LUẬN VĂN:
Những vấn đề chung về tình hình, kết quả hoạt động
công tác xã hội tại phòng tổ chức lao động thương binh và
xã hội thành phố yên bái lời mở đầu
Là sinh viên năm cuối của khoa kinh tế lao động gần năm năm trên ghế giảng
giúp Uỷ ban nhân dân Thành phố thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương.
Trong đó:
+ Văn phòng Uỷ ban nhân dân + Phòng Thanh tra
+ Phòng Tư pháp + Phòng Tổ chức chính quyền
+ Phòng công nông nghiệp + Phòng Lao động TBXH
+ Phòng Địa chính + Phòng Tài chính
+ Phòng Văn hoá Thông tin + Phòng Giáo dục đào tạo
+ Đài Truyền thanh + Hội Chữ Thập đỏ
+ Hội đồng thi đua khen thưởng + Uỷ ban BVCSTE
Tuy nhiên trước sự tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chưa có sự tập trung thống
nhất cao trong quản lý, sự chỉ đạo điều hành còn nhiều bất cập, hiệu qủa chưa cao, chức
năng, nhiệm vụ của các phòng ban tuy đã quy định xong chưa cụ thể, chưa rõ còn chồng
chéo.
Vì vậy trước tình hình đó Uỷ ban nhân dân Thành phố Yên Bái đã tiến hành sắp
xếp tổ chức lại bộ máy.
Đến năm 2002 Uỷ ban nhân dân Thành phố đã tiến hành sát nhập Phòng Tổ chức
chính quyền và Phòng Lao động - TBXH Thành phòng Tổ chức - Lao động thương binh
xã hội. Vì công tác Tổ chức và Lao động thương binh xã hội có nhiệm vụ chủ yếu gắn
với chính quyền cơ sở và nhằm tập chung lực lượng cán bộ trong hoạt động chung.
2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn:
2.1. Chức năng:
- Thực hiện việc kiểm tra, thanh tra Nhà nước về việc thi hành chính sách pháp
luạt thuộc lĩnh vực Lao động Thương binh Xã hội.
3. Hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ của phòng:
Để hoàn Thành tốt hơn nhiệm vụ được giao Phòng tổ chức - Lao động thương
binh xã hội Thành phố Yên Bái bao gồm 8 cán bộ mỗi người giữ vai trò và chức năng
nhiệm vụ, quyền hạn riêng phù hợp với trình độ chuyên môn. Từ đó ban lãnh đạo đã
phân công nhiệm vụ cho cán bộ phòng như sau:
a, Đồng chí: Phạm Văn An- trưởng phòng.
Là người đứng đầu của phòng. Phụ trách chung các mặt của phòng, trực tiếp phụ
trách công tác tổ chức cán bộ và công tác quản lý nguồn kinh phí uỷ quyền, chịu trách
nhiệm trước Uỷ ban nhân dân Thành phố và ngành dọc cấp trên, quản lý cán bộ và lãnh
đạo thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của phòng.
Xây dựng các chương trình kế hoạch hàng tuần, tháng, quý, năm. Được xử lý các
công việc chuyên môn thuộc thẩm quyền chuyên môn.
b. Đồng chí: Trần Đình Thắng- Phó trưởng phòng:
Là người giúp việc cho trưởng phòng, được trưởng phòng phân công phụ trách
một lĩnh vực và được giao một công việc cụ thể và chịu trách nhiệm trước trưởng phòng
đối với các lĩnh vực được phân công.
- Phụ trách phòng và quản lý và điều hành công việc theo sự phân công của
trưởng phòng.
- Phụ trách về lĩnh vực Lao động – Thương binh xã hội và được ký giải quyết
một số thủ tục về hành chính.
- Theo dõi chương trình xuất khẩu lao động, công tác chăm sóc
sức khoẻ cho cán
bộ thuộc diện Ban thường vụ Thành uỷ Yên Bái quản lý
.
- Theo dõi Bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, người có công.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được phân công.
đ.Đồng chí: Phạm Thị Mai Hương - Cán bộ.
- Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của trưởng phòng về công việc và phó phòng phụ
trách lĩnh vực lao động - TBXH theo chuyên môn cụ thể.
- Thực hiện công tác về giải quyết việc làm.
