Gía trị kinh tế của rừng ngập mặn và những vai trò của cộng đồng địa phương trong sự giữ gìn tài nguyên thiên nhiên - Pdf 15

ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 1
GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA RỪNG NGẬP MẶN VÀ
NHỮNG VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA
PHƢƠNG TRONG SỰ GÌN GIỮ TÀI NGUYÊN
THIÊN NHIÊN:

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG CỦA SURAT THANI, PHÍA
NAM, THÁI LAN.

ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 2
Suthawan Sathirathai 1.0. LỜI GIỚI THIỆU
Hệ sinh thái rừng ngập mặn là một phạm trù rất quan trọng của hệ thống

đất rừng ngập mặn. Trước đây, những khu vực là đất hoang cằn cỗi mà có thể cải
tạo đất để hoạt động kinh tế phát triển hữu ích cao (Hamilton và Snedaker 1984).
Hơn nữa, quốc gia kiếm được hơn $1200 triệu mỗi năm từ xuất khẩu tôm đông
lạnh (NESDB 1995). Như vậy chính phủ xem xét Bộ Thuỷ Sản (DOF) được theo
một điều khiển thiết lập chăn nuôi tôm mạnh mẽ thêm. Trong thực tế, nghề chăn
nuôi bất chấp thì khuyến khích nghề chăn nuôi không quan tâm đến khu vực trồng
trọt vào địa điểm. Rõ ràng sự thiếu sót chính sách gồm có không chỉ vấn đề của
một bất động sản không đúng chế độ, nhưng cũng có sự mâu thuẫn trong mục tiêu
chính sách bảo vệ đối với xuất khẩu.
Thật ra chính nghề nuôi tôm không ảnh hưởng đến môi trường mà cho rằng
dự phòng phí nước từ nông trại đã được thương lượng tốt trước khi thải vào hệ
thống nước. Những vấn đề đấu tranh xảy ra khi nuôi tôm trong khu vực sinh thái
rừng ngập mặn, vì việc nuôi tôm được cao “giá thị trường “ hơn so với rừng ngập
mặn , chính phủ đã đẩy mạnh vào việc chăn nuôi tôm và sự đẩy mạnh này đã đánh
giá rất cao với kết quả giá trị kinh tế. Toàn bộ giá trị kinh tế của rừng ngập mặn đã
đánh giá thấp bởi vì nó không có thị trường liên quan tới xã hội. Rừng ngập mặn
là thành phần tự nhiên, cho nên đầu tiên chọn chính sách một cách phù hợp nhất,
đó là điều cần thiết để đánh giá chính xác với giá trị của rừng ngập mặn và so với
việc chăn nuôi tôm hiện nay.
Ngoài ra, “vấn đề công lý” cần phải suy nghĩ sâu xa việc chăn nuôi tôm đã
thành công là vấn đề quan trọng nhất, nó cần phải có công nghệ hiện đại mà có giá
trị cao đối với người chăn nuôi quy mô nhỏ, một số lớn đã bị bỏ rơi bởi vì thiếu
nước để khai thác, bản chất và kết quả gây hại tới con tôm và kiến thức thực te
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 4

(CORIN 1995). Nó thích hợp với việc nuôi tôm hầu như hoàn toàn với một công
việc kinh doanh quy mô lớn, hợp thời. Nó cũng quan trọng nhưng cần chú ý một
số nhỏ dân chài trong phía Nam Thái Lan đã tuyên bố bạo động phản đối với việc

danh sách trong quá trình đề nghị hiện thời với sự tham khảo đầu tiên của nhà lập
pháp. Như vậy nó là sự quan trọng để điều tra với lợi ích của rừng ngập mặn cho
cộng đồng địa phương và đã khuyến khích thật sự với việc bảo vệ có hiệu quả tới
khu vực rừng ngập mặn. Tóm lại, mục tiêu nghiên cứu với việc kiểm soát chặt chẽ
sự phân tích kinh tế đã sử dụng kỹ thuật với giá trị để đánh giá ích lợi của rừng
ngập mặn so với lợi ích từ việc thay đổi khu vực rừng ngập mặn trở thành khu vực
nuôi tôm.
Trường hợp này nó giống trường hợp Ban Tha Po Moo 2 trong thị xã Tha
Thong, xã Kanjanadit của tỉnh Surat Thani trong đó 2.500 rai(400 ha). Rừng ngập
mặn đã được bảo vệ bởi người dân làng. Lợi ích của rừng ngập mặn với người dân
làng đã được đánh giá:
1.2 . Mục đích nghiên cứu :
Dự án nghiên cứu này thì dựa vào giả thuyết sau 1) Sự chuyển đổi hoàn
toàn của rừng ngập mặn trở thành thương nghiệp nuôi tôm đã không được đánh
giá nếu lợi ích của rừng ngập mặn that sự được đánh giá. 2) Lợi ích từ rừng ngập
mặn có thể cung cấp sự khuyến khích cho cộng đồng địa phương để bảo vệ sinh
thái. Sau đó, nếu chứng tỏ đúng hàm ý rằng quyền lợi của cộng đồng địa phương
này để canh giữ và bảo vệ tài nguyên đã được công nhận đúng theo pháp luật.
Mục tiêu nghiên cứu như sau:

