đồ án môn học thiết kế, chế tạo mạch điều khiển động cơ điện một chiều - Pdf 15

TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
ĐỒ ÁN MÔN HỌC 4
(CHUYÊN NGÀNH 1)
Tên đề tài:
Thiết kế , chế tạo mạch điều khiển
động cơ điện một chiều
Số liệu cho trước:
- Thông số của các loại linh kiện điện tử chuyên dụng
- Các tài liệu, giáo trình chuyên môn.
Nội dung cần hoàn thành:
1. Tìm hiểu về ứng dụng của động cơ điện một chiều, vi điều khiển
PIC16F877A
2. Phân tích, xác định yêu cầu của đề tài
3. Phân tích, lựa chọn kết cấu cho mô hình, thiết kế và chế tạo mạch
điều khiển động cơ điện một chiều
4. Lập kế hoạch và thực hiện các báo cáo theo đúng tiến độ.
Quyển thuyết minh và các bản vẽ, file mô tả đầy đủ nội dung của đề tài.
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
Mục Lục
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN


Xuất phát từ thực tế đó chúng em đã tập chung nghiên cứu về ứng
dụng của vi điều khiển, động cơ điện một chiều và cách “điều khiển động cơ
điện một chiều” dưới sự hướng dẫn của thầy Phạm Xuân Hiển.
Do kinh nghiệm chưa nhiều, kiến thức chuyên môn chưa thực sự sâu
nên đồ án của chúng em không thể tránh khỏi những thiếu xót. Chúng em rất
mong được sự đóng góp của thầy cô cùng các bạn sinh viên để đề tài của
chúng em được hoàn thiện hơn.
Hưng yên tháng 12 năm 2009
Nhóm sinh viên thự hiện
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Đặt vấn đề
Với xu thế khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhất là
trong các lĩnh vực như thông tin viễn thông, điện tử công nghiêp, nhiều thiết
bị, linh kiện mới ra đời đã dần thay thế cho các thiết bị, linh kiện trước đó có
phần hạn chế.
Sự vi mạch hóa đã đem lại những lợi ích to lớn cho cuộc sống của con
người. Hầu hết khi xử lý dữ liệu, điều khiển người ta đều chọn xử lý trên nền
tảng số học và đại số logic, với sự trợ giúp của các hệ vi điều khiển.
Động cơ điện một chiều là một loại thiết bị được sử dụng rất nhiều
trong sinh hoạt thường ngày. Chúng có những ứng dụng rất lớn, từ những
chiếc radio đến vô tuyến rồi đến những thiết bị hiện đại như máy tính đều có
sự hiện diện của động cơ điện một chiều. Nhưng nếu không điều khiển được
thì chúng sẽ không thể phát huy được hết chức năng của nó. Vì vậy việc điều
khiển động cơ điện một chiều là hết sức quan trọng.
Trong lĩnh vực điều khiển động cơ điện một chiều, ta có thể sử dụng
kết hợp với vi điều khiển nhằm đơn giản hóa mạch điều khiển và đơn giản

Sau khi bắt tay vào thực hiện đề tài, chúng em đã tuân thủ các bước thiết
kế sau:
- Thu thập dữ liệu.
- Phân tích dữ liệu.
- Đề ra các phương án và lựa chọn phương án tối ưu.
- Thi công.
- Kiểm tra và đưa ra kết luận.
1.5. Mở rộng đề tài
Vì đây chỉ giới hạn là một đồ án môn học nên trong quá trình thực hiện,
đề tài vẫn gặp phải một số hạn chế như chưa điều khiển được vòng kín, chưa
hiển thị được tốc độ động cơ,
Vì vậy hướng mở rộng đề tài của chúng em đó là thiết kế một bộ điều
khiển hoàn chỉnh, có phản hồi vòng kín, có hiển thị tốc độ động cơ, tự động
điều khiển tốc độ,
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Cơ sở phần cứng
Vi điều khiển
Khái niệm
Vi điều khiển là một máy tính được tích hợp trên một chíp, nó thường
được sử dụng để điều khiển các thiết bị điện tử. Vi điều khiển, thực chất, là
một hệ thống bao gồm một vi xử lý có hiệu suất đủ dùng và giá thành thấp
(khác với các bộ vi xử lý đa năng dùng trong máy tính) kết hợp với các khối
ngoại vi như bộ nhớ, các mô đun vào/ra, các mô đun biến đổi số sang tương
tự và tương tự sang số, Ở máy tính thì các mô đun thường được xây dựng
bởi các chíp và mạch ngoài.
Vi điều khiển thường được dùng để xây dựng các hệ thống nhúng. Nó