- Theo dõi, tổng hợp lao động nghĩa vụ công ích, tuần lễ an toàn vệ sinh lao
động, phòng chống cháy nỏ, quỹ đền ơn đáp nghĩa.
- Theo dõi, hướng dẫn, quản lý các đối tượng vay vốn làm dự án, làm thủ tục cần
thiết trong vay vốn, thẩm định dự án.
- Tham mưu về xây dựng kế hoạch vốn vay hàng năm, vấn đề giải quyết việc làm
đảm bảo kế hoạch được giao.
- Theo dõi công tác dạy nghề, đào tạo nghề.
- Theo dõi công tác triển khai thực hiện Bộ luật lao động.
- Phối hợp triển khai công tác xoá đói giảm nghèo.
- Kiêm công tác thủ quỹ của phòn.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được phân công.
e. Đồng chí: Phạm Thị Mơ - Cán bộ.
- Chịu sự chỉ đạo trực tiếp cảu trưởng phòng về công việc, thực hiện công ác tổ
chức cán bộ, đánh giá, phân xếp loại cán bộ, mã ngạch công chức, xét duyệt nâng lương
hàng năm.
- Tham mưu cho trưởng phòng giúp UBND Thanh phố Yên Bái kiện toàn các
đơn vị thuộc diện quản lý.
- Nghiêm túc thực hiện giữ bí mật thuộc về tổ chức nói cung và các lĩnh vực
riêng trong công tác cán bộ.
- Quản lý hồ sơ cán bộ, công chức Nhà nước của Thành phố Yên Bái.
- Phối hợp công tác bồi dưỡng cán bộ công chức thuộc diên quản lý, công tác cải
công.
- Theo dõi tổng hợp công tác tu sửa, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà bia ghi tên liệt
sỹ.
- Phối hợp thực hiện công tác cứu trợ xã hội, xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được phân công.
4. Thuận lợi và khó khăn của phòng:
4.1 Thuận lợi:
- Cán bộ nhân viên trong phòng nhiệt tình, sáng tạo trong công việc. Phần lớn là đội
ngũ cán bộ còn rất trẻ tuổi đầy năng lực, nhiệt huyết.
- Người lãnh đạo có trình độ chuyên môn cao trong công tác quản lý, tổ chức
công việc.
- Hệ thống cơ sơ vật chất khá đầy đủ có 3 máy tính và máy in tạo điều kiện thuận
lợi trong công việc.
- Sự đoàn kết của cán bộ, công nhân viên trong phòng tạo nên một sức mạnh to
lớn giúp phòng đạt được nhiều két quả, thành tích trong các cuôc thi đua của Uỷ ban
Thành phố và Tỉnh.
4.2 Khó khăn.
- Số cán bộ có trình độ chuyên môn cao còn ít, trong đó:
Có 3 cán bộ có trình độ Đại học.
Có 1 cán bộ có trình độ Cao đẳng.
Có 4 cán bộ có trình độ Trung cấp ( Hiện nay có 3 cán bộ đã và đang đi học nâng
cao trình độ chuyên môn).
- Cơ sở vật chất đã cũ cần có sự đầu tư và nâng cấp.
- Một số cán bộ còn làm việc chưa đạt yêu cầu.
II. thưc trạng tình hình, kết quả hoạt động công tác xã hội tại phòng tổ chức
lao động - thương binh và xã hội.
1. Về công tác Cứu trợ xã hội:
loạt các chính sách phục vụ cho công tác XĐGN đã được triển khai đồng bộ trong đó
công tác xoá nhà dột nát cho người dân cũng là mục tiêu cụ thể tong công tác XĐGN
của Thành phố cho người dân. Thực hiện Kế hoạch số 61/KH - TW ngày 10 thang 6
năm 2004 của thnàh uỷ về vận động ủng hộ
''
ngày
vì ngời nghèo
''
và xoá nhà dột nát cho
các hộ chính sách, hộ người nghèo cua thành phố và căn cứ vào tiêu chí loại nhà dột nát
cần xoá. Qua điều tra năm 2004 toàn thành phố có 177 hộ gia đình chính sách, hộ nghèo
có nhà dột nát cần phải sửa chữa và làm mới trong đó:
+ Hộ chính sách số hộ cần làm mới là 29 hộ, số hộ cần sửa chữa là 25 hộ.