1. Kiểm soát sự đánh giá kinh tế của khu vực rừng ngập mặn đã lựa chọn
để đánh giá cả giá trị thị trường và không có thị trường của khu vực bảo trợ a) một
số hoạt động kinh tế tức là bao gồm gỗ, sản phẩm phu và nghề đánh cá b) dịch vụ
sinh thái và môi trường như xuất khẩu biomass và dịch vụ vùng đáy biển cho
cuộc sống quan trọng đối với nghề đánh cá. Nhiệm vụ khác gồm có sự tịch thu
cacbon, sự baỏ vệ cơn bão, ổn định bờ biển và kiểm tra sự xói mòn đất và lũ lụt.
Những giá trị này là lợi ích đã tính của rừng ngập mặn mà có thể so sánh với thực
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 6

2.1. Các phƣơng pháp :
2.1.1. Tổng quát phương pháp cách tiếp cận và giá trị sử dụng:
Phương pháp giá trị kinh tế cần phải đánh giá tiền tệ với sự thay đổi trong
sự ấm no của mỗi người bởi sự thay đổi chất lượng môi trường. Đây là giá trị đánh
giá đã biết theo tổng giá trị kinh tế (TEV) mà gồm có giá trị sử dụng (UV) và giá
trị không sử dụng (NUV). Giá trị sử dụng có thể được chia ra là giá trị sử dụng
trực tiếp (IUV) và giá trị lựa chọn (OV). Giá trị gián tiếp thì xác định và đánh giá
hơn, có thể chia ra giá trị tồn tại (EV) và giá trị đề lại (BV) (xem hình 2.1)
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 7

Có một lý lẽ mà TEV không tương đương với tổng giá trị môi trường (TV
của một tài nguyên). TEV gồm có cả thuyết nhân loại bản vị dùng làm phương
tiện và giá trị thực chất. TV gồm có giá trị TEV cộng với giá trị dùng làm phương
tiện mà đó không có liên quan tới con người (giá trị dùng làm phương tiện không
thuyết nhân loại bản vị) (CSERGE 1995). Có 3 phương pháp khác nhau được sử
dụng để xác định hệ sinh thái vùng đất ẩm.
1) Cho nó tự phát triển và bảo trì tự nhiên mà có thể tìm đến tích tụ và tự
thành lập khả năng của vùng đất ẩm.
2) Xuất khẩu với hệ sinh thái khác.
3) Xuất khẩu tới xã hội con người.

Tổng giá trị kinh tế (TEV) Giá trị sử dụng (UV) Giá trị không sử dụng (NUV)

tiên mà thật ra là giá trị phương tiện không thuyết nhân loại bản vị và giá trị thứ
nhì gồm có cả phương tiện thuyết nhân loại bản vị và giá trị thực chất. Sau đó
thích hợp với TEV (tổng giá trị môi trường).
Mặc dù giá trị đầu tiên không liên quan trực tiếp tới con người, nó là giá trị
tăng viện tự nhiên tới sự tồn tại của hệ thống và sự tiếp tục. Tuy vậy, giá trị này có
thể được đánh giá một cách thô bạo theo sử dụng với sự tránh né gây thiệt hại chi
phí dự phòng hoặc phương pháp định giá thay thế. Ví dụ: với mục đích để xác
định số lượng giá trị trợ sinh của một vùng sinh thái đầm lầy đã nghiên cứu về
con người trong một giai đoạn mà đã thực hiện trong đảo Gotland trong nước
Thụy Điển, thì đã sử dụng sự phân tích năng lực( Folke 1991). Nó là điều kiện
chung trong sinh thái tới sự đánh giá tiềm lực của hệ sinh thái để phát sinh nhiệm
vụ sinh thái và dịch vụ theo đo số lượng của năng lượng với việc thu bằng sự
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 9