• PPC 440EP/EPx/GRx
• PPC 440SP/SPe
1.2.2. Họ vi điều khiển Atmel
• Dòng Atmel AT91 (Kiến trúc ARM THUMB)
• Dòng AT90, Tiny & Mega – AVR (Atmel Norway design)
• Dòng Atmel AT89 (Kiến trúc Intel 8051/MCS51)
• Dòng MARC4
1.2.3. Họ vi điều khiển Cypress MicroSystems
• CY8C2xxxx (PSoC)
1.2.4. Họ vi điều khiển Freescale Semiconductor. Từ năm 2004,
những vi điều khiển này được phát triển và tung ra thị
trường bởi Motorola.
• Dòng 8-bit
68HG05 (CPU05)
68HG08 (CPU08)
68HG11 (CPU11)
• Dòng 16-bit
68HC12 (CPU12)
68HC16 (CPU16)
Freescale DSP56800 (DSP controller)
• Dòng 32-bit
Freescale 683XX (CPU32)
MPC500 MPC 860 (PowerQUICC)
MPC 8240/8250 (PowerQUICC II)
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
MPC 8540/8555/8560 (PowerQUICC III)
1.2.5. Họ vi điều khiển Fujitsu

LPC2000
LPC900
LCP700
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
Động cơ điện một chiều
Động cơ điện một chiều là động cơ điện hoạt động với dòng điện một
chiều. Động cơ điện một chiều ứng dụng rộng rãi trong các ứng dụng dân
dụng cũng như công nghiệp. Thông thường động cơ điện một chiều chỉ chạy
ở một tốc độ duy nhất khi nối với nguồn điện, tuy nhiên vẫn có thể điều khiển
tốc độ và chiều quay của động cơ với sự hỗ trợ của các mạch điện tử cùng
phương pháp PWM.
Động cơ điện một chiều trong dân dụng thường là các dạng động cơ
hoạt động với điện áp thấp, dùng với những tải nhỏ. Trong công nghiệp, động
cơ điện một chiều được sử dụng ở những nơi yêu cầu moment mở máy lớn
hoặc yêu cầu thay đổi tốc độ trong phạm vi rộng.
Cấu tạo
Cấu tạo của động cơ gồm có 2 phần: stato đứng yên và rôto quay so với
stato. Phần cảm (phần kích từ-thường đặt trên stato) tạo ra từ trường đi trong
mạch từ, xuyên qua các vòng dây quấn của phần ứng (thường đặt trên rôto).
Khi có dòng điện chạy trong mạch phần ứng, các thanh dẫn phần ứng sẽ chịu
tác động bởi các lực điện từ theo phương tiếp tuyến với mặt trụ rôto, làm cho
rôto quay. Chính xác hơn, lực điện từ trên một đơn vị chiều dài thanh dẫn là
tích có hướng của vectơ mật độ từ thông B và vectơ cường độ dòng điện I.
Một phần quan trọng của động cơ điện một chiều là bộ phận chỉnh lưu,
nó có nhiệm vụ là đổi chiều dòng điện trong cuộn rotor trong khi chuyển
động quay của rotor là liên tục. Thông thường bộ phận này là bộ phận gồm
có một bộ cổ góp và một bộ chổi than tiếp xúc với cổ góp. Đây cũng chính là

