LUẬN VĂN: Thái độ của thanh niên đô thị hiện nay đối với một số giá trị truyền thống - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Thái độ của thanh niên đô thị hiện nay
đối với một số giá trị truyền thống

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

một số giá trị truyền thống trong điều kiện hiện nay thế nào? Những yếu tố nào tác động
đến thái độ và hỡnh thức biểu hiện việc tiếp thu giá trị truyền thống của thanh niên? Cần
những giải pháp nào để nâng cao nhận thức, tăng cuờng thái độ đúng của thanh niên đối
với những giá trị truyền thống?
2. Tổng quan tỡnh hỡnh nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Nghiên cứu về giá trị truyền thống của cộng đồng dân cư nói chung và nghiên cứu
về giá trị truyền thống và định hướng theo các giá trị truyền thống của thanh niên trong
thời đại ngày nay nói riêng, đó và đang là mảng đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm giải quyết.
Mảng nghiên cứu Những vấn đề về giá trị và giá trị truyền thống của dân tộc Việt
Nam đó có không ít các học giả trong và ngoài nước quan tâm. Nhiều sỏch, bỏo, cụng
trỡnh nghiờn cứu đó đề cập từ nhiều góc độ khác nhau về vấn đề này. Trong thời gian có
hạn, trỡnh độ và kinh nghiệm của tác giả cũn chưa nhiều, tác giả của luận văn chỉ xin
điểm qua một số những công trỡnh nghiên cứu tiêu biểu bước đầu đặt cơ sở định hướng
cho việc nghiên cứu tiếp cận các vấn đề có liên quan tới giá trị, giá trị truyền thống của
thanh niên hiện nay.
Viết về truyền thống dân tộc, trước tiên cần kể đến công trỡnh nghiên cứu của tác
giả Trần Văn Giàu về “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” (Nhà xuất
bản Khoa học xó hội, 1980). Trong cuốn sách này, Trần Văn Giàu đó phân tích sự vận
động của các giá trị truyền thống dân tộc qua các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch
sử. Những giá trị truyền thống dân tộc mà tác giả nghiên cứu là những vấn đề về chủ
nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, tinh thần lạc quan, tỡnh thương người và tính cố
kết cộng đồng. Đây là những giá trị trung tâm mà dân tộc Việt Nam đó kết tinh được từ
hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Đây cũng là nền tảng tri thức hữu ích cho việc
tiếp cận và phân tích về “Thái độ của thanh niên đối với một số giá trị truyền thống dân
tộc”.

Đề tài KX 07-02 “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” (thuộc
chương trỡnh cấp Nhà nước KX 07 “ Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam: Mục
tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xó hội” do Giáo sư Phan Huy Lê làm chủ nhiệm).