quang hợp. Bởi vậy sự điều tra đánh giá sự thất bại trong khả năng phát triển của
vùng đầm lầy trong hoạt động thu năng lượng mặt trời và phải sử dụng cây kim để
giảm bớt chức năng giá trị của vùng đầm lầy. Phương pháp tiếp cận thay thế thất
bại này với công nghệ mà con người đã làm ra.
Lý do này đã được đưa ra trình bày với mục đích bình luận tài liệu mà nhận
thấy quan trọng của sự khác nhau trong việc suy nghĩ bài học. Nhưng nó không có
liên quan nhiều tới việc nghiên cứu này mà đặt vào sự nhấn mạnh trên giá trị kinh
tế hoặc để gọi là giá trị đầu tiên của hệ thống rừng ngập mặn. Có 2 phương pháp
tiếp cận lớn đã được tính (Thurairaja 1994). Phương pháp tiếp cận thứ nhất : đánh
giá chung, là đánh giá tổng giá trị kinh tế (TEV) của rừng ngập mặn mà dựa trên
lợi ích của họ vaò trong giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng mà đã điều tra
trước (bảng 2.1). Phương pháp 2 chọn 1 hạng của giá trị rừng ngập mặn vào trong
4 phương vị (bảng 2.2). Phương pháp này cũng có thể thích hợp với 2 loại lớn của
sự đánh giá như phân loại theo Barbier: phân tích sự tác động và đánh giá từng

mà không thể thay đổi nguốn gốc tài nguyên được. Trong tính trạng này, cơ hội đề
biến đổi tài nguyên này vào trong một phương thức sử dụng sẽ được đánh giá
thấp, và sẽ dẫn tới việc sử dụng đất ẩm quá nhiều.
Căn cứ theo sự phân tích, áp tới hàm số sản xuất thì có liên quan với
phương pháp đánh giá thì sử dụng trong sự bắt lấy giá trị sử dụng gian tiếp của tài
nguyên đất ẩm (Barbier 1994).
Sự tin rằng tài nguyên đất ẩm phục vụ mỗi sản lượng trực tiếp hoặc đặc biệt
sản lượng đưa vào gian tiếp, trong thời gian kiểm soát nhiệm vụ sinh thái của họ
trong việc bảo trợ hoạt đồng kinh tế. {Q = F(X
i
……X
k
S); mà Q là một sản phẩm
từ bắt lấy phụ thuộc loại rừng ngập mặn ; S là khu vực rừng ngập mặn, X
i
……X
k

đặt vào tiêu chuẩn cho khu vực đánh cá}. Mô hình phát triển theo Ellis và Fisher
(1987) cũng đã sử dụng phương pháp hàm số sản xuất để điều tra nhiệm vụ môi
trường của vùng đẩm lấy Gulf coast trong việc bảo trợ thương nghiệp đánh con
cua biển.
Sử dụng phương pháp hàm số trong trường hợp này thì đơn gian bởi nó chỉ
có sử dụng một hệ thống. Nhưng khi kiểm soát một chức nặng sinh thái đã bảo trợ
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 11

mạnh hơn. Hoạt động kinh tế hoặc khi có sự kiểm soát chức năng sinh thái nhiều,
đây được trở thành một trường hợp đã sử dụng nhiều hệ thống mà trong đó sử

điều kiện đốt phá rừng, gỗ để đốt, gỗ khác và sản phẩm động vật như :chim, cua,
tập trung trực tiếp từ rừng ngập mặn ngập nước. Nếu sản phẩm đã bán được giá thị
trường thì sử dụng để tính toán tất cả thu nhập sản xuất, nhưng khi sản phẩm được
sử dụng chỉ có cho mục đích tồn tại, tổng thu nhập đã đánh giá dựa trên giá thay
thế với 2 loại đã có thể thực hiện theo phương pháp. Phương pháp thứ nhất thì sử
dụng giá trị thị trường mà đóng sản phẩm thay thế. Phương pháp thứ hai thì sử
dụng thời cơ đánh giá mà đã dùng thời gian tịch thu sản phẩm. Nhưng giá lấy ra
phải trừ từ tổng thu nhập và sẽ tìm ra giá trị sử dụng trực tiếp.
Giá trị sử dụng trực tiếp trong địa phương = thu nhập sản xuất cho địa
phương sử dụng = ∑ {P
1
Q
1
– C
1
}
Địa điểm P
1
= giá sản phẩm i ,Q
1
= số lượng sản phẩm i đã được thu lại , C
1