ư
Trong đó:
Φ : từ thông trên mỗi cực (Wb)
I
ư
: dòng điện phần ứng (A)
V : điện áp phần ứng (V)
R
ư
: điện trở phần ứng (Ω)
Ω : tốc độ động cơ (rad/s)
M : momen động cơ (Nm)
K : hằng số, phụ thuộc cấu trúc động cơ
Phương pháp điều khiển tốc độ động cơ
Thông thường, tốc độ quay của một động cơ điện một chiều tỷ lệ với
điện áp đặt vào nó, và ngẫu lực quay tỷ lệ với dòng điện. Điều khiển tốc độ
của động cơ có thể bằng cách điều khiển các điểm chia điện áp của bình ắc
quy, điều khiển bộ cấp nguồn thay đổi được, dùng điện trở hoặc mạch điện
tử Chiều quay của động cơ có thể thay đổi được bằng cách thay đồi chiều
nối dây của phần kích từ, hoặc phần ứng, nhưng không thể được nếu thay đổi
cả hai. Thông thường sẽ được thực hiện bằng các bộ công tắc tơ đặc biệt
(Công tắc tơ đổi chiều).
Điện áp tác dụng có thể thay đổi bằng cách xen vào mạch một điện trở
nối tiếp hoặc sử dụng một thiết bị điện tử điều khiển kiểu chuyển mạch lắp
bằng Thyristor, transistor hoặc loại cổ điển hơn nữa bằng các đèn chỉnh lưu
hồ quang Thủy ngân. Trong một mạch điện gọi là mạch băm điện áp, điện áp
trung bình đặt vào động cơ thay đổi bằng cách chuyển mạch nguồn cung cấp
thật nhanh. Khi tỷ lệ thời gian "on" trên thời gian "off" thay đổi sẽ làm thay
đổi điện áp trung bình. Tỷ lệ phần trăm thời gian "on" trong một chu kỳ
chuyển mạch nhân với điện áp cấp nguồn sẽ cho điện áp trung bình đặt vào

Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
mà còn phá hủy nghiêm trọng đường ray và bề mặt bánh xe vì chúng bị đốt
nóng và làm lạnh quá nhanh. Việc giảm từ trường trong bộ điều khiển điện tử
được ứng dụng để tăng tốc độ tối đa của các phương tiện vận tải chạy bằng
điện. Dạng đơn giản nhất là dùng một bộ đóng cắt và điện trở làm yếu từ
trường, một bộ điều khiển điện tử sẽ giám sát dòng điện của động cơ và sẽ
chuyển mạch, đưa các điện trở suy giảm từ vào mạch khi dòng điện của động
cơ giảm thấp hơn giá trị đặt trước. Khi điện trở được đưa vào mạch, nó sẽ
làm tăng tốc động cơ, vượt lên trên tốc độ thông thường ở điện áp định mức.
Khi dòng điện tăng bộ điều khiển sẽ tách điện trở ra, và động cơ sẽ trở về
mức ngẫu lực ứng với tốc độ thấp.
Một phương pháp khác thường được dùng để điều khiển tốc độ động cơ
một chiều là phương pháp điều khiển theo kiểu Ward-Leonard. Đây là
phương pháp điều khiển động cơ một chiều (thường là loại kích thích song
song hay hỗn hợp) bằng cách sử dụng nguồn điện xoay chiều, mặc dù nó
không được tiện lợi như những sơ đồ điều khiển một chiều. Nguồn điện xoay
chiều được dùng để quay một động cơ điện xoay chiều, thường là một động
cơ cảm ứng, và động cơ này sẽ kéo một máy phát điện một chiều. Điện áp ra
của phần ứng máy phát một chiều này được đưa thẳng đến phần ứng của
động cơ điện một chiều cần điều khiển. Cuộn dây kích từ song song của cả
máy phát điện và động cơ điện một chiều sẽ được kích thích độc lập qua các
biến trở kích từ. Có thể điều khiển tốc độ động cơ rất tốt từ tốc độ = 0 đến tốc
độ cao nhất với ngẫu lực phù hợp bằng cách thay đổi dòng điện kích thích
của máy phát và động cơ điện một chiều. Phương pháp điều khiển này đã
được xem là chuẩn mực cho đến khi nó bị thay thế bằng hệ thống mạch rắn
sử dụng Thyristor. Nó đã tìm được chỗ đứng ở hầu hết những nơi cần điều
khiển tốc độ thật tốt, từ các hệ thống thang nâng hạ người trong các hầm mỏ,
cho đến những máy công nghiệm cà các cần trục điện. Nhược điểm chủ yếu

GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
I. Cơ sở phần mềm – ngôn ngữ lập trình C
1. Giới thiệu
C là một ngôn ngữ cấp cao do Dennis Richie thiết kế tại phòng thí
nghiệm Bell Telephone vào năm 1972, khi viết hệ điều hành Unix. C có
nguồn gốc sâu sa từ ngôn ngữ BCPL do Martin Richards đề xuất vào năm
1967 và từ ngôn ngữ B do Ken Thompson phát triển từ ngôn ngữ BCPL vào
năm 1970.
Lúc đầu, C được thiết kế để lập trình trong môi trường của hệ điều hành
Unix nhằm mục đích hỗ trợ cho các công việc lập trình phức tạp. Nhưng về
sau, với những nhu cầu phát triển ngày một tăng của công việc lập trình, C đã
vượt qua khuông khổ của phòng thí nghiệm Bell và nhanh chóng hội nhập
vào thế giới lập trình đề rồi được các nhà lập trình sử dụng một cách rộng rãi.
Sau đó, các công ty sản xuất phần mềm lần lượt đưa ra những phiên bản hỗ
trợ cho việc lập trình bằng ngôn ngữ C và chuẩn ANSI C cũng được khai
sinh từ đó.
Ngôn ngữ C có những đặc điểm cơ bản như sau:
 Tính cô đọng: C chỉ có 32 từ khoá chuẩn và 40 toán tử chuẩn
 Tính cấu trúc: C có một tập hợp những chỉ thị của lập trình có cấu
trúc: lựa chọn, lặp à rõ ràng, dễ hiểu.
 Tính tương thích: C có bộ tiền xử lí và một thư viện chuẩn vô cùng
phong phú à chuyển từ máy này sang máy khác, chương trình viết
bằng C vẫn tương thích
 Tính linh động: C rất uyển chuyển về ngữ pháp, chấp nhận nhiều
cách thể hiện
 Biên dịch: C cho phép biên dịch nhiều tập tin chương trình riêng rẽ
à các đối tượng và liện kết các đối tượng lại với nhau à Một

o <biểu thức 2>: Kiểm tra điều kiện của vòng lặp
o <biểu thức 2>: Điều khiển biến đếm của vòng lặp
ii. Cấu trúc: while
while <điều kiện>
{
<khối lệnh>;
}
iii. Cấu trúc: do…while
do
{ <khối lệnh>; }
while <điều kiện>;
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
Chương 3. VI ĐIỀU KHIỂN PIC16F877A
PIC là viết tắt của “Programable Intelligent Computer”, có thể tạm dịch
là “máy tính thông minh khả trình” do hãng Genenral Instrument đặt tên cho
vi điều khiển đầu tiên của họ: PIC1650 được thiết kế để dùng làm các thiết bị
ngoại vi cho vi điều khiển CP1600. Vi điều khiển này sau đó được nghiên
cứu phát triển thêm và từ đó hình thành nên dòng vi điều khiển PIC ngày nay.
1. Lý do sử dụng vi điều khiển PIC cho đề tài
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều họ vi điều khiển như 8051,
Motorola 68HC, AVR, ARM, Ngoài họ 8051 được hướng dẫn một cách
căn bản ở môi trường đại học, bản thân người viết đã chọn họ vi điều khiển
PIC để mở rộng vốn kiến thức và phát triển các ứng dụng trên công cụ này vì
các nguyên nhân sau:
- Họ vi điều khiển này có thể tìm mua dễ dàng tại thị trường Việt Nam.
- Giá thành không quá đắt.
- Có đầy đủ các tính năng của một vi điều khiển khi hoạt động độc lập.