+ Hộ gia đình nghèo: Số hộ làm mới là 60 hộ, số hộ cần sửa chữa là 63 hộ. Mức
hỗ trợ đối với hộ gia đình chính sách;
+ Cho một hộ làm nhà mới là 8.000.000 đồng.
+ Cho một hộ sửa chữa nhà là 4.000.000 đồng.
Mức hỗ trợ đối với hộ nghèo.
+ Cho một hộ làm nhà mới là 3.000.000 đồng.
+ Cho một hộ sửa chữa nhà là 1.500.000 đồng.
Nguồn kinh phí hỗ trợ cho việc sửa chữa làm nhà mới cho các hộ chính sách, hộ
nghèo chủ yếu là từ ngân sách tỉnh và nguồn ngân sách Thành phố, còn lại từ các xã,
phường và sự huy động trong cộng đồng.
Đến cuối năm 2004 theo kết quả từ số hộ, gia đình đã làm mới và sửa chữa là
173 hộ như vậy số hộ, gia đình chưa triển khai, thực hiện còn 4 hộ.
Vậy là đến nay thành phố Yên Bái đã cơ bản xoá xong nhà ở dột nát cho các hộ
người dân ở các vùng sâu. Hơn 12.000 thẻ khám bệnh được phát cho người nghèo và
gần 1500 thẻ cữa bệnh, khám cho cá nhân khẩu thường trú ở các xã, phường đặc biệt
khó khăn là sự cố gắng lớn của ngành y tế Thành phố đặc biệt đến vấn đề là chăm lo sự
nghiệp giáo dục, hỗ trợ học sinh nghèo tại thành phố, gần 3.600 học sinh nghèo được
miễn giảm học phí, được cấp học bổng, cấp sách giáo khoa và đồ dùng học tập. Đó là sự
động viên tinh thần rất lớn cho các em học sinh nghèo vượt khó.
Nhiều xã, phường đã có đường bê tông đến tận nhà nối gần chợ gần trường học
và cuộc sống văn minh là đã có điện. Trên địa bàn thành phố không có xã nào là chưa
có điện.
Để đạt được những thành tựu trên là nhờ vào chính sách đúng đắn của Đảng và
Nhà nước, của tỉnh uỷ với người dân, không chỉ có sự tham gia của các cấp chính
quyền, các đoàn thể cùng vào mặt trận XĐGN. Mặt trận Tổ quốc thành phố lập quỹ vì
người nghèo, Hội nông dân thúc đẩy phong trào chuyển giao kỹ thuật, hội Phụ nữ dấy
lên phong trào lá lành đùm lá rách, Đoàn thanh niên trong đó các đội thanh niên tình
nguyện về sửa chữa nhà, dạy trẻ em học và làm vệ sinh môi trường.
b) Nhận xét và đánh giá:
* Thuận lợi.
- Công tác XĐGN, xoá nhà dột nát là một chủ trương lớn của Tỉnh uỷ, của Hội
đồng nhân dân Tỉnh Yên Bái. Các cấp chính quyền từ thành phố đến xã, phường xác
định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng năm 2004 nên đã quan tâm tập trung,
lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai, tích cực đạt hiệu quả cao đảm bảo đúng kế hoạch
đề ra.
- Đã có sự phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ các ngành, đoàn thể, các xã, phường
triển khai thực hiện. Nhiều phường, xã, thôn, tổ dân phố đã rất tích cực huy động nguồn
lực từ cộng đông dân cư, khai thác tiềm năng trong dân một cách có hiệu quả.
- Người dân đã có ý thức vươn lên làm giàu, chịu khó học hỏi kinh nghiệm, dạy
nhau làm ăn nhằm xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu.
thể để nhân dân giác ngộ được sự huỷ hoại của ma tuý về thể chất và kinh tế cũng như
nhân cách con người và công tác đó đã đem lại những kết quả nhất định.
1.2.1 Về ma tuý:
Thực trạng ma tuý tại thành phố Yên Bái.
Ma tuý đang trở thành hiểm họa đối với mỗi gia đình, nó đang gõ cửa vào từng
nhà, từng xã hội, không từ bỏ một quốc gia nào. Nó đã và đang lan rộng khắp thế giới
với số lượng người buôn bán
''
cái chết trắng
''
ngày càng nhiều hơn trước với đủ loại
thuốc khác nhau. Hiện nay, trong tỉnh Yên Bái thì thành phố Yên Bái đứng thứ tư về số
lượng người nghiện ma tuý toàn tỉnh. Đó là con số báo động với 176 người nghiện ma
tuý có hồ sơ quản lý ( số liệu tại thời điểm 30/4/2004), như vậy số người nghiện ma tuý
còn có thể lên tới hơn 200 người ( kể cả những đối tượng chưa được xác nhận và quản
lý).