giá trị cơ bản như tỡnh tương thân tương ái, giữ chữ tín, yêu lao động, tự hào về truyền thống
dân tộc. Đây là những dữ liệu hữu ích cho tác giả của luận văn tiến hành so sánh đối với nhận
thức và thái độ của thanh niên về một số giá trị truyền thống dân tộc hiện nay.
Cuốn “Phát triển văn hoá, giữ gỡn và phỏt huy bản sắc dõn tộc kết hợp với tinh thần
nhõn loại” của Phạm Minh Hạc (Nhà xuất bản Khoa học xó hội, Hà Nội năm 1996) không
chỉ đi sâu phân tích vai trũ của bản sắc dân tộc mà cũn nhấn mạnh đến việc giáo dục truyền
thống dân tộc trong điều kiện hiện nay. Khi đề cập đến vấn đề giáo dục truyền thống, tác giả
đề cao việc truyền thụ các vốn văn hoá dân tộc giữa các thế hệ để có thể bảo tồn, phát huy văn
hoá dân tộc, biến nó thành sức mạnh tinh thần của dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Tuy nhiên, tác giả cũng đặt ra vấn đề trong giáo dục truyền thống không phải chỉ chú
ý đến quốc hồn, quốc tuý của dân tộc mà cũn phải chú ý đến tính khoa học, hiện đại và phải
kết hợp được các giá trị văn hoá dân tộc với tinh hoa văn hoá nhân loại.
Mảng nghiên cứu về giá trị, định hướng giá trị trong mối quan hệ với thanh thiếu niên
hiện nay, có thể điểm qua một số nghiên cứu tiêu biểu như: Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ
Ngọc Hà về “Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên hiện nay” (2002) và bài viết
cũng của tác giả này về “Một số vấn đề quan điểm tiếp cận phát triển trong nghiên cứu
sự chuyển đổi định hướng giá trị của thanh niên hiện nay” (Thế hệ trẻ Việt Nam –
nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Nxb Lao động xó hội, Hà Nội, 2001). Những nghiên cứu
trên cho thấy vai trũ và tỏc động của các giá trị bao gồm cả các giá trị truyền thống và hiện
đại dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay. Các nghiên
cứu này tập trung làm rừ những mặt chung nhất quy định sự tồn tại của nhân cách và hoạt
động sống của thanh niên. Đặc biệt, tác giả đó đưa ra mô hỡnh lý thuyết nghiờn cứu đặc
trưng định hướng giá trị của thanh niên. Mô hỡnh này khỏ hữu ớch cho cỏc nghiờn cứu về
giỏ trị núi chung và cỏc định hướng giá trị đối với thanh niên nói riêng. Tuy nhiên, cả hai
cụng trỡnh nghiờn cứu trờn chủ yếu quan tõm tới hệ thống giỏ trị đang được hỡnh thành

trong thanh niên chứ chưa quan tâm nhiều đến các tác động và biểu hiện của các giá trị
truyền thống trong thanh niên hiện nay.
Tác giả Đặng Cảnh Khanh với bài viết “Vai trũ của gia đỡnh trong việc giỏo dục
cỏc giỏ trị truyền thống cho thanh thiếu niờn” (đăng trong cuốn Thế hệ trẻ Việt Nam –

đang định hướng hiện nay của thanh niên, từ đó có cơ sở để so sánh, đối chiếu với các
giá trị truyền thống.
Bài viết “Nhận thức của sinh viên sư phạm về các giá trị truyền thống trong học
tập” của tác giả Nguyễn Văn Bắc đăng trên tạp chí Tâm lý học (số 3/2006) cũng đó quan
tõm đến nhận thức của sinh viên hiện nay đối với giá trị truyền thống dân tộc, biểu hiện cụ
thể trong lĩnh vực học tập. Ở đây những giá trị truyền thống được tác giả quan tâm là những
giá trị tiêu biểu trong hệ giá trị truyền thống như lũng thõn ỏi, đoàn kết giúp đỡ nhau trong
học tập. Tuy nhiên, kết quả khảo sát của tác giả mới chỉ thể hiện ở một đối tượng là sinh viên
ngành sư phạm (Đại học sư phạm Huế).
Ngoài ra cũn một số công trỡnh nghiên cứu khác cũng đề cập đến giá trị, định
hướng giá trị trong mối quan hệ với thanh niên như đề tài cấp Nhà nước KX04 – 09 của
Dương Tự Đam: “Niềm tin lý tưởng và định hướng giá trị của thanh niên hiện nay”;
Hoặc trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học (1999), tác giả Nguyễn Thị Bích Điểm có bài
“Một số vấn đề về định hướng giá trị và lối sống của thanh niên”; Tổng luận cấp Bộ
của tác giả Lê Xuân Hoàn (1995) về “ Lối sống của thanh niên Việt nam trong điều
kiện đổi mới hiện nay”; tác giả Nguyễn Văn Buồm (1998) cũng có bài “Tỡnh hỡnh
thanh niên Việt Nam hiện nay”, đề tài của Viện nghiên cứu Thanh niên; Uỷ ban Quốc
gia về thanh niên Việt Nam (2001), “Tỡnh hỡnh Thanh niờn Việt Nam”; Tác giả Lê
Thi với cuốn “Vai trũ của gia đỡnh trong việc xõy dựng nhõn cỏch con người Việt
Nam”, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội 1997 Những nghiên cứu này thường tập trung vào
phân tích các giá trị của thanh niên hiện nay dưới tác động của sự biến đổi các điều kiện
kinh tế, xó hội, chứ chưa quan tâm nhiều tới sự biến đổi của các giá trị truyền thống. Do
vậy, nghiên cứu về sự thay đổi trong thái độ và các hỡnh thức biểu hiện của thanh niên
đối với một số giá trị truyền thống hiện nay tuy không phải là vấn đề mới những vẫn cũn
là mảng đề tài cũn nhiều khoảng trống. Vỡ lẽ đó, đề tài nghiên cứu “Thái độ của thanh

