MỤC LỤC
3.2.3 Tăng cường đầu tư cho công nghệ thông tin.........................................................51
1
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, chúng ta đã được chứng kiến những
bước phát triển đột phá của khoa học và công nghệ, trong đó đặc biệt là công nghệ
sinh học và công nghệ thông tin. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã
góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, nâng cao năng suất lao động
làm cho chất lượng và tốc độ truyền tin ngày càng nhanh.
Thừa hưởng thành tựu của công nghệ hiện đại và khoa học ngân hàng, thẻ với
tính chất an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, gọn nhẹ mà không phải cần dùng tiền mặt đã
ra đời và từng bước thay thế các phương thức thanh toán cổ điển không còn phù hợp
với sự phát triển của kinh tế thế giới.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, thẻ đang đóng một vai trò hết
sức quan trọng đối với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, có ản hưởng đến chính sách
tiền tệ cũng như hiệu quả kinh doanh của mỗi ngân hàng. Đối với các ngân hàng
thương mại thì dịch vụ thẻ đang là định hướng mới cho hoạt động kinh doanh ngân
hàng với mục đích tăng thu nhập và mở rộng quy mô, giảm bớt rủi ro tín dụng từ hoạt
động tín dụng truyền thống của mình.
Sớm nhận thức được điều đó, trong 10 năm trở lại đây, các ngân hàng thương
mại như: ngân hàng Á Châu, Vietcombank, DongABank,… đang ngày càng chú
trọng hơn vào hoạt động kinh doanh thẻ để đạt được hiệu quả cao nhất. Không nằm
ngoài hệ thống các ngân hàng này, NHNN & PTNT Việt Nam cũng đang thực hiện
các kế hoạch đầu tư vào nhân lực và công nghệ nhằm phát triển dịch vụ thẻ. Là thành
viên tham gia sau nhưng hoạt động kinh doanh thẻ của NHNN & PTNT Việt Nam
cũng đã có những thành tựu nhất định; tuy nhiên so sánh với các ngân hàng khác thì
số lượng thẻ phát hành còn ít, doanh thu từ dịch vụ thẻ chưa cao, các tiện ích cung
cấp hạn chế, chưa khai thác được tiềm năng của dịch vụ thẻ trên thị trường. Từ thực
tiễn đó nên đề tài “ Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại NHNN & PTNT chi
nhánh Láng Hạ” đã được lựa chọn để nghiên cứu.
ngân hàng phát hành
Theo tính chất thanh toán:Thẻ ghi nợ, Thẻ tín dụng, Thẻ trả trước
Theo phạm vi lãnh thổ: Thẻ nội địa, Thẻ quốc tế
1.1.3 Vai trò của thẻ
Đối với người sử dụng thẻ:
Tiện lợi: Chủ thẻ có thể thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ, để rút tiền mặt hoặc
tiếp nhận một số dịch vụ ngân hàng tại các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ, máy
ATM, các ngân hàng thanh toán thẻ trong và ngoài nước. Bên cạnh đó khi dùng thẻ
thanh toán, chủ thẻ có thể chi tiêu trước, trả tiền sau hoặ có thể thực hiện dịch vụ mua
bán hàng hóa tại nhà…
4
An toàn: việc áp dụng công nghệ cao đối với thẻ, chủ thẻ được cung cấp mã số
cá nhân đên đảm bảo bí mật tuyệt đối các thông tin về thẻ cho chủ thẻ.
Linh hoạt: việc sử dụng thẻ tín dụng có thể giúp khách hàng điều chỉnh các
khoản chi tiêu một cách hợp lý trong một khoảng thời gian nhất định với hạn mức tín
dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong tiêu dùng, sinh hoạt cũng như sản xuất.
Đối với cơ sở chấp nhận thẻ
Cung ứng dịch vụ có chấp nhận thanh toán thẻ giúp bán được nhiều hàng hóa
hơn, do đó tăng doanh số, giảm chi phí bán hàng, tăng lợi nhuận. Đồng thời chấp
nhận thanh toán bằng thẻ góp phần làm cho nơi bán hàng trở nên văn minh hiện đại,
tạo cảm giác thoải mái cho khách hàng khi tới giao dịch, thu hút khách hàng khi tới
giao dịch. Không chỉ vậy, khoản tiền bán hàng được chuyển trực tiếp vào tài khoản
ngân hàng,do đó an toàn và thuận tiện hơn trong quản lý tài chính kế toán.