Bảng tổng hợp số người nghiện ma tuý tại thành phố Yên Bái
STT Tên đơn vị
Số người nghiện ma tuý
(người)
Tỷ lệ %
1 Phường Nguyễn Phúc 22 12,5
2 Phường Hồng Hà 35 19,9
3 Phường Nguyễn Thái Học 17 9,7
4 Phường Minh Tân 9 5,1
5 Phường Yên Ninh 15 8,5
6 Phường Đồng Tâm 7 3,9
Như vậy số người nghiện ma tuý lại tập trung củ yếu là lứa tuổi thanh niên với số
lượng rất lớn là 1001 người, theo điều tra cho thấy số người nghiện này chủ yếu là rơi
vào những người không nghề nghiệp, không được học hành đầy đủ và một số ít là cán
bộ Nhà nước do bị bạn bè lôi kéo, kích động đã không làm chủ yếu được bản thân rơi
vào nghiện ngập.
Trước tình hình đó Sở LĐTBXH đã phối hợp với các tổ chức, ban ngành đề ra kế
hoạch cai nghiện ma tuý chó các con nghiện nhằm phục hồi nhân cách và giúp họ với
gia đình và cộng đồng.
b) Kế hoạch cai nghiện ma tuý:
Căn cứ Quyết định số 156/2000/QĐ - TTg ngày 28/12/2000 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt chương trình hành động phòng chống ma tuý giai đoạn
2001 - 2005;
Thực hiện Kế hoạch số 06/ KH - UB ngày 20/3/2002 của UBND tỉnh Yên Bái về
xây dựng chỉ tiêu kế hoạch và các giải pháp cho công tác cai nghiện ma tuý giai đoạn
2001 -2005.
Căn cứ tình hình nghiện ma tuý và kết quả nghiện ma tuý giai đoạn 2002 - 2004.
Căn cứ tình hình tệ nạn nghiện ma tuý và kết quả công tác cai nghiện từ năm
2001 - 2004, Sở LĐTBXH xây dựng kế hoạch cai nghiện ma tuý năm 2005. Đã có
chính sách khuyến khích việc tự nguyện cai nghiện ma tuý, áp dụng chế độ cai nghiện
đối với người nghiên ma tuý, tổ chức các cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc và khuyến
khích cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức thực hiện các hình thức cai nghiện ma tuý tại
gia đình và cộng đồng khuyến khích tổ chức cá nhân và nước ngoài hỗ trợ các hoạt
động cai nghiện ma tuý. Từ đó thành phố Yên Bái đã đề ra chỉ tiêu cai nghiên ma tuý
cho các đối tượng từ phường, xã như sau:
Chỉ tiêu cai nghiện ma tuý năm 2005 là 176 người, trong đó:
- Cai nghiện tai trung tâm cai nghiện tỉnh là 102:
- Cai nghiện tại gia đình và cộng đồng là 74 người
2 Phường Hồng hà 35 35 26 9
3 Phường Nguyễn Thái Học 17 17 6 11
4 Phường Minh Tân 9 9 4 5
5 Phường Yên Ninh 15 15 10 5
6 Phường Đồng Tâm 7 7 5 2
7 Phường Yên Thịnh 18 18 9 9
8 Xã Tuy Lộc 11 11 3 8
9 Xã Nam Cường 17 17 13 4
10 Xã Minh Bảo 19 19 12
7
11 Xã Tân Thịnh 6 6 2 4
Tổng 176 176 102 74
Quyết định đưa người vào cai nghiên bắt buộc tại trung tâm cai nghiên tỉnh thực
hiện theo Luật phòng chống ma tuý: Nghị định số 135/2004/NĐ - CP ngày 10/6/2004
của Chính phủ quy định chế độ, biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động
của cơ sở chữa bệnh.
- Việc quyết định đưa người vào cai tại cộng đồng và gia đình được thực hiện
theo Nghị định số 56/NĐ - CP ngày 15/5/2002 của Chính phủ về tổ chức cai nghiện ma
tuý tại gia đình và cộng đồng.