niên đô thị hiện nay đối với một số giá trị truyền thống” (qua khảo sát tại thành phố
Ninh Bỡnh) được thực hiện với hy vọng góp thêm một nghiên cứu nữa để làm rừ hơn về
những thay đổi trong giá trị truyền thống của một bộ phận thanh niên ở thành thị dưới tác
động của kinh tế thị trường, mở cửa hiện nay.

quan thuộc UBND thành phố Ninh Bỡnh).
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Thành phố Ninh Bỡnh.
- Về thời gian: nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2009.
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu về thái độ của thanh niên đối với một số giá trị
truyền thống tiêu biểu đó hỡnh thành nờn bản sắc của con người Việt Nam. Những
giá trị truyền thống mà luận văn lựa chọn nghiên cứu đó là:
- Chủ nghĩa yêu nước
- Lũng nhân ái, tỡnh yêu thương con người
- Truyền thống đoàn kết
- Đức tính cần cù, chịu khó, tiết kiệm
- Truyền thống hiếu học
5. Giả thuyết nghiờn cứu và khung lý thuyết
5.1. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Kinh tế thị trường và toàn cầu hoá đó tỏc động mạnh mẽ tới quan niệm và
cách biểu hiện của thanh niên đô thị đối với một số giá trị truyền thống.
Giả thuyết 2: Thái độ của thanh niên đối với một số giá trị truyền thống phụ thuộc vào
các đặc điểm cá nhân như tuổi, giới tính, trỡnh độ học vấn, nghề nghiệp, mức sống.
Giả thuyết 3: Một số thanh niên đô thị hiện nay đang có xu hướng chuyển theo những giá
trị hiện đại, ớt chỳ ý đến những giá trị truyền thống.
5.2. Khung lý thuyết
Hệ biến số:
Đề tài đó xỏc định hệ thống các biến số như sau:
* Biến số độc lập:
+ Các đặc điểm cá nhân:
- Giới tính
- Độ tuổi hiện nay

- Thái độ của thanh niên đối với truyền thống đoàn kết.
- Thái độ của thanh niên đối với đức tính cần cù, chịu khó tiết kiệm
- Thái độ của thanh niên đối với truyền thống hiếu học
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
- Dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh và
quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về giữ gỡn và phỏt huy những giá trị
truyền thống trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa.
- Dựa vào lý thuyết và tư tưởng của một số nhà xó hội học trong nghiên cứu về giá trị
truyền thống và phát huy những giá trị truyền thống như: lý thuyết lựa chọn hợp lý, lý
thuyết về biến đổi xó hội.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu định tính:
+ Phương pháp phân tích tài liệu: Thu thập và phân tích các tài liệu có sẵn gồm: bỏo cỏo,
thống kờ, cụng trỡnh nghiờn cứu đó cú về giỏ trị, giỏ trị truyền thống cú liờn quan đến
thái độ và hành động của thanh niên đô thị trong giai đoạn hiện nay.
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Đề tài thực hiện 12 cuộc phỏng vấn sâu được chia đều
cho 4 nhóm đối tượng thanh niên.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Đề tài sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng câu hỏi đó dược chuẩn bị
sẵn, tổng số phiếu phát ra là 350 và số phiếu thu về là 332 phiếu.
- Cơ cấu mẫu
+ Cơ cấu mẫu theo giới tính: - Nam (160 = 48,2%).
- Nữ (172 = 31,8%).
+ Cơ cấu mẫu theo nghề nghiệp: - Thanh niên công chức (79 = 23,8%)
- Thanh niên công nhân (89 = 26,8%)