Đối với ngân hàng:
Việc tham gia hoạt động thẻ góp phần quan trọng để thu hút khách hàng, đa
dạng hóa sản phẩm của ngân hàng, tăng thị phần đối với những ngân hàng tham gia
hoạt động và phát triển dịch vụ bán lẻ.
Hoạt động kinh doanh thẻ được phát triển dựa trên công nghệ hiện đại vì thế
hầu hết giao dịch của khách hàng được thực hiện tự động góp phần nâng cao chất
lượng dịch vụ khách hàng, giảm chi phí nhân viên phục vụ.
mẻ tại Việt Nam, song với những văn bản pháp lý được ban hành trong thời gian qua
cũng đã và đang điều hành có hiệu quả hoạt động thanh toán này. Và có thể coi đây
là những bước khởi đầu cho sự phát triển của thị trường thẻ tại Việt Nam.
1.2.2 Các chủ thể tham gia vào quá trình phát hành và thanh toán thẻ
Để hoạt động thanh toán đảm bảo an toàn cho chủ thẻ và cả các đối tượng có
liên quan, thẻ thanh toán đòi hỏi có sự tham gia rất chặt chẽ của nhiều chủ thể.
Theo quyết định 20/2007/QĐ –NHNN các chủ thể tham gia phát hành và
thanh toán bao gồm:
6
Chủ thẻ: là cá nhân hoặc tổ chức được tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để
sử dụng bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ
Chủ thẻ chính: Là cá nhân hoặc tổ chức đứng tên hỏa thuận về việc sử dụng
thẻ với tổ chức phát hành thẻ và có nghĩa vụ thực hiện thỏa thuận đó.
Chủ thẻ phụ: Là cá nhân được chủ thẻ chính cho phép sử dụng thẻ theo thỏa
thuận về việc sử dụng thẻ giữa chủ thẻ chính và tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ phụ
chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẻ với chủ thẻ chính.
Tổ chức phát hành thẻ (viết tắt là TCPHT): Là ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng
được phép thiết kế các tiêu chuẩn kỹ thuật, ký hiệu, mật mã cho các loại thẻ của mình
và chịu trách nhiệm sản xuất để phân phối chúng. Tổ chức phát hành chịu trách
nhiệm: thẩm định khả năng tài chính, tính pháp lý của khách hàng; khi kết quả thẩm
định đạt yêu cầu thì phát hành thẻ cho khách hàng, sao kê cho chủ thẻ và yêu cầu
thanh toán với chủ thẻ tín dụng hoặc khấu trừ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ đối
với thẻ ghi nợ.
Tổ chức thanh toán thẻ (viết tắt là TCTTT): Là ngân hàng, tổ chức khác không
phải là ngân hàng được các tổ chức phát hành thẻ ủy quyền thực hiện dịch vụ thanh
toán thẻ theo hợp đồng hoặc là thành viên chính thức hoặc liên kết của tổ chức thanh
toán thẻ quốc tế, thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ theo thỏa thuận được ký kết với tổ
chức thẻ đó. Tổ chức thanh toán thẻ sẽ ký kết hợp đồng trực tiếp với đơn vị chấp
nhận thẻ để tiếp nhận và xử lý các giao dịch thẻ tại đơn vị chấp nhận thẻ, cung cấp
Tại các nước phát triển thì tổ chức chấp nhận thẻ phổ biến trong mọi lĩnh vực
kinh doanh, từ các cửa hàng ăn uống, các cửa hiệu bán lẻ tới các trung tâm thương
mại lớn, tổ chức lớn. Tuy nhiên ở Việt Nam do sự phát triển của thị trường thẻ còn
khá mới mẻ nên các đơn vị chấp nhận thẻ còn hạn chế, mới chỉ tập trung ở các khách
sạn lớn, trung tâm thương mại, các siêu thị lớn...
