cơ hội phát triển nhanh CNH, HĐH đất
nước theo con đường rút ngắn. Từ thực tế đó, khi bước vào thời kỳ CNH, HĐH, Đảng ta

thực tiễn của quá trình CNH, HĐH ở Bến Tre. Đây là một trong những nguyên nhân
chính cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Do đó, việc nghiên cứu khoa học
nhằm “Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở tỉnh Bến Tre” là vấn đề đang đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với tiến
trình phát triển của Bến Tre trong những năm tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, NLCN và phát triển NLCN là vấn đề đã được đề cập
nghiên cứu ở nhiều mức độ và góc độ khác nhau. Nhiều công trình đã nghiên cứu một
cách có hệ thống các vấn đề về NLCN, về GD-ĐT, về nâng cao chất lượng và sử dụng
có hiệu quả NLCN, đáng chú ý là những công trình sau:
- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước” do PTS. Mai Quốc Chánh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1999. Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
- “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” của PGS.
Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Viện Kinh tế thế giới), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

Quyển sách đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực ở một số nước trên thế giới
dưới tác động của GD-ĐT, đồng thời nêu bật vai trò của GD-ĐT trong việc phát triển nguồn
nhân lực ở Việt Nam.
- “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, của TS. Bùi Thị Ngọc
Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Tác giả đã phân tích rõ vị trí, vai trò, chức
năng của nguồn lực trí tuệ - bộ phận trung tâm, làm nên chất lượng và sức mạnh ngày
càng tăng của NLCN và là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân
loại. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát
huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
- “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Hữu
Dũng, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội, 2003. Tác giả đã trình bày có tính hệ thống một số

- Khảo sát và phân tích thực trạng NLCN và phát triển NLCN ở Bến Tre hiện
nay, trên cơ sở đó dự báo một số xu hướng vận động cơ bản của nguồn lực này trong
thời gian tới.
- Xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NLCN ở
Bến Tre trong thời kỳ CNH, HĐH.
Phạm vi nghiên cứu
Từ góc độ chính trị-xã hội, đề tài nghiên cứu quá trình phát triển NLCN ở tỉnh
Bến Tre từ năm 1996 đến nay và tập trung chủ yếu ở lực lượng lao động (hay dân số
hoạt động kinh tế thường xuyên) của tỉnh.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài
Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về con người và
NLCN, kết hợp với chủ trương, chính sách của Đảng bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh Bến
Tre… về các vấn đề có liên quan đến đề tài. Ngoài ra, những công trình nghiên cứu gần
đây về vấn đề này được tác giả quan tâm, coi trọng nghiên cứu và kế thừa.
Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, lôgic lịch sử, kết hợp với các
phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê… để nghiên cứu vấn đề phát triển
NLCN ở tỉnh Bến Tre dưới góc độ chính trị - xã hội.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng NLCN và phát triển NLCN ở tỉnh Bến
Tre trong sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay.
- Luận văn đề xuất một hệ thống những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NLCN
phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở Bến Tre trong những năm tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những quan điểm, những kết luận và những kiến nghị của luận văn có thể được
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về vấn đề NLCN nói

của nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, những nghiên cứu về NLCN đã đạt những
thành tựu đáng kể, đưa lại những quan niệm ngày càng đầy đủ và đúng đắn về NLCN.
Tìm hiểu các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy, quan niệm về NLCN khá
đa dạng, được đề cập trên nhiều góc độ, theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau.
Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất
hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng
sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyết định năng suất lao động và tiến
bộ xã hội.
Trong lý luận về “vốn”, con người được đề cập đến như một loại vốn (“vốn
người”, “tư bản người”), một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất và kinh
doanh. Từ cách tiếp cận này, Ngân hàng Thế giới cho rằng: NLCN được hiểu là toàn bộ
vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy
động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó. Ở đây,
NLCN được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như tiền, tài

nguyên thiên nhiên… Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và
được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững.
Dựa trên cách tiếp cận này, Liên hợp quốc cho rằng NLCN là tất cả những kiến
thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước.
NLCN ở đây được xem xét chủ yếu ở chất lượng con người và vai trò, sức mạnh của nó
đối với sự phát triển xã hội.
Ở nước ta khái niệm NLCN được sử dụng tương đối rộng rãi kể từ đầu thập niên
90 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, trong Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng như các Từ điển
Tiếng Việt chưa thấy đưa ra định nghĩa “Nguồn lực con người”. Dù vậy, các nhà khoa
học Việt Nam cũng đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau khi bàn về NLCN, về nguồn
nhân lực.
Giáo sư Viện sĩ TS. Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn lực con người là số dân
và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực
và phẩm chất” [25, tr.328]. Giáo sư TS. Hoàng Chí Bảo cũng cho rằng: “Nguồn lực con
người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng hiệu quả

trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế…
Thứ ba, “nguồn lực con người” chủ yếu nói lên chất lượng dân số, đặc biệt là
chất lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và tiềm năng trong tương lai.
Thứ tư, “nguồn lực con người” còn bao hàm cả sự liên hệ tác động lẫn nhau giữa
các yếu tố nội tại cấu thành nó cũng như sự tác động qua lại giữa NLCN với các nguồn
lực khác và với môi trường xung quanh. Đồng thời, nó còn nói lên sự biến đổi về số
lượng, chất lượng, cơ cấu dân cư và lực lượng lao động.
Thứ năm, “nguồn lực con người” còn chỉ ra rằng: con người được xem xét với tư
cách là một nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự
phát triển xã hội. Sức mạnh của NLCN thể hiện ở sức mạnh của thể lực, trí lực, niềm
tin, ý chí… ở sự thống nhất biện chứng giữa sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần,
của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng, không chỉ có trong hiện tại mà còn ở dạng tiềm
năng.

Như vậy, nói đến NLCN và vai trò của nó phải xem xét con người với tư cách
vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Là chủ thể bởi
con người khai thác, sử dụng các nguồn lực khác, hơn nữa còn tạo ra nguồn lực mới cho
sự tồn tại và phát triển xã hội. Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai
thác, cả về trí lực và thể lực cho mục tiêu phát triển xã hội. Với ý nghĩa đó, con người
vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của các quá trình phát
triển kinh tế-xã hội.
Bên cạnh khái niệm “nguồn lực con người”, các khái niệm “nguồn nhân lực”,
“tài nguyên con người” cũng được sử dụng phổ biến. Theo một số tác giả thì đây là
những khái niệm đều được dịch từ cụm từ Human Resources. Theo TS. Đoàn Văn Khái
thì trong thực tế, khái niệm “nguồn nhân lực” ngoài nghĩa rộng được hiểu như “nguồn
lực con người”, thường còn hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động, có khi còn được
hiểu là lực lượng lao động. Khái niệm “tài nguyên con người” được sử dụng với ý nhấn
mạnh phương diện khách thể của con người, coi con người như một nguồn tài nguyên,
một loại của cải quý giá, cần được khai thác triệt để, hợp lý, có hiệu quả, nhất là nguồn
tiềm năng trí tuệ trong đó [10, tr.253].

chí, nó còn có khả năng phục hồi và tái sinh, tự đổi mới, phát triển không ngừng nếu
biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý.
Trong thời đại ngày nay, việc khẳng định vai trò quyết định của NLCN so với các
nguồn lực khác và xem nó là động lực quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển là hoàn
toàn đúng đắn. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu không thấy vai trò quan trọng của các nguồn
lực khác đối với sự phát triển NLCN. Điều đó có nghĩa là NLCN luôn bị quy định bởi các
nguồn lực khác. Bởi lẽ, con người là một thực thể tự nhiên - xã hội. Để tồn tại và phát triển,
con người phải quan hệ với tự nhiên, khai thác tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với sức lao
động và trí tuệ của mình nhằm cải tạo tự nhiên tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người.
Mặt khác, chính từ thực tiễn cuộc sống và hoạt động lao động sản xuất, con người không
ngừng phát triển trí tuệ cũng như hoàn thiện về thể chất. Như vậy, trong mối quan hệ với
các nguồn lực khác, NLCN giữ vai trò quyết định. Các nguồn lực khác chỉ phát huy tác
dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với NLCN. Xét đến cùng, nếu thiếu sự
hiện diện của NLCN với trí tuệ và lao động của họ, thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa,
thậm chí, khái niệm nguồn lực cũng không còn ý nghĩa.