Để thực hiện kế hoạch, hoàn thành tốt chỉ tiêu cai nghiện năm 2005 cần thực hiện
các nhiệm vụ và biện pháp sau:
- Thực hiện tại trung tâm cai nghiện tỉnh:
+Tổ chức cho cán bộ, công chức, viên chức học tập quán triệt chức năng, nhiệm
vụ của trung tâm theo Thông tư Liên tịch số 05/2002/ TTLT/ BLĐTBXH - BTCCBCP
ngày 6/2/2002 của Liên bộ Lao động thương binh và xã hội và Ban tổ chức cán bộ
Chính phủ.
+ Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác quản lý giáo dục
nghiện, phục hồi sức khoẻ, quản lý, giáo dục, rèn luyện người nghiện ma tuý tai cơ sở
theo Nghị định số 56 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 01/TTLT/BLĐTBXH-
BCA với những nhiệm vụ và giải pháp sau:
+ Tổ chức tập huấn cho cán bộ cấp tỉnh và cấp huyện, thị xã, thành phố về công
tác cai nghiện tại gia đình và cộng đồng theo Nghị định số 56/NĐ- CP của Chính phủ và
Thông tư liên tịch số 01/TTLT/BLĐTBXH -BYT -BCA để cán bộ hiểu và nắm vững
quy trình tiến hành cai nghiện tại gia đình, cộng đồng từ đó tổ chức triển khai và hướng
dẫn, chỉ đạo cán bộ xã, phường thị trấn trực tiếp thực hiện ở cơ sở theo kế hoạch tỉnh
giao.
+ Hướng dẫn các địa phương thành lập tổ công tác và xây dựng kế hoạch của đại
phương về điều tra khảo sát nắm các đối tượng và lập hồ sơ điều tra tại gia đình, cộng
đồng, tăng cường đấu tranh phòng chống ma tuý, tích cực tham gia và tố giác tội phạm.
+ Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về
phòng chống ma tuý của các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân mà trước hết là đối
với thế hệ trẻ thanh niên.
+ Thực hiện công tác xã hội hoá công tác cai nghiện, phục hồi tạo thành phong
trào rộng khắp với sự tham gia tích cực của đông đảo nhân dân, huy động được các
nguồn lực từ xã hội và cộng đồng. Đề cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của gia đình, các
đoàn thể, tổ chức xã hội, các cấp, các ngành, lồng ghép chương trình phòng chống ma
tuý, cai nghiện phục hồi với các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương,
xoá đói giảm nghèo, dạy nghề, tạo công ăn việc làm có thu nhập ổn định cuộc sống.
c) Công tác phòng chống tệ nạn ma tuý.
Năm 2005 phấn đấu toàn thanh phố sẽ không còn ma tuý và giảm về số người
nghiện ma tuý với những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chủ trương, chính sách, kế hoạch về
phòng chống ma tuý. Tổ chức tập huấn cho cán bộ các cấp về Nghị quyết liên tịch số
546/2003/NQLT của Bộ LĐTBXH, Bộ Van hoá thông tin, UBTWMTTQ Việt Nam
cũng gia tăng. Theo thống kê, trên địa bàn thành phố hiện có khoảng 108 nhà nghỉ và
khách sạn ( trong đó chưa tính các tụ điểm vui chơi như quán nước, cà phê, karaoke).
Như vậy, cho thấy nhu cầu của dân trí đã cao hơn trước, đời sống của nhân dân từng
bước được nâng lên. Bên cạnh đó có nhiều hoạt động trái phép, trá hình dưới nhiều hình
thức kinh doanh. Nhiều nhà hàng khách sạn sử dụng nhân viên nữ để tổ chức mua, bán
mại dâm, tổ chức hoạt động mại dâm.
Trong năm 2004 vừa qua, dưới sự theo dõi, điều ra, Công an đã tiến hành bắt giữ
tại chỗ 8 vụ mua bán mại dâm tại các nhà hàng nhà nghỉ trên địa bàn thành phố, đã có
12 nữ tiếp viên tại các nhà hàng, khách sạn đã bị đưa đi cải tạo tại trung tâm. Qua hồ sơ
lý lịch của họ ho thấy, tuổi đời của các nữ tiếp viên còn rất trẻ chủ yếu là từ 16 đến 25
tuổi ( có 01 trường hợp dưới 16 tuổi).