Người bảo lãnh phát hành: là người sử dụng tài sản của mình đảm bảo với tổ
chức phát hành thẻ về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ sau chủ thẻ. Thường bắt buộc với
thẻ tín dụng khi yêu cầu chứng minh khả năng tài chính mà chủ thẻ không đáp ứng
được, trong trường hợp đó người bảo lãnh phát hành thẻ được coi như yếu tố để
chứng minh khả năng tài chính của chủ thẻ.
Tổ chức thẻ quốc tế: là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn tham gia
phát hành và thanh toán thẻ quốc tế, đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức và công
ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh toán giữa các
công ty thành viên. Khác vơi ngân hàng thành viên, tổ chức thẻ quốc tế không có
quan hệ trực tiếp với đơn vị chấp nhận thẻ mà chỉ cung cấp một mạng lưới viễn thông
8
Sử
dụng
thẻ
thanh
toán
tiền
hàng
hoá
dịch
vụ
toàn cầu, phục vụ cho quy trình thanh toán và cấp phép cho các ngân hàng thành viên
một cách nhanh chóng. Một số tổ chức thẻ quốc tế như tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ
Master Card, công thẻ JBC…
1.2.3. Nghiệp vụ trong kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại
hoá
dịch
vụ
Cung
cấp
hàng
hoá
dịch
vụ, ứng
rút
tiền
mặt
(3)
(5)
(4) (6) (7) (8)
(7)
(8)
(4) (6)
Qui trình cấp phép
Qui trình đòi tiền
(4)
(6)
Qui trình thanh toán
(1) Khi một khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ, ngân hàng phát hành yêu cầu
khách hàng cung cấp hồ sơ cần thiết theo quy định để có thể phát hành thẻ cho khách
hàng, các giấy tờ tùy theo quy định của từng ngân hàng, từng quốc gia nhưng về cơ
bản là chứng minh thư nhân dân của khách hàng, khả năng thanh toán của khách
hàng và các tổ chức cá nhân có quan hệ.
(2) Sau khi thẩm định hồ sơ, nếu khách hàng đủ điều kiện làm thẻ thì ngân
hàng sẽ gửi hồ sơ về trung tâm thẻ.
ngân hàng lập bảng thông báo giao dịch gửi cho chủ thẻ yêu cầu thanh toán.
(8) Trong quá trình sử dụng, phát hành và thanh toán thẻ, ngân hàng phát hành,
ngân hàng thanh toán và tổ chức thẻ quốc tế có trách nhiệm giải quyết tất cả các
khiếu nại, tra soát, đòi bồi hoàn và sử lý các tranh chấp khác.
Đó là quá trình thanh toán thẻ cơ bản có sự tham gia của tổ chức thẻ quốc tế;
với thẻ nội địa quy trình thanh toán tương tự chỉ bỏ đi sự tham gia của tổ chức thẻ
quốc tế.
1.2.4 Rủi ro và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thẻ
1.2.4.1 Rủi ro và các loại rủi ro trong kinh doanh thẻ của NHTM
Kinh doanh là một ngành chứa đựng rất nhiều rủi ro và kinh doanh thẻ cũng
không nằm ngoài quy luật đó. Rủi ro và nguy cơ rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào
trong toàn bộ quá trình phát hành, thanh toán thẻ. Rủi ro xảy ra không chỉ gây tổn
thất cho các chủ thể tham gia hoạt động thẻ mà còn gây hậu quả lâu dài đối với xã
hội, gây mất lòng tin với công chúng với hệ thống ngân hàng.
Rủi ro trong kinh doanh thẻ là khả năng làm thay đổi lợi nhuận so với lợi nhuận
dự kiến của chủ thẻ, ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán hay với các đơn vị
chấp nhận thẻ. Các loại rủi ro:
Rủi ro về kỹ thuật : Do số lượng thẻ tham gia thanh toán rất lớn nên đòi hỏi phải
có một hệ thống công nghệ thông tin, trang thiết bị hiện đại; nếu không đáp ứng được
11
yêu cầu đó sẽ dẫn đến sự cố trục trặc trang thiết bị trong lúc thực hiện các giao dịch
gây rủi ro cho chủ thể tham gia và mất uy tín của ngân hàng.