Các đặc tính ngoại vi bao gồmcác khối chức năng sau:
• Timer0: bộ đếm 8 bit với bộ chia tần số 8 bit.
• Timer1: bộ đếm 16 bit với bộ chia tần số, có thể thực hiện chức
năng đếm dựa vào xung clock ngoại vi ngay khi vi điều khiển
hoạt động ở chế độ sleep.
• Timer2: bộ đếm 8 bit với bộ chia tần số, bộ postcaler.
• Hai bộ Capture/so sánh/điều chế độ rông xung.
• Các chuẩn giao tiếp nối tiếp SSP (Synchronous Serial Port), SPI
và I2C.
• Chuẩn giao tiếp nối tiếp USART với 9 bit địa chỉ.
• Cổng giao tiếp song song PSP (Parallel Slave Port) với các chân
điều khiển RD, WR, CS ở bên ngoài.
Các đặc tính Analog:
• 8 kênh chuyển đổi ADC 10 bit.
• Hai bộ so sánh.
Bên cạnh đó là một vài đặc tính khác của vi điều khiển như:
• Bộ nhớ flash với khả năng ghi xóa được 100.000 lần.
• Bộ nhớ EEPROM với khả năng ghi xóa được 1.000.000 lần.
• Dữ liệu bộ nhớ EEPROM có thể lưu trữ trên 40 năm.
• Khả năng tự nạp chương trình với sự điều khiển của phần mềm.
• Nạp được chương trình ngay trên mạch điện ICSP (In Circuit
Serial-Programming) thông qua 2 chân.
• Watchdog Timer với bộ dao động trong.
• Chức năng bảo mật mã chương trình.
• Chế độ Sleep.
• Có thể hoạt động với nhiều dạng Oscillator khác nhau.
2.3. Tổ chức bộ nhớ
Cấu trúc bộ nhớ của vi điều khiển PIC16F877A gồm có bộ nhớ
chương trình (program memory) và bộ nhớ dữ liệu(data memory).
GVHD: Phạm Xuân Hiển

không được địa chỉ hóa bởi
bộ đếm chương trình. Bộ nhớ stack sẽ được đề cập cụ thể trong phần sau.
2.3.2. Bộ nhớ dữ liệu
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
Bộ nhớ dữ liệu của PIC là bộ nhớ EEPROM được chia ra làm nhiều
bank. Đối với PIC16F877A bộ nhớ dữ liệu được chia ra làm 4 bank. Mỗi
bank có dung lượng 128 byte, bao gồm các thanh ghi có chức năng đặc biệt
SFG (Special Function Register) nằm ở các vùng địa chỉ thấp và các thanh
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
ghi mục đích chung GPR (General Purpose Register) nằm ở vùng địa chỉ còn
lại trong bank. Các thanh ghi SFR thường xuyên được sử dụng (ví dụ như
thanh ghi STATUS) sẽ được đặt ở tất cà các bank của bộ nhớ dữ liệu giúp
thuận tiện trong quá trình truy xuất và làm giảm bớt lệnh của chương trình.
Sơ đồ cụ thể của bộ nhớ dữ liệu PIC16F877A như bảng trên:
Dựa trên sơ đồ 4 bank bộ nhớ dữ liệu PIC16F877A ta rút ra các nhận
xét như sau :
- Bank0 gồm các ô nhớ có địa chỉ từ 00h đến 77h, trong đó các thanh
ghi dùng chung để chứa dữ liệu của người dùng địa chỉ từ 20h đến 7Fh.
Các thanh ghi PORTA, PORTB, PORTC, PORTD, PORTE đều chứa ở
bank0, do đó để truy xuất dữ liệu các thanh ghi này ta phải chuyển đến
bank0. Ngoài ra một vài các thanh ghi thông dụng khác ( sẽ giới thiệu
sau) cũng chứa ở bank0
- Bank1 gồm các ô nhớ có địa chỉ từ 80h đến FFh. Các thanh ghi
dùng chung có địa chỉ từ A0h đến Efh. Các thanh ghi TRISA, TRISB,