Cấu trúc của nguồn lực con người
Việc xác định cấu trúc của NLCN là quá trình xem xét từng bộ phận cấu thành
NLCN theo một hệ thống chỉnh thể, từ đó phát hiện ra cơ cấu và mối quan hệ giữa
chúng tạo thành hệ thống, cấu trúc của NLCN.
Nói đến NLCN là nói đến số lượng và chất lượng con người, là sự kết hợp giữa
trí lực, thể lực, đạo đức và những năng lực, phẩm chất khác của con người như ý chí,
tình cảm… Mỗi yếu tố có vị trí và vai trò nhất định trong cấu trúc NLCN, song giữa
chúng có mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại với nhau, tạo nên sự phát triển toàn diện
của NLCN.
Trước hết, NLCN được xem xét ở mặt số lượng. Số lượng NLCN chính là lực
lượng lao động và khả năng cung cấp sức lao động cho xã hội. Các chỉ số về số lượng
NLCN của một quốc gia, một địa phương được xác định trên qui mô dân số thông qua
số lượng dân cư, tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động trong các ngành,
các khu vực kinh tế… Trong đó, số dân trong độ tuổi lao động là chỉ số phản ánh một

một xã hội nhất định” và “có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp của quá trình phát triển
tự nhiên, xã hội và bản thân con người” [33, tr.35]. Thực vậy, xét ở cả phương diện cá
thể cũng như xã hội, trí tuệ đóng vai trò trung tâm chỉ đạo mọi hành vi và quyết định
phần lớn khả năng sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn cũng như
trong việc lựa chọn phương pháp, giải pháp thích hợp nhằm phát huy tác dụng của các
yếu tố khác trong cấu trúc NLCN.
Cuộc cách mạng KH-CN hiện nay đang đặt ra những yêu cầu rất cao ở trí tuệ của
con người - những người lao động. Họ không chỉ có khả năng tiếp thu tri thức mới, vận
dụng có hiệu quả vào sản xuất mà còn phải biết thường xuyên tự bổ sung, bồi dưỡng tri
thức để không bị lạc hậu trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng KH-CN.
Vì vậy, NLCN đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH phải bao gồm những người lao động có sự
phát triển cao về năng lực trí tuệ, đủ sức làm chủ và tiếp thu công nghệ mới, có khả
năng làm việc chủ động sáng tạo, có khả năng sử dụng các công cụ, phương tiện tiên
tiến, hiện đại. Nói cách khác, ngày nay tri thức trở thành yếu tố không thể thiếu của
người lao động.
Theo Tổng Bí thư Đỗ Mười: “Trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong mọi tài sản,
nhưng chính sức khỏe là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó” [42, tr.92]. Thực

vậy, sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người. Vì vậy, nói đến chất lượng NLCN,
ngoài trí tuệ, sức khỏe (thể lực) là yếu tố hết sức cần thiết. Sức khỏe là điều kiện để duy
trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn,
biến tri thức thành sức mạnh vật chất.
Với tư cách là một yếu tố cấu thành NLCN, sức khỏe là sự phát triển hài hòa của
con người cả về thể chất lẫn tinh thần.Vì vậy, yếu tố này bao gồm sức khỏe cơ thể và
sức khỏe tinh thần. Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, phát triển cân đối hài hòa các cơ
quan trong cơ thể theo quy luật “tạo hóa” của tự nhiên, đồng thời, còn là sự hoạt động
dẻo dai của cơ bắp, sự nhạy bén của các giác quan. Các chỉ số sinh học biểu hiện trạng
thái sức khỏe thể chất của mỗi người như chiều cao, cân nặng, khả năng hoạt động của
cơ bắp, của các giác quan…
Tục ngữ Nga có câu: “Một tinh thần lành mạnh trong một cơ thể khoẻ mạnh”. Sự

nguyên người là những cách dịch khác nhau từ cụm từ Human Resources Development
- HRD. Khái niệm này hình thành và phát triển từ những năm 70 của thế kỷ trước, dựa
trên quan niệm mới của Liên hợp quốc về phát triển và vị trí con người trong phát triển.
Liên hợp quốc sử dụng khái niệm “phát triển nguồn lực con người” theo nghĩa
rộng bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế-xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. UNESCO sử dụng khái niệm
“phát triển nguồn lực con người” theo nghĩa hẹp, đó là làm cho toàn bộ sự lành nghề
của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước. Còn tổ
chức Lao động Quốc tế (ILO) lại cho rằng phát triển nguồn nhân lực không chỉ là có sự
chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực
và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thoả
mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Nhìn chung, cách hiểu của Liên hợp quốc bao quát hơn và nhấn mạnh khía cạnh
xã hội của vấn đề: NLCN vừa là yếu tố của sản xuất, của tăng trưởng kinh tế vừa là mục
tiêu của phát triển. Cách tiếp cận này xuất phát từ lý thuyết mới về phát triển con người,
trong đó phát triển NLCN thuộc phạm trù phát triển con người.
Thuật ngữ “phát triển con người” được sử dụng từ lâu trong các ngôn ngữ khác
nhau. Nhưng phải đến năm 1990, khái niệm “phát triển con người” (Human Development)
mới xuất hiện trong báo cáo về phát triển con người (HDR) được Chương trình phát triển