= giá thu hút trong khi thu lại sản phẩm i.
Sự điều tra thường dùng đã dẫn đến đạt được tần số và số lượng thu lại sản
phẩm lớn từ rừng ngập mặn, cũng như sức lao động đã dùng trong thu lại sản
phẩm đó. Kết quả đã trình bày trong chương 2.2.2.
2.1.3. Giá trị sử dụng gián tiếp : Sự kết hợp nghề đánh cá
Giá trị sử dụng gián tiếp xác định bởi góp phần vào tài nguyên trong điều
kiện môi trường của chúng và chức năng sinh thái rừng ngập mặn là bảo trợ sản

4
thì dựa trên hệ thống cân bằng sinh vật
học và kinh tế. Vì một số vấn đề dữ liệu và thời gian hạn chế, chỉ có một mô hình
1 đã thực hành trong việc đánh giá giá trị kinh tế rừng ngập mặn trong điều kiện
bảo trợ nghề đánh cá biển. Mô hình đã chọn thì được mô tả tóm tắt như sau :
. Mô hình Ellis –Fisher –Freeman
Mô hình dựa trên công việc của Lynne (1981) thì đã nghiên cứu mỗi quan
hệ của vùng tự nhiên đầm lầy với năng suất kinh tế (con cua xanh) trên biển
Florida. Người sáng tạo đã chọn mô hình kinh tế sinh vật liên quan khu vực đầm
lầy để chụp lấy tỉ lệ áp dụng theo một nhóm nhà sinh vật và theo mô hình của
Schaffer. Sản phẩm lề của vùng đầm lầy đã đánh giá bằng cách thực nghiệm.
Nhưng giá trị sử dụng gián tiếp của vùng đầm lầy trong điều kiện sản phẩm (con
cua xanh) đã được tính toán dựa trên giá trị sản phẩm lề theo trường hợp này đã
xem xét theo Ellis và Fisher(1987) với sự không thành công, việc đánh giá thay
đổi trong người tiêu dùng và nhà sản xuất thặng dư ,đã kết hợp mạnh hơn với khu
vực đầm lầy dựa trên số liệu và sự điều tra từ Lynne. Tất cả công việc của Ellis và
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 14

Fisher (1987) đã phát triển. sự dùng mô hình Cobb-Douglas từ đại biểu của sản
phẩm con cua xanh đánh giá vấn đề sắc mặt theo giá thương hồi :
max P* f (E,A) – cE

A

P :giá; E :động lực con người mà đánh giá theo số đặt bẫy.
A
-
:khu vực đầm lầy trong mẫu Anh mà tính toán exogeneous trong vấn đề

L

0


b
a
AmEx
L


Từ ở trên , E có thể giải quyết cho chức năng động lực ,

a
b
Am
X
E
1
][

Mà lợi ra chức năng đánh giá
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 15

a




Cho rằng iso-elastic cần phải chức năng: X=DP
-d
, ngược lại với chức năng
P = D
1/d
X
-1/d
Dưới chế độ hoàn toàn sở hữu cá nhân, lợi ích tối đa thương hồi sẽ cho giá
bằng nhau với chi phí lề. Số lượng bình quân có thể giải quyết như :

 
addda
a
b
ad
AmD
c
a
X
)1(/
11
}{



])1(/[
11
}
1
{
addda
a
b
ad
AmD
c
X



ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 16 Bởi vậy, có thể tính cả số lượng bình quân và giá kết hợp với trình độ khác
nhau của vùng đầm lầy mà có thể ước lượng. Sự phát triển trong vùng đầm lầy sẽ
hạ xuống tổn phí và từ bây giờ sẽ nay tới giá thấp. Nhưng dưới sự mở cửa , hạ
xuống tổn phí sẽ kéo lại động lực mới mà thậ ra cuối cùng sẽ thặng dư tất cả sản
phẩm, chỉ có người tiêu dùng sẽ có lợi ích. Giá trị phát triển trong vùng đầm lầy có
thể đánh giá trong điều kiện kết hợp mạnh thêm với người tiêu dùng thặng dư như
đã thấy theo khu vực bóng mát trong hình 2.2 với một chế độ hoàn toàn sở hữu cá
nhân, giá trị phát triển trong vùng đầm lầy có thể, nhưng trong điều kiện đánh giá
phải kết hợp mạnh trong trong cả nhà sản xuất và người tiêu dùng như đã nêu ra
với khu vực A trong hình 2.3.