- Thanh niên sinh viên (78 = 23,5%)
- Thanh niên học sinh (86 = 25,9%).
+ Cơ cấu mẫu theo độ tuổi: - Từ 17 – 23 tuổi (159= 47,9%)

triển song cũng gây ra không ít khó khăn cho nghề trồng lúa nước và phỏt triển kinh tế
xó hội.
Về mặt lịch sử, Việt Nam là một quốc gia không lớn song đó trải qua rất nhiều cuộc
chiến tranh chống nhiều kẻ thù xâm lược hùng mạnh. Vì lẽ đó, dân tộc Việt Nam luôn tập
hợp lại thành một khối đại đoàn kết rộng lớn để đấu tranh chống giặc ngoại xâm và mở
mang bờ cõi. Đoàn kết trở thành truyền thống quý bỏu của dõn tộc Việt nam.
Cũng trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đó cú quan hệ kinh tế và giao lưu
văn hóa với nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới. Vỡ vậy, văn hóa Việt nam đó cú
điều kiện hũa nhập giao lưu với văn hóa bên ngoài. Trong đó, văn hóa phương Đông đã
ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa và cả tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc Việt Nam.
Đặc biệt các tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo xâm nhập vào Việt Nam và từng
bước hũa đồng vào đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam.
Phật giáo truyền bá tư tưởng từ bi hỷ xả, cứu khổ cứu nạn, yêu thương chúng sinh. Phật
giáo cho rằng, có một thế giới vĩnh hằng, tồn tại tích cực siêu việt, đó là cõi "niết bàn".
Nhưng muốn đến được nơi cực lạc đó thì con người phải sống từ bi, ăn hiền, ở lành, xa
lánh mọi ham muốn vật chất, mọi thú vui hưởng lạc, sống không tranh giành và yêu

thương nhau. Đương nhiên, tư tưởng này vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, nó ít
nhiều đó ảnh hưởng đến những truyền thống vốn có của con người Việt, làm sâu đậm
thêm truyền thống nhân ái yêu thương con người của dân tộc Việt Nam.
Đạo Nho là một hệ thống quan điểm về thế giới, về xã hội và về con người, là một học
thuyết chính trị - đạo đức - xã hội (mà Khổng Tử là người khởi xướng). Đạo Nho đã ảnh
hưởng mạnh mẽ tới đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam. Những nội dung tư tưởng của
Nho giáo như: Nhân; lễ; chính danh; tam cương; ngũ thường cũng dần thấm sâu vào
đời sống, trở thành một bộ phận của lối sống, cách ứng xử của người Việt Nam và được
Việt hóa.
Văn hóa Việt Nam không chỉ giao lưu với văn hóa phương Đông mà còn có sự giao lưu
với văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp. Tuy nhiên, khi các trào lưu văn hóa,
tôn giáo ngoại lai du nhập vào Việt Nam, chúng đã được nhân dân Việt Nam tiếp thu có
chọn lọc để hình thành nên những nét riêng đặc biệt cho mỡnh. Vấn đề là: Những giá trị

yêu nước, vì nghĩa, lòng thương người
Tuy còn có sự khác biệt nào đó trong việc sắp xếp hệ thống các giá trị truyền thống Việt
Nam, song nhìn chung, các quan điểm, các ý kiến đều thống nhất cao độ ở một điểm coi
chủ nghĩa yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị truyền thống của dân tộc
Việt Nam. Nó là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại"
[25, tr.100], là "tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị" [27, tr.94], là "động
lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ
thống giá trị đạo đức của dân tộc ta" [58, tr.74].
1.1.2. Chủ nghĩa yêu nước - giá trị truyền thống quan trọng hàng đầu của dân tộc
Việt Nam
Như mọi người đều biết, mọi dân tộc trên thế giới đều có tình yêu quê hương đất nước
mình. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, tình yêu quê hương đất nước là một thứ tình cảm
hết sức thiêng liêng. Tỡnh cảm này được nảy sinh, phát triển qua hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước. Cộng đồng dân tộc Việt Nam đó vượt qua bao thử thách
khó khăn trước những tai họa thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Dân tộc Việt cũng lại
trải qua cả một quá khứ đầy thử thách, khó khăn, đầy hy sinh, mất mát để giữ gỡn non