Hầu hế những cô gái tham gia bán dâm đều xuất thân từ nông thôn, gia đình
nghèo, hoàn cảnh khó khăn nhưng không muốn làm việc mà vẫn có tiền ăn chơi vì vậy
họ đã không từ bỏ được con đường cũ, trở lại cuộc sống bình thường.
b) Các hoạt động về phòng chống mại dâm:
Trong năm 2004 và quý I năm 2005, Sở LĐTBXH tổ chức hội nghị triển khai
công tác phòng chống tệ nạn xã hội, mại dâm, ma tuý năm 2005. Thực hiện Kế hoạch số
06/KH - UB ngày 20/3/2003 về phòng chống tệ nạn mại dâm giai đoạn 2001 - 2005 của
UBND tỉnh. Căn cứ vào tình hình diễn biến tệ nạn mại dâm trên địa bàn thành phố, sở
Lao động TBXH xây dựng kế hoạch phòng chống tệ nạn mại dâm năm 2005 như sau:
- Chỉ đạo phòng Tổ chức LĐTBXH tham mưu cho UBND tổ chức hội nghị quán
triệt pháp lệnh phòng chống mại dâm. Nghị định số 178/NĐ - CP ngày 15/10/2004 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều của pháp lệnh phòng chống mại dâm. Tổ chức
cho các chủ cơ sở trên ký cam kết với các cơ quan chức năng ở địa phương thực hiện
nghiêm túc các quy định trong Pháp lệnh phòng chống mại dâm và các quy đinh chi tiết
tại Nghị định số 178/NĐ - CP của Chính phủ.
- Phối hợp với Công an tỉnh tổ chức công tác kiểm tra và điều tra, khảo sát nắm
c) Nhận xét đánh giá:
* Kết quả đạt được:
Nhìn chung trong công tác phòng chống ma tuý, mại dâm tong toàn thành phố đã
có những tiến triển tích cực và đạt hiệu quả đề ra. Số lượng vụ việc liên quan đến ma
tuý, người nghiện ma tuý và tham gia buôn bán ma tuý đã giảm hơn trước, các tổ chức
hoạt động kinh doanh đi vào nề nếp, hoạt động lành mạnh.
Công tác tuyên truyền vận động tới người dân đã đạt hệu quả nhất định, người
dân đã có ý thức tự giác tránh xa các tệ nạn xã hội và tố cáo với cơ quan địa phương khi
phát hiện buôn bán ma tuý hay tổ chức hoạt động mại dâm.
Công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện các văn bản của Trung ương, của tỉnh về
phòng chống mại dâm, ma tuý đảm bảo kịp thời, đúng kế hoạch đề ra.
* Những tồn tại, hạn chế:
Công tác tuyên tuyền về mại dâm, ma tuý ở các xã còn hạn chế, một bộ phận
đông nhân dân vẫn chưa được cung cấp đầy đủ các thông tin về ma tuý, mại dâm, nhiều
người chưa thấy được tác hại của ma tuý.
Sự quản lý lỏng lẻo, không đồng bộ giữa chính quyền các cấp, các ngành trong
công tác phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm.
Tại thành phố việc kiểm soát, ngăn chặn hoàn toàn tệ nạn ma tuý, mại dâm còn
nhiều khó khăn, phức tạp. Việc mua, bán vận chuyển và sử dụng trái phép ma tuý vừa
tinh vi, phổ biến thì việc cai nghiện ma tuý tại trung tâm là mô hình phù hợp nhất để
giúp người cai nghiện cách ly khỏi cơ hội tiếp xúc với ma tuý.
Đa số người nghiện và gái mại dâm có trình độ học vấn thấp, không có nghề
nghiệp, việc làm không ổn định sống phụ thuộc vào gia đình lại thích ăn chơi, hưởng
thụ do vậy sau thời gian ngắn họ lại trở về con đường cũ, bị ban bè xấu lôi kéo dẫn đến
tái nghiện.
2.3 Về công tác cứ trợ đột xuất và cứu trợ thường xuyên:
Trong bất cứ xã hội nào dù phát triển hay đang phát triển những con người có
cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì bên cạnh họ cũng sẽ luôn tồn tại một số người rơi vào