nuôi tôm.
Dân làng đã quyết định thành lập một nhóm để bảo vệ 2,500 rai(400 ha)
còn lại trong đất rừng ngập mặn. Chúng tiếp tục phản đối lại với người kinh doanh
nuôi tôm mà đa số là dân tự có quyền lực. Nhưng trước đây, nhân viên của Ban
Lâm Nghiệp,ai có quyền lực pháp luật trong khu vực mà không có baỏ trợ từ ho,
trình bày theo pháp luật thì không có xác nhận cho họ đúng, nó chỉ mới xảy ra mà
đã được tiến bộ. Bộ Lâm Nghiệp trong địa phương đã bắt đầu chú ý tới sự quan
trọng của rừng ngập mặn, đặc biệt trong động lực môi trường sống quan trọng nhất
là những con chim. Bây giờ họ muốn chỉ định bao phủ rừng ngập mặn như bảo vệ
rừng và điều chế khu vực không có đi săn. Tuy vậy, dưới pháp luật hiện nay, bảo
vệ khu vực để không có đi săn và có thể ngăn trở nhân dân địa phương từ việc thu
lại sản phẩm của rừng. Dân làng trong địa phương đề nghị cộng đồng luật bảo vệ
rừng mà đã xác nhận trên giấy nhưng chưa được đề nghị giải thích đầu tiên bởi Hạ
Nghị Viện. Một thời gian đi qua, cộng đồng luật bảo vệ rừng đã cho phép cộng
đồng địa phương tham dự trong việc quản lý rừng trong thời gian dài của tài
nguyên này mà không thể mất danh giá rừng ngập mặn còn lại với 400 ha trong xã
Tha Po, gồm có nhiều loại như cây Nấm trắng, cây Giá, Thespesia populnea và
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 18

cây Được Bộp là những loại quan trọng nhất. Nhiều loại vào vị trí tỉ trọng của
rừng ngập mặn trong xã Tha Po được trình bày trên bảng 2.3.
Mức trung bình vị trí tỉ trọng của rừng ngập mặn là 2.256 cây/ha, với mức
trung bình sinh khối(biomass) khoảng 45.24 tấn/ha. Nó là sự quan trọng cần chú ý
tới, rừng thì đa số gồm có cây cỡ nhỏ.
2.2.2 Sự đánh giá giá trị sử dụng trong địa phƣơng
Giá trị sử dụng trực tiếp của rừng ngập mặn trong điều kiện sử dụng trong
địa phương thì bằng nhau giá trị mức lợi sản xuất từ rừng ngập mặn bởi dân địa
phương.

dùng thực tế, không muốn quan tâm tới người xâm phạm rừng. Nhưng sự phỏng
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 19