sụng, đất nước mỡnh. Cú thể núi, mỗi người Việt Nam đều sẵn sàng xả thân cho độc lập,
tự do của Tổ quốc. Lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam đã trở thành triết lý sống, triết
lý nhân sinh của mỗi con người và của cả cộng đồng. GS. Trần Văn Giàu khái quát:
Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm của bản thân lịch sử Việt Nam được bắt đầu
từ tình cảm tự nhiên của mỗi người đối với quê hương mình tiến lên thành lý
tưởng và hệ thống tư tưởng làm chủ của nhận thức đúng sai, tốt xấu, nên chăng
và chỉ đạo rất nhiều phương lược xây dựng và bảo vệ nước nhà [26, tr.7].
Đánh giá về chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đó khẳng
định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta.
Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành
một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.
Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành, được thử thách và được

đời cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Lòng nhân ái của Người đã trở thành
sức mạnh, nó đã được cụ thể hóa trong các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
và hệ thống luật pháp của Nhà nước. Nó đó tập hợp hàng chục triệu người phấn đấu vỡ
sự nghiệp chung, đồng thời nó cũng có tác dụng cảm hóa hàng vạn con người lầm đường
lạc lối. Bác xem những người lầm lạc như những đứa con "lạc bầy" cần được cưu mang.
Bác nói: Giống như bàn tay cũng có ngón dài ngón ngắn, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi
bàn tay. Trong mấy chục triệu người, có người thế này, người thế khác, nhưng tất cả đều
là dòng dõi tổ tiên ta, đều là người Việt Nam, nên cần phải khoan dung đại lượng. Hàng
năm, Đảng và Nhà nước thường có những đợt giảm án cho các phạm nhân cải tạo tốt,
điều đó thể hiện lòng nhân ái của Đảng và Nhà nước ta.
Lòng nhân ái của người Việt Nam cũn là tinh trần trọng nghĩa, trọng tỡnh với cỏc dõn
tộc, quốc gia khỏc trờn thế giới. Trong quan hệ với các nước láng giềng, nhân dân ta bao
giờ cũng trọng tình hòa hiếu, cố gắng cao nhất để tránh xảy ra xung đột.
Trong đường lối đối nội, Đảng ta đã khơi dậy các phong trào "uống nước nhớ nguồn",
"đền ơn đáp nghĩa", chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng, quan tâm đến các gia đình
thương binh liệt sĩ, giúp đỡ những người già cả neo đơn không nơi nương tựa. Phát động

phong trào xóa đói giảm nghèo, trợ giúp các dân tộc vùng sâu vùng xa, rút ngắn khoảng
cách giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược Tại Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã khẳng định: "Thương nước - thương nhà, thương người -
thương mình" là truyền thống quý bỏu của nhân dân ta. Nhờ có tinh thần yêu nước và
chủ nghĩa nhân đạo cao cả mà trong suốt quá trình lịch sử bốn ngàn năm, dân tộc ta đã
trường tồn và phát triển.
Nhân ái, yêu thương con người là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Nó là cội nguồn của đạo đức dân tộc, truyền thống này chính là nguồn gốc sâu xa của sự
gắn kết cộng đồng bền chặt từ xưa đến nay và cũng là nền tảng để phát triển chủ nghĩa
nhân đạo cộng sản mà chủ trương, định hướng xây dựng CNXH của Đảng ta đang hướng
tới.
1.1.4. Cần cù, chịu khó và tiết kiệm - một đức tính quý báu của con người
Việt Nam