của Liên hợp quốc (UNDP) công bố. Theo UNDP “Của cải đích thực của một quốc gia là
con người của quốc gia đó. Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận
lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, khoẻ mạnh và sáng tạo” [26, tr.140].
Phát triển con người - là quan điểm về phát triển, trong đó lấy con người làm
trung tâm. Đó là phát triển của con người, vì con người và do con người. Phát triển của
con người có nghĩa là đầu tư vào phát triển tiềm năng của con người như giáo dục, y tế,
kỹ năng… để con người có thể làm việc một cách sáng tạo và có năng suất cao nhất.
Phát triển vì con người là bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế mà con người tạo ra phải
được phân phối rộng rãi và công bằng. Phát triển do con người là hướng vào việc tạo
cho con người có cơ hội tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội (kinh tế, chính

yêu cầu của phát triển kinh tế-xã hội” [14, tr.13]. Theo tác giả, quá trình này bao gồm sự
phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính
năng động xã hội và sức sáng tạo của con người. Trong đó, nền văn hóa truyền thống,
lịch sử dân tộc góp phần quan trọng hun đúc nên bản lĩnh, ý chí của mỗi người.
Như vậy, phát triển NLCN không phải là một khái niệm trừu tượng mà nó gắn
với phát triển con người cụ thể. Theo C.Mác, con người là yếu tố quan trọng nhất, cách
mạng nhất trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất. Người lao động trong lực
lượng sản xuất phải là con người ngày càng được phát triển cao về trí tuệ, khoẻ mạnh về
thể chất, trong sáng về đạo đức, linh hoạt và văn minh trong ứng xử, có kinh nghiệm sản
xuất và kỹ năng lao động nhất định. Do đó phát triển NLCN có mối quan hệ biện chứng
với phát triển con người. Phát triển NLCN phải được hiểu là quá trình phát triển toàn
diện con người cả thể lực, trí lực, cả khai thác, sử dụng, tái tạo và phát triển tiềm năng,
năng lực của mỗi người, của cả cộng đồng người nhằm đóng góp nhiều nhất vào sự
nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, bởi lẽ, NLCN được cấu thành từ nguồn nhân lực của
mỗi cá nhân cũng như nguồn nhân lực của cả cộng đồng. Vì vậy, nếu cho rằng, phát
triển NLCN chỉ là quá trình làm gia tăng tri thức, kỹ năng và năng lực của mỗi người là
chưa đầy đủ, mới chỉ đề cập ở khía cạnh khai thác năng lực của con người mà thiếu đi
quá trình tái tạo, phát triển và sử dụng lâu dài tiềm năng con người, cũng như tạo ra giá trị
đích thực cho cuộc sống của con người.

Tóm lại, có thể hiểu: Phát triển nguồn lực con người là quá trình làm biến đổi về
số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực, đồng thời làm gia tăng các giá trị tinh
thần, đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, thể chất… cho con người nhằm đáp ứng những yêu cầu
của sự phát triển kinh tế-xã hội.
Mỗi một giai đoạn lịch sử đều có nhu cầu về NLCN phù hợp giai đoạn lịch sử
đó. Quá trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay đang đặt ra yêu cầu khách quan về sự phát
triển số lượng, cơ cấu, chất lượng, cũng như những năng lực, phẩm chất cần thiết của
NLCN. Do đó, phát triển NLCN là một đòi hỏi tất yếu hiện nay ở nước ta.
1.1.2. Tính tất yếu của việc phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

HĐH đất nước.
Trong mối quan hệ tác động qua lại với quá trình CNH, HĐH, NLCN luôn giữ vị
trí, vai trò quyết định. Mặt khác, NLCN cũng không ngừng biến đổi, phát triển dưới tác
động của quá trình CNH, HĐH đất nước. Phát triển NLCN Việt Nam là một yêu cầu
khách quan trong quá trình CNH, HĐH.
Thứ nhất, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đảng ta đã khẳng định: đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm hướng tới mục tiêu “tăng
trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” [19, tr.89]. Như vậy,
trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng XHCN, CNH, HĐH là phương tiện,
phương thức để đạt đến mục tiêu cao cả, đó là vì cuộc sống hạnh phúc ngày càng tốt đẹp
của con người, vì sự giải phóng và phát triển toàn diện của con người.
Trong sự nghiệp đổi mới và thực hiện CNH, HĐH đất nước, quan niệm coi con
người là “vừa là mục tiêu,vừa là động lực” của sự phát triển kinh tế-xã hội đã trở thành
quan niệm phổ biến. Phát triển NLCN được coi là một bộ phận quan trọng hàng đầu trong
chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Bởi vì, con người là động lực cơ bản
của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
Động lực của sự nghiệp CNH, HĐH được hiểu là những gì thúc đẩy quá trình
này vận động và phát triển. Khi nói con người là động lực của quá trình CNH, HĐH là