Rủi ro trong quá trình phát hành thẻ:
Đơn xin phát hành với thông tin giả: do không thẩm định kỹ thông tin của khách
hàng nên ngân hàng có thể phát hành thẻ cho khách hàng đăng ký vỡi những
thông tin giả mạo ; trong trường hợp này ngân hàng có thể gặp rủi ro khi khách
hàng không có khả năng thanh toán. Nhưng trên thực tế điều này ít khi xảy ra vì
hợp đồng thẻ rất dễ kiểm tra và có bảo đảm cao do có thế chấp hoặc tài khoản tiền
gửi của khách hàng tại ngân hàng.
Thẻ giả: thẻ do các tổ chức tội phạm hoặc cá nhân làm giả thẻ căn cứ vào các
trên thẻ giả. Sau đó chúng thực hiện giao dịch giả mạo. hình thức
này đang tăng nhanh ở các nước tiên tiến.
Rủi ro về đạo đức: phát sinh khi nhân viên cơ sở chấp nhận thẻ cố
tình in ra nhiều bộ hóa đơn thanh toán thẻ nhưng chỉ giao một bộ
hóa đơn cho chủ thẻ ký thanh toán. Sau đó bộ hóa đơn in dư sẽ giả
mạo chữ ký của khách hàng để yêu cầu ngân hàng thanh toán chi
trả. Thiệt hại xảy ra có thẻ làm ảnh hưởng đến ngân hàng thanh toán
và ngân hàng phát hành.
Ngoài các rủi ro chính trên còn có một số nguy cơ rủi ro khác có thể
xảy ra nếu ngân hàng thành viên không chú trọng đúng mức tới việc
quản lý hệ thống xử lý dữ liệu và quản trị hệ thống kỹ thuật.
1.2.4.2 Phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ
Phòng ngừa rủi ro góp phần hạn chế tổn thất cho các ngân hàng thành viên,
các tổ chức thẻ quốc tế đã xây dựng một hệ thống các quy tắc tiêu chuẩn về quản lý
rủi ro và bảo mật cho các thành viên và xây dựng hệ thống mạng trực tuyến giữa các
13
tổ chức thẻ quốc tế với các thành viên để trao đổi xử lý thông tin quản trị rủi ro toàn
cầu. Nhưng điều quan trọng hơn cả là bản thân các ngân hàng thành viên phải có sự
quan tâm đặc biệt đến vấn đề phòng ngừa rủi ro của ngân hàng mình.
Phương pháp hạn chế rủi ro trong phát hành thẻ:
Trang bị kiến thức và nâng cao kiến thức cho tất cả các chủ thể tham
gia quá trình phát hành thẻ, đặc biệt là các quy định về sử dụng, thanh
toán, cập nhật các luật mới thường xuyên để tránh rủi ro
Quá trình thẩm định hồ sơ khách hàng, cán bộ thẩm định không chỉ
quan tâm đến giá trị tài sản đảm bảo mà quan trọng hơn cả là thẩm
định khả năng tài chính, khả năng thanh toán thường xuyên của khách
hàng bởi tài sản đảm bảo chỉ là phương án cuối cùng, không một ngân
hàng nào muốn bán tài sản đảm bảo của khách hàng vì nhiều lý do
trong đó có cả lý do nhân đạo.
Phối hợp chặt chẽ với cơ quan an ninh và tổ chức thẻ quốc tế, ngay khi
hoạt động thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt gây tốn kém
về chi phí: vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm, in tiền của hệ thống ngân hàng, không
an toàn, dễ bị cướp, mất trộm,tạo điều kiện cho kinh tế ngầm, trốn thuế và tham
nhũng; khó quản lý, kiểm soát chính xác thu nhập đối với những người có thu nhập
cao để tính thuế thu nhập cá nhân… Thẻ thanh toán giải quyết được tất cả những hạn
chế trên do đó đang dần trở thành phương tiện thanh toán phổ biến nhất hiện nay.
Hoạt động thanh toán thẻ quốc tế còn góp phần nâng cao dân trí, tạo cơ hội
hội nhập với cộng đồng quốc tế, thu hút được ngoại tệ vào Việt Nam thông qua các
chủ thẻ, khách du lịch nước ngoài tới Việt Nam.