ngoại xâm. Nhờ có đoàn kết mà dân tộc Việt Nam đó đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược
lớn mạnh hơn mỡnh gấp nhiều lần. Đoàn kết, vỡ vậy trở thành lẽ sống, điều kiện tiên
quyết cho sự tồn vong của dân tộc. Ở Việt Nam, đoàn kết yếu tố xuất phát từ cội nguồn
anh, em miền núi, miền biển; đoàn kết tất cả các dân tộc, các tôn giáo, không phân biệt
già, trẻ, gái, trai; không phân biệt giàu, nghèo, nghề nghiệp, vùng miền đang sinh sống.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đó khỏi quỏt: “Đoàn kết là một truyền thống quý bỏu của dõn tộc
Việt Nam…”. Người khẳng định “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành
công, đại thành công”.
ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc, một
động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
1.1.6. Truyền thống hiếu học - tính đặc thù trong truyền thống của dân tộc
Việt
Hiếu học, ham học, ham hiểu biết và kớnh trọng thầy là một truyền thống quý bỏu của
dõn tộc Việt Nam. Có thể khẳng định, ngay từ xa xưa con người đã sớm nhận thức được
học hành không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Chính vì vậy,

người xưa thường nói: "Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo" (Viên ngọc
không mài dũa thì không thành đồ dùng được, con người không học thì không biết đạo)
và: "Hiếu nhân, bất hiếu học kỳ tế dã ngu" (Kể cả những người mong muốn làm điều
nhân đức chí thiện nhưng không học thì cũng bị sự ngu dốt che lấp đi).
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục, với truyền thống hiếu học, tôn trọng
hiền tài, nên ngay từ xưa, ông cha ta đã biết chăm sóc, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) là kiểu trường đại học quốc lập đầu tiên ở Việt Nam
được thành lập, để đào tạo nhân tài. Trong bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, hiệu Đại Bảo thứ
ba năm 1442 ở Văn Miếu (Hà Nội) còn ghi: Hiền tài là nguyên khí của Nhà nước,
nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy,
cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo việc gây dựng nhân tài,
bồi đắp nguyên khí.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - luôn

lịch sử, nhưng chính những yếu tố đó đó hỡnh thành nờn những giỏ trị cao đẹp trong
truyền thống dân tộc. Việc giữ gỡn và bảo lưu những giá trị đó có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với sự phát triển hiện nay của dân tộc Việt Nam. Người ta không thể xây dựng
nên những tũa thành mà khụng dựa trên những nền móng vững chắc. Sự phát triển dân
tộc và văn hóa dân tộc cũng vậy. Để không ngừng phát triển, con người chẳng những cần
hướng về phía trước mà cũn phải dựa chắc vào cả những gỡ là nền tảng của quá khứ. Trước
bối cảnh văn hóa ngày càng có vai trũ to lớn đối với sự phát triển, trở thành động lực và mục
tiêu của sự phát triển thỡ việc khai thỏc và phỏt huy những giỏ trị văn hóa tốt đẹp từ trong
truyền thống sẽ có ý nghĩa to lớn.
1.2. GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRƯỚC XU THẾ TOÀN CẦU
HÓA
Toàn cầu hoá là cơ hội lớn để văn hoỏ Việt Nam học hỏi và phỏt huy cỏc giỏ trị
của mỡnh. Song người Việt Nam cũng lo toan khôn xiết trước những thách thức to lớn
của toàn cầu hoá đối với các giá trị truyền thống Việt Nam. Việt Nam nhất thiết phải mở
cửa, phải hội nhập để đón nhận những giá trị mới của nhân loại, đó là lẽ sống cũn của