change tại các chân của PORTB.
• Thanh ghi PIE1 (8Ch): chứa các bit điều khiển chi tiết các ngắt
của các khối chức năng ngoại vi.
• Thanh ghi PIR1 (0Ch) chứa cờ ngắt của các khối chức năng
ngoại vi, các ngắt này được cho phép bởi các bit điều khiển chứa
trong thanh ghi PIE1.
• Thanh ghi PIE2 (8Dh): chứa các bit điều khiển các ngắt của các
khối chức năng CCP2, SSP bus, ngắt của bộ so sánh và ngắt ghi
vào bộ nhớ EEPROM.
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐH SP KT HƯNG YấN Đồ án môn học
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
• Thanh ghi PIR2 (0Dh): chứa các cờ ngắt của các khối chức
năng ngoại vi, các ngắt này được cho phép bởi các bit điều khiển
chứa trong thanh ghi PIE2.
• Thanh ghi PCON (8Eh): chứa các cờ hiệu cho biết trạng thái
các chế độ reset của vi điều khiển.
2.3.2.2. Thanh ghi mục đích chung GPR
Các thanh ghi này có thể được truy xuất trực tiếp hoặc gián tiếp thông
qua thanh ghi FSR (File Select Register). Đây là các thanh ghi dữ liệu thông
thường, người sử dụng có thể tùy theo mục đích chương trình mà có thể dùng
các thanh ghi này để chứa các biến số, hằng số, kết quả hoặc các tham số
phục vụ cho chương trình.
2.3.3. Stack
Stack không nằm trong bộ nhớ chương trình hay bộ nhớ dữ liệu mà là
một vùng nhớ đặc biệt không cho phép đọc hay ghi. Khi lệnh CALL được
thực hiện hay khi một ngắt xảy ra làm chương trình bị rẽ nhánh, giá trị của bộ
đếm chương trình PC tự động được vi điều khiển cất vào trong stack. Khi
một trong các lệnh RETURN, RETLW hat RETFIE được thực thi, giá trị PC

PORTB, PORTC, PORTD và PORTE. Cấu trúc và chức năng của từng cổng
xuất nhập sẽ được đề cập cụ thể trong phần sau.
2.4.1. PORT A
PORTA (RA) bao gồm 6 pin I/O (pin 2,3,4,5,6,7). Đây là các chân “hai
chiều” (bidirectional pin), nghĩa là có thể xuất và nhập được. Chức năng I/O
này được điều khiển bởi thanh ghi TRISA (địa chỉ 85h). Muốn xác lập chức
năng của một chân trong PORTA là input, ta “set” bit điều khiển tương ứng
với chân đó trong thanh ghi TRISA và ngược lại, muốn xác lập chức năng
của một chân trong PORTA là output, ta “clear” bit điều khiển tương ứng với
chân đó trong thanh ghi TRISA. Thao tác này hoàn toàn tương tự đối với các
PORT và các thanh ghi điều khiển tương ứng TRIS (đối với PORTA là
TRISA, đối với PORTB là TRISB, đối với PORTC là TRISC, đối với
PORTD là TRISD vàđối với PORTE là TRISE). Bên cạnh đó PORTA còn là
ngõ ra của bộ ADC, bộ so sánh, ngõ vào analog ngõ vào xung clock của
Timer0 và ngõ vào của bộ giao tiếp MSSP (Master Synchronous Serial Port).
Đặc tính này sẽ được trình bày cụ thể trong phần sau.
Các thanh ghi SFR liên quan đến PORTA bao gồm:
PORTA (địa chỉ 05h) : chứa giá trị các pin trong PORTA.
TRISA (địa chỉ 85h) : điều khiển xuất nhập.
CMCON (địa chỉ 9Ch) : thanh ghi điều khiển bộ so sánh.
CVRCON (địa chỉ 9Dh) : thanh ghi điều khiển bộ so sánh điện áp.
GVHD: Phạm Xuân Hiển
Nhóm sinh viên thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status