Hơn nữa phát triển nghiệp vụ thẻ còn là công cụ kích cầu của nền kinh tế.
NHPH, tổ chức và các đơn vị chấp nhận thẻ có các chương trình khuyến mãi cho
15
khách hàng sử dụng thẻ thanh toán đã kích thích tiêu dùng và sử dụng thẻ, góp phần
kích cầu nền kinh tế. Ngoài ra việc phát triển hoạt động kinh doanh thẻ luôn đứng
trong sự cạnh tranh gay gắt không chỉ trong nước mà còn cả thị trường quốc tế nên
buộc các ngân hàng luôn phải tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, từ đó góp
phần hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và đồng thời cũng đẩy mạnh sự nghiệp hiện
đại hóa đất nước, tăng cường hội nhập với thị trường quốc tế.
Như vậy việc phát triển hoạt động kinh doanh thẻ hết sức cần thiết, nó đáp
ứng được đầy đủ nhu cầu sử dụng của các cá thể trong nền kinh tế đồng thời cũng
phù hợp với định hướng phát triển kinh tế- chính trị- xã hội của Việt Nam.
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của hoạt động kinh doanh thẻ
1.3.3.1 Chỉ tiêu định lượng
Số đơn vị chấp nhận thẻ và các ngân hàng tham gia liên kết thanh toán: số
đơn vị chấp nhận thẻ và các ngân hàng tham gia liên kết thanh toán càng nhiều thì
phạm vi phục vụ khách hàng càng mở rộng, tính tiện ích trong sử dụng thẻ của khách
hàng càng được nâng cao. Đây là điều kiện để thu hút khách hàng mở tài khoản thẻ
và sử dụng các dịch vụ thẻ của ngân hàng, là nhân tố góp phần phát triển hoạt động
kinh doanh thẻ của ngân hàng.
Số lượng thẻ: số lượng thẻ là tổng số thẻ được phát hành và đưa vào sử dụng.
Chi phí cho hoat động kinh doanh thẻ: Bên cạnh các khoản thu từ hoạt động
phát hành và thanh toán thẻ, kinh doanh thẻ cũng phải bỏ ra nhiều loại phí, khoản chi
này bao gồm: mua máy ATM, POS, các thiết bị giám sát, chi phí thuê mua mặt bằng
đặt máy ATM, chi phí làm thẻ, trả lương nhân viên kinh doanh thẻ, trả lãi tiền gửi
thanh toán của khách hàng,…với tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ,
máy móc hao mòn rất nhanh nên chi phí trang thiết bị máy móc chiếm tỷ trọng lớn.
Nếu chi phí này quá lớn so với khoản thu được từ thẻ sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả kinh
doanh thẻ.
17
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thẻ:
Lợi nhuận từ HĐKD thẻ = Thu từ HĐKD thẻ - chi cho HĐKD thẻ
1.3.3.2.Chỉ tiêu định tính
Thời gian thực hiện nghiệp vụ: thời gian thực hiện nghiệp vụ là yêu cầu đầu
tiên mà khách hàng quan tâm và là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng dịch vụ thẻ của
ngân hàng. Thời gian thanh toán càng ngắn không chỉ cho thấy trình độ công nghệ
mà còn thể hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng.
Tính chính xác của nghiệp vụ: Tính chính xác của nghiệp vụ thể hiện ở khối
lượng giao dịch, số tài khoản giao dịch … phải theo yêu cầu của khách hàng và quy
định của ngân hàng. Chỉ cần một nghiệp vụ thanh toán thiếu chính xác sẽ gây rủi ro
cho không chỉ khách hàng mà còn có thể gây ra rủi roc ho cả hệ thống. Do đó, tính
chính xác của nghiệp vụ cũng có thể được coi là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của
hoạt động kinh doanh thẻ.
Tính an toàn, bảo mật: trong quá trình giao dịch mọi thông tin về thẻ cũng
như chủ thẻ phải được giữ bí mật, vì vậy đây cũng là một tiêu chí không thể thiếu
trong việc đánh giá sự phát triển của hoạt động kinh doanh thẻ.