vấn đã tìm thấy đã số dân làng đã tập trung xây dựng gỗ của rừng ngập mặn không
phù hợp, và từ bay giờ số lượng thu lại của rừng ngập mặn thì coi như là nhỏ. Hơn
nữa, cây là một tương đổi nhỏ và vì thể cho nên không thể sử dụng gỗ, trữ ra với
sự dùng trong đồ dùng đánh cá.
Tất cả bản thông kế của nhiều sản phẩm trong xã Tho Po thì đã tỏ ra theo
mục trong bảng 2.4. Điều khoản sơ bộ đánh giá trị sử dụng trong địa phương đã
căn cứ trên 39 trường hợp (gần 35% của người bị cáo) đã báo cáo hoàn toàn với sự
thu lại từ nghề đánh cá và sản phẩm không có gỗ trực tiếp từ khu vực rừng ngập
mặn .
Nhưng chỉ có 28 trừơng hợp được cung cấp số liệu đề tính toàn mức thu
nhập mà phát sinh từ rừng ngập mặn. Số liệu mới nhất được căn cứ trên sự hương
dẫn quan sát mới đây trong tháng 6. nó tập trung trên địa phương sử dụng sản
phẩm gỗ như kết quả từ sự quan sát trước, mà cho thấy sản phẩm gỗ không thể
được thu lại tất cả bởi dân làng , một sự nghi ngờ.
Từ việc đã tổ chức trong vong nùa gió, một quan sát lớn của toàn bộ xã
không thể hương dẫn theo sự quan sát như trước được. Trong sự phỏng vấn 23 chỉ
có 10 được cung cấp cho đấy đủ số liệu trên địa phương sử dụng sản phẩm gỗ.
Như là thất dựa trên thực tế trươc mặt có thể thực hiện trong điều khiển tính toán
toàn bộ giá trị hàng năm. Sự giả thiết thì dựa trên thong tin phỏng vấn hương dẫn
trong khi dân làng tụ họp mà trong đó kẻ có chủ trưởng và nhóm quan sát đến
tham giá. Sự giả thiết thì 10% giá định trong xã đã thu lại nhiên liệu gỗ; 40% giá
định trong xã đã thu lại thân cây sử dụng để làm dụng cụ đánh cá; và 80% giá định
trong xã thu lại Mật ông từ rừng ngập mặn. Hơn nữa, giá thuế địa phương đã sử
dụng trong việc đánh giá hiện nay có thể giải quyết theo một cách sự thất mà dân
làng này đã dùng trong thời gian nghỉ việc của họ với thu lại sản phẩm này. Sự

3.) Giống như trường hợp 2 nhưng lới tức chính gồm có lợi nhuận từ than
củi. Thực ra trong trường hợp của xã Tho Po, không giá định naò kiêm được thu
nhập từ rừng ngập mặn. Rừng thì không sinh lợi như lúc trước khi nó bị suy thoái,
mặc dù nó đàng được phục hồi (chương 2.2.1). mô tả trường hợp 2, một xã phụ
thuộc vào rừng ngập mặn với rừng sinh lợi nhiều hơn. Từ khi có số liệu không
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 21

thực tế trường hợp trên, sự giả thuyết đã tạo nên rằng mỗi gia đình kiếm được mức
thu nhập hàng năm gần bằng trong trường hợp của xã Tha Po trên một xác nhận
căn bản. Giá trị sử dụng trong địa phương mỗi rai mỗi năm đã được tính toán
(bảng 2.6 ). Bình thường, sinh lợi rừng nhập mặn cũng là nguồn gốc tốt của than
củi. Mức thu nhập trung bình hàng năm của than củi kiếm được từ rừng ngập mặn
được ước lượng khoảng 2299.18 baht (US $91.97). Giá trị sử dụng mỗi rai mỗi
năm trong trường hợp với sinh lợi từ than củi đã được tính toán và trình bày trong
bảng 2.6.
2.2.3. Giá trị trong điều kiện kết hợp với nghề đánh cá :
Trong nghiên cứu này, giá trị sử dụng gián tiếp của rừng ngập mặn trong
điều kiện bảo hộ với nghề đánh cá đã được đánh giá theo áp dụng của Ellis –
Fisher- Freeman( như mô tả trong chương 2.1) mà giá trị tập trung là xác định
bằng một thay đổi trợ cấp xã hội (cả trong điều kiện của người tiêu dùng và nhà
sản xuất thặng dư).
Haitrường hợp của chế độ quản lý cho nghề đánh cá đã giả thiết: tính trạng
tự do tiếp cận và điều khiển nghề đánh cá theo cộng đồng địa phương. Trong
trường hợp đầu tiên, một tính trạng tự do tiếp cận , giá trị của rừng ngập mặn trong
điều kiện bảo hộ của nghệ đánh cá đã xác định bằng một thay đổi chỉ trong người
tiêu dùng thặng dư. Chế độ quản lý nghề đánh cá thì tương tự chế độ sở hữu quản
lý tư nhân trong nguyên văn của Ellis và Fisher Model (xem chương 2.1). giá trị
của rừng ngập mặn trong điều kiện bảo hộ của nghề đánh cá đã đánh giá bằng thay

cá sử dụng trong khu vực nghiên cứu là “gill net”. “Động lực đánh cá” đã xác định
trong nghiên cứu hiện nay là số giờ đã dùng trong đánh cá với những dụng cụ này
mỗi năm. Trong thời điểm này, từ “gill net” sẽ được dùng như dụng cụ đánh cá
căn bản, không cần có tiêu chuẩn hoá đơn vị của động lực đánh bắt cá.
Để nhận được thông tin một loạt thời gian đối với động lực đánh bắt cá, số
trung bình đã dùng theo giờ trên việc đánh cá với mỗi người đã dùng dụng cụ đánh
cá mỗi năm thì được tính toán dựa trên số liệu phỏng vấn mà thu được trong
khiquan sát cuối cùng với người đánh cá. Giá trị được trình bày trong bảng 2.7 .
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 23