chủ yếu nói đến sức mạnh, năng lực sáng tạo to lớn của con người trong việc thực hiện
CNH, HĐH và thúc đẩy quá trình này phát triển.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ không thể thành công nếu thiếu vai trò động
lực của con người. Chính con người với tri thức, trí tuệ, có khả năng hoạch định chiến
lược, đề ra mục tiêu, lựa chọn phương thức tiến hành CNH, HĐH cho phù hợp với hoàn
cảnh và điều kiện của mình. Con người còn sáng tạo ra những thành tựu KH-CN hiện
đại và ứng dụng chúng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sản xuất vật chất, quản
lý kinh tế, xã hội. Trong quá trình CNH, HĐH, những giải pháp do con người đề ra cho
phép điều chỉnh và giải quyết các mâu thuẫn phát sinh, cũng như dự báo những nguy

là chủ thể của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Thông qua hoạt động thực tiễn,
con người đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tiến trình phát triển và sáng tạo ra lịch sử của
mình.
Xét dưới gốc độ kinh tế, xã hội hay kỹ thuật, công nghệ, yếu tố con người vẫn
luôn là chủ thể của quá trình CNH, HĐH. Từ thực tế cho thấy, quá trình CNH, HĐH sẽ
không thể thành công nếu thiếu NLCN với số lượng và chất lượng ngày càng cao, cơ
cấu hợp lý. Bởi vì, chính con người là lực lượng duy nhất có khả năng phát hiện, xác
định mục tiêu, nội dung, hình thức, bước đi và những giải pháp thích hợp để tiến hành
CNH, HĐH. Từ thực tiễn của các nước đi trước cũng như ở nước ta đã cho thấy, quá
trình CNH, HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, đạt hiệu quả cao hay thấp là do sự
quy định của nhiều yếu tố, trong đó, trước hết và chủ yếu tuỳ thuộc vào năng lực của
con người, vào chất lượng của NLCN. Vì vậy, phát triển NLCN trở thành yếu tố quan
trọng nhất có tính chất quyết định đối với sự thành bại của sự nghiệp CNH, HĐH ở
nước ta hiện nay.
Trong khi nhấn mạnh vai trò và sự tác động có tính chất quyết định của phát
triển NLCN đối với tiến trình CNH, HĐH, cần khẳng định rằng CNH, HĐH cũng tác
động trở lại đối với mục tiêu phát triển NLCN.
Thực tế cho thấy, mặc dù nước ta hiện nay không còn là một nước thuần nông,
nhưng có lẽ còn khá xa so với những tiêu chí, đặc trưng của một xã hội công nghiệp
hiện đại. Trong điều kiện ấy con người Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư
duy, thói quen của người sản xuất nhỏ tiểu nông. Vì thế, tiến hành CNH, HĐH là tiền
đề, điều kiện vật chất cần thiết để từng bước cải biến nếp nghĩ, cách làm vốn còn mang

nặng dấu ấn tiểu nông, sản xuất nhỏ của một bộ phận đáng kể trong lực lượng lao động
xã hội. Chính sự hình thành và phát triển của các yếu tố hiện đại trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội, trước hết là trong sản xuất do đẩy mạnh CNH, HĐH, sẽ tạo nên một
cuộc cách mạng đối với lực lượng lao động xã hội. Hơn nữa, trong mỗi giai đoạn cũng
như trong suốt tiến trình, CNH, HĐH vừa tạo ra điều kiện và cơ hội phát triển, vừa đặt
ra những yêu cầu ngày càng cao đối với người lao động, trước hết là ở trình độ học vấn,
chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng lao động công nghiệp hiện đại. Điều này thể hiện ở chỗ,

lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” [19, tr.201]. Vì vậy, “Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam với yêu cầu
ngày càng cao” [19, tr.165] là vấn đề có tính chiến lược trong công cuộc đổi mới và là
yêu cầu cấp bách của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
Thực hiện vai trò chủ thể, động lực của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH theo
định hướng XHCN, NLCN nước ta phải đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đảm bảo về
chất lượng. Muốn vậy, phát triển NLCN phải được xác định là vấn đề chiến lược và tập
trung mọi nguồn lực để đầu tư mạnh vào “vốn con người”. Phải xem đây là bước chuẩn
bị quan trọng và là khâu đột phá để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội và
thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Như vậy, phát triển NLCN là vấn đề có tính chiến lược, điều đó không chỉ xác
định trên phạm vi cả nước mà phải được nhận thức và chủ động thực hiện ở từng địa
phương, đơn vị cụ thể. Đối với Bến Tre, để xây dựng chiến lược phát triển NLCN phù
hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH của tỉnh trong những năm tới, trước
hết cần phải xác định rõ đặc điểm của CNH, HĐH cũng như chỉ ra những yêu cầu cơ
bản về phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre hiện nay.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH
BẾN TRE VÀ NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC
CON NGƯỜI BẾN TRE
1.2.1. Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre
Cũng như nhiều địa phương trong vùng, Bến Tre bắt tay xây dựng lại quê hương
từ sau ngày thống nhất đất nước, thực hiện CNH, HĐH theo chủ trương của Đảng.
Ngoài những điểm chung như CNH, HĐH ở các tỉnh trong vùng, do vị trí địa lý, điều

kiện kinh tế-xã hội có nhiều đặc thù, điều đó đã làm cho nội dung, hình thức, quy mô,
tốc độ CNH, HĐH ở Bến Tre có nhiều điểm khác biệt. Sự khác biệt này đã nói lên đặc
điểm CNH, HĐH ở Bến Tre.
Trên thực tế, CNH, HĐH ở Bến Tre tiến hành trong điều kiện nền kinh tế chậm
phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp chưa phát
triển, đầu tư nước ngoài còn hạn chế… Vì vậy, CNH, HĐH ở Bến Tre mà trọng tâm là

CNH, HĐH trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn. Cùng với chủ trương coi
trọng phát triển nông nghiệp toàn diện, lãnh đạo tỉnh luôn xác định công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp là lĩnh vực phải được tập trung đầu tư để Bến Tre vươn lên sánh vai với
các tỉnh bạn trong khu vực. Sau hơn 7 năm thực hiện Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy Bến
Tre “Về phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh 1996-2000-
2010”, đến nay, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở Bến Tre có bước phát triển đáng
kể, góp phần quan trọng đưa nền kinh tế của tỉnh phát triển, tạo động lực thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Từ chỗ chưa có gì, đến nay (2004) toàn tỉnh có
14 doanh nghiệp Nhà nước, 4 công ty đầu tư nước ngoài, 39 hợp tác xã, 94 doanh nghiệp tư
nhân và 7182 hộ sản xuất cá thể, giải quyết việc làm cho trên 31.000 lao động [13]. Năng
lực chế biến thủy, hải sản hiện tăng gấp 3 lần so với năm 1996 với một hệ thống các nhà
máy chế biến thủy sản trang thiết bị khá hiện đại. Công nghiệp ở Bến Tre phát triển đã
tác động tích cực đến CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhiều làng nghề được sắp
xếp, củng cố và không ngừng phát triển; đã cơ giới hóa 90% khâu làm đất, 80% khâu
tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp. Việc sử dụng máy móc thay thế lao động chân tay
trong kinh tế vườn khá phổ biến. Đến năm 2000, 160/160 xã, phường trong tỉnh đều có
lưới điện quốc gia về đến trung tâm xã, nâng số hộ sử dụng điện lên 81% vào cuối năm
2004 [54, tr.4].
Tuy nhiên, so với mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại, thì CNH, HĐH ở Bến tre cần phải đẩy nhanh với tốc
độ và quy mô rộng lớn hơn. Hiện nay, tỷ trọng công nghiệp trong GDP toàn tỉnh còn
nhỏ và chuyển biến chậm, chưa đủ sức đóng vai trò động lực thúc đẩy nền kinh tế phát
triển và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế. Năm 1996, tỷ trọng công nghiệp chiếm 7,66%
trong GDP; năm 2000 là 12,09% và năm 2004 là 15,65 % [13]. Ngoài ra, do kết cấu hạ

Trích đoạn Những yêu cầu cơ bản về phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre KẾT LUẬN CHƯƠNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ-XÃ HỘI, VĂN HÓA VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON Nhóm giải pháp xã hộ Nhóm giải pháp giáo dục đào tạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status