Tần suất giao dịch: tần suất giao dịch phản ánh số lượng giao dịch thực hiện
bằng thẻ qua máy ATM, POS trong một khoảng thơi gian nhất định. Tần suất giao
dịch này càng cao thì hiệu quả thanh toán của thẻ càng chất lượng.
Ngoài ra còn một số chỉ tiêu khác căn cứ vào trình độ công nghệ, chuyên môn
nghiệp vụ của từng ngân hàng, trong từng giai đoạn.
doanh thẻ không thể chỉ thực hiện một cách riêng lẻ mà cần phải có sự liên kết, mối
quan hệ với các ngân hàng và các đơn vị chấp nhận thẻ thanh toán. Càng nhiều ngân
hàng liên kết và đơn vị chấp nhận thẻ thì khả năng thu hút khách hàng sử dụng thẻ
của ngân hàng càng lớn và tất yếu sẽ tác động tích cực tới hoạt động kinh doanh thẻ
của ngân hàng.
19
Nguồn nhân lực: trong tất cả các hoạt động kinh tế chính trị xã hội, con người
luôn ở vị trí trung tâm; nghiệp vụ thẻ gắn liền với công nghệ hiện đại và tiên tiến nhất
đòi hỏi đội ngũ nhân viên có trình độ cao, không ngừng học hỏi. bên cạnh đó thái độ
phục vụ và chăm sóc khách hàng của nhân viên bộ phận thẻ cũng là một yếu tố rất
quan trọng đem lại sự thoải mái cho khách hàng, chiếm được lòng tin và dễ dàng thu
hút khách hàng, từ đó góp phần phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng.
1.3.4.2 Nhân tố khách quan
Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế: đất nước có nền kinh tế ổn định, phát
triển, thu nhập và nhu cầu của người dân cao sẽ tác động đến nhu cầu chi tiêu và tích
lũy. Khi mức tích lũy cao thì người dân sẽ tìm đến ngân hàng để sử dụng các dịch vụ
ngân hàng có khả năng đảm bảo an toàn và sinh lời cho khoản tích lũy của họ và thẻ
là một sản phẩm tiện ích đáp ứng được khá đầy đủ yêu cầu của khách hàng nên sẽ
được lựa chọn nhiều, tạo cơ hội cho kinh doanh thẻ phát triển. Ngược lại, khi nền
kinh tế khủng hoảng, lạm phát cao sẽ ảnh hưởng đến thu nhập, chi tiêu và tích lũy và
cả lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng. Lúc đó người dân sẽ có xu hướng
chuyển từ sử dụng thẻ ngân hàng để thanh toán sang dùng trực tiếp tiền mặt hoặc tích
trữ vàng, kim loại quý, ngoại tệ mạnh tại nhà, từ đó tác động tiêu cực tới hoạt động
kinh doanh thẻ của ngân hàng.
Chính trị xã hội: Chính trị là một yếu tố có tác động to lớn tới nền kinh tế.
Chính trị ổn định sẽ tạo môi trường kinh doanh an toàn, tác động tích cực tới nền
kinh tế, ngược lại nếu nền chính trị bất ổn định thì kinh tế không có cơ hội và môi
trường để phát triển. Khi kinh tế không phát triển thì tất yếu kinh doanh thẻ cũng
không có điều kiện để phát triển.
Yếu tố xã hội cũng vậy, một xã hội văn minh hiện đại, công nghệ thông tin
trường thẻ lúc này sẽ cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc các ngân hàng muốn phát
triển phải không ngừng cải tiến công nghệ, giảm chi phí phát hành và thanh toán, đa
dạng hóa dịch vụ, tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
21
Sự phát triển của công nghệ ngân hàng: thẻ ra đời dựa trên những thành tựu
của sự phát triển khoa học công nghệ. Đối với một quốc gia có công nghệ khoa hoc
phát triển, các ngân hàng ở nước này có thể cung cấp dịch vụ thẻ với sự nhanh chóng
và an toàn cao hơn, do đó việc luôn đầu tư nâng cấp hệ thống trang thiết bị phục vụ
cho quá trình phát hành và thanh toán thẻ đồng bộ và có khả năng tích hợp cao sẽ là
một yếu tố thu hút khách hàng sử dụng thẻ, tác động tích cực tới hoạt động kinh
doanh thẻ của ngân hàng.