Tổng cộng động lực đánh cá mỗi năm là số dụng cụ đánh cá dược ghi chép
mỗi năm thì được so sánh với số trung bình mà đã dùng theo giờ trên việc đánh cá
với mỗi dụng cụ đánh cá mỗi năm. Mặc dù khu vực nghiên cứu nằm trong vị trí
khu vực đánh cá 3, số liệu đã dùng bao gồm tất cả trong 5 khu vực đánh và nó
hoàn toàn tốt hơn khi có thể thu được số liệu nhiều cho econometric trên việc đánh
giá tham số sản xuất.
Kết quả thực nghiệm :
- Sự cố gắng để có thể đánh giá ham số, sản xuất Cobb-Douglas dựa trên
số liệu đã thu được bởi cả demersal và loài tôm cua :

b
a
AmEAEfX  ),( - A Least Square Estimation of the function :

AbEamX lnlnlnln 


10
5
X
0.723467
A
1.26701
(cá đáy)
AC = 2.6191

10
2
X
0.090366
A
-0.20884
(loài tôm cua)
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 24 Quản lý nghề đánh cá
Trong trường hợp nghiên cứu nghề đánh cá, như dưới chế độ quản lý sở
hữu tư nhân, một người đánh cá đã bán sản phẩm đánh cá với giá bằng (MC).

a
a
a
b

1.26701
(cá đáy)
MC = 2.6191

10
2
X
0.090366
A
-0.20884
(loài tôm cua)

Trong việc nghiên cứu này, hàm số đã dùng thì cần phải giải quyết với 5
phương thức. Tất cả đường biểu thị của hàm số phải đi qua số liệu đã được quan
sát trên 1993 (dựa vào một trường hộp) thì có giá bằng 37.81 baht/kg và thu hoạch
được 1,545.000 kg với cá đáy và với vấn đề giá bằng 64.49 baht/kg và thu hoạch
được 1.917.000 kg với loài tôm cua. Từ không có được cung cấp thông tin mới
cho việc nghiên cứu này mà cần phải thực tế để có thể dùng được hàm số. Sự giải
quyết hàm số đã được tạo ra dựa trên sự chọn lựa khác nhau thì cần phải tính mềm
mỏng -10, -2,-1, -0,5 và -0,1 với sự thủ tính chất.
Giá trị sử dụng gian tiếp của rừng ngập mặn trong điều kiện bảo hộ nghề
đánh cá (cả cá đáy và tôm cua) đã được đánh giá theo một tính trạng mà đã được
thiết hại hết 7000 rai của rừng ngập mặn trong xã Tho Po, đã cho 2 giải đoạn khác
nhau trước và sau khi bị thiết hại của khu vực rừng. Liên kết giá cân bằng và mực
số lượng có thể giải quyết dưới sự chọn lựa 5 hàm số khác nhau (bảng 2.10 và
2.11)
ECONOMIC VALUATION OF MANGROVES AND THE ROLES OF LOCAL
COMMUNITIES IN THAILAND
[Type text] Page 25


A
Q
b



( khi Q là số bắt và A là hàm số sản xuất Cobb- Douglas
trong khu vực rừng ngập mặn). Trong sự nghiên cứu hiện nay, thông số b đã được
đánh giá( từ econotrics) với 0.73515 đối với cá đáy và 0.19153 đối với tôm
cua(xem bảng 2.8 và 2.9 ) .
Trong trường hợp này,
A
Q


thì chỉ tính với 4.12 đối với cá đáy và 2.77 đối
với tôm cua, đã tương đối với nhau, đây có nghĩa là trong mỗi rai của sản xuất

Trích đoạn Khả năng của dân làng với sự tham dự trong việc bảo vệ rừng ngập mặn : KẾT LUẬN VÀ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status