Sự phát triển của thị trường thẻ quốc tế: thị trường thẻ tại Việt Nam phát triển
muộn hơn so với các nước khác trên thê giới. Du nhập vào Việt Nam những năm 90
nên Việt Nam được thừa hưởng những thành tựu phát triển và học hỏi nhiều trong
lĩnh vực kinh doanh thẻ của các nước khác, đây là một lợi thế nhưng cũng là một
thách thức lớn đối với các ngân hàng Việt Nam khi muốn mở rộng thị trường kinh
doanh ra nước ngoài, bên cạnh đó cũng đòi hỏi sự nghiên cứu ứng dụng để tham gia
sánh bước cùng thị trường thẻ tại các nước trên thê giới.
22
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NHNo & PTNT
CHI NHÁNH LÁNG HẠ
2.1 Giới thiệu chung về NHNo & PTNT Láng Hạ
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Agribank Láng Hạ
2.1.1.1 Giới thiệu chung về NHNo & PTNT Việt Nam
NHNo & PTNT Việt Nam (gọi tắt là Ngân Hàng Nông Nghiệp) là doanh
nghiệp nhà nước, kinh doanh tiền tệ, tiền đồng và dịch vụ ngân hàng đối với các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh kế trong và ngoài nước, làm ủy thác các
nguôn vốn ngắn, trung và dài hạn của chính phủ, các tổ chức kinh tế, xã hội, các nhân
trong và ngoài nước, thực hiện chủ yếu tin dụng nông thôn ở Việt Nam.
Qua 12 năm xây dựng và trưởng thành, chi nhánh Láng Hạ đã tự tin vững
bước trong công cuộc đổi mới, hòa mình với sự phát triển của hệ thống công nghệ
điện tử hiện đại, an toàn, tin cậy đạt hiệu quả với chuẩn mực quốc tế trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế.
Với mạng lưới giao dịch trải khắp trên địa bàn Hà Nội, tính đến nay chi nhánh
Láng Hạ đã có 6 Phòng giao dịch trực thuộc, cung cấp các sản phẩm dịch vụ Ngân
hàng hiện đại, nhanh chóng, với mức lãi suất và phí dịch vụ cạnh tranh, đa tiện ích,
nhằm đáp ứng yêu cầu của mọi đối tượng khách hàng, mở rộng cơ hội kinh doanh,
24
Phó giám đốc
Phòng HC & NS
tăng cường sự hợp tác giữa các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác, từng bước nâng
cao và giữ uy tín cũng như thương hiệu của chi nhánh trên thị trường tài chính nội địa
và quốc tế.
Các phòng giao dịch:
- phòng giao dịch số 2 tại 179 Phùng Hưng, Quận Hoàn Kiếm
- phòng giao dịch số 3 tại 159 Doãn Kế Thiện, Quận Cầu Giấy
- Phòng giao dịch số 5 tại C2 Trung Kính, Quận Cầu Giấy
- Phòng giao dịch số 7 tại 106 Đào Tấn, Quận Ba Đình
- Phòng giao dịch số 8 tại 102 Khuất Duy Tiến, Quận Thanh Xuân
- Phòng giao dịch số 11 tại 107D5 Nguyễn Phong Sắc Quận Cầu Giấy
Quy mô của chi nhánh cũng không ngừng lớn mạnh, từ một chi nhánh cấp 2
đến nay đã trở thành chi nhánh ngân hàng cấp 1, hạng 1 trực thuộc NHNo & PTNT
Việt Nam; ngoài các phòng, tổ chức tại trụ sở chính, chi nhánh còn có 2 chi nhánh
cấp 2 và 10 phòng giao dịch trực thuộc.
Nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng, mở rộng cơ hội kinh
doanh, tăng cường sự hợp tác giữa các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác, từng
bước phát triển thương hiệu của chi nhánh trên thị trường nội địa khu vực và sau
đó vươn xa hơn, NHNo & PTNT Láng Hạ đã khai thác mở rộng nhiều loại hình
sản phẩm dịch vụ hiện đại, nhanh chóng, tiện lợi với mức lãi suất và phí dịch vụ