dõn tộc. Nhưng mở cửa là để hội nhập, để phát triển chứ không phải trở thành cái bóng
mờ của nền văn hoá khác. Cho nên vấn đề đặt ra cho nước ta trong xu thế toàn cấu hoá là
phải giữ được độc lập dân tộc, giữ được cơ cấu sinh thành nội tại của các giá trị truyền
thống mà ta đó cú.
Hiện nay, quỏ trỡnh hội nhập kinh tế thế giới thụng qua làn súng xuất khẩu cú khả
năng làm năng động hoá các giá trị Việt Nam xưa nay vẫn xem nặng về nghĩa, nhẹ về lợi,
tạo nên sự cạnh tranh mới trong hệ thống giá trị dĩ hoà vi quý. Nền văn hoá của người
Việt không trọng thị sự buôn bán, cho nên chưa xác lập được các tri thức về thị trường
hiện đại. Vỡ thế, khi tham gia hội nhập trong nền kinh tế toàn cầu nó có thể được các
quyền lực toàn cầu dạy cho các bài học mới và cũng có thể bị các quyền lực thị trường ấy
lấn lướt các giá trị mà cả ngàn năm nhân dân ta mới tạo dựng được.
Toàn cầu hoá các quan hệ kinh tế sẽ mang lại sự hưởng thụ các sản phẩm vật chất
và tinh thần của nhân loại với một giá rẻ hơn, một tiện nghi phong phú hơn. Song sự tràn
ngập của hàng hoá rất có khả năng làm tha hoá nhân cách, làm phá sản các quan hệ lao

trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống” - đó chính là nội dung
xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc thể hiện trong tinh thần của Nghị
quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII của Đảng. Để xây
dựng được nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đó, báo cáo chính trị của Ban
chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định rừ trong
quỏ trỡnh đất nước bước vào xây dựng nền kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế,
công gnhiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần phải “tiếp thu những tinh hoa của nhân loại,
song phải luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không được tự
đánh mất mỡnh, trở thành búng mờ hoặc bản sao chép của người khác” [11, tr.109). Cũng
trong Văn kiện này, tại phần Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắn dân tộc, một
lần nữa Đảng ta chỉ rừ:
Trong nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan
tâm giữ gỡn và nõng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền
thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lũng tự hào dõn tộc. Tiếp thu tinh hoa của
cỏc dõn tộc trờn thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam; đấu tranh

chống sự xâm nhập của các văn hóa độc hại, những khuynh hướng sùng ngoại,
lai căng, mất gốc. Khắc phục tâm lý sựng bỏi đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi
thường các giá trị nhân văn [11, tr.123].
Cùng với những chủ trương, quan điểm trong các kỳ Đại hội Đảng, sự quan tâm, chú
trọng tới giá trị truyền thống văn hóa dân tộc của Đảng và Nhà nước cũn thể hiện qua việc
phỏt động các phong trào, cuộc thi tỡm hiểu về truyền thống dõn tộc, lịch sử đất nước nhằm
khơi dậy, phát huy những truyền thống tốt đẹp đó. Điều này thể hiện rất rừ sự coi trọng vai
trũ của cỏc giá trị truyền thống của Đảng và Nhà nước trong quá trỡnh quản lý, xõy dựng đất
nước hiện nay.
1.3. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.3.1. Khái niệm giá trị
Thuật ngữ "giá trị" ra đời cùng với sự ra đời của triết học. Ngay từ đầu, Triết học
đã có những hiểu biết về giá trị và giá trị học. Trước thế kỷ XIX, những kiến thức về giá
trị học đã gắn liền với những tri thức triết học. Sau này, khi khoa học có sự phân ngành, thì

J.H.Fichter, một nhà xó hội học hiện đại Mỹ có một định nghĩa đơn giản song khá lý thỳ về
giỏ trị là: “Tất cả cỏi gỡ cú ớch lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với các cá
nhân hoặc xó hội đều có một giá trị” [43, tr.16].
Cũn với một nhà xó hội học khỏc, J.Macionis khi bàn giỏ trị trong cuốn sỏch giỏo khoa
của ụng về xó hội học, ụng viết: “Giỏ trị là những quy chuẩn mà qua đó một thành viên
của một nền văn hóa xác định điều gỡ là đáng mong muốn, điều gỡ là khụng đáng mong
muốn, điều gỡ là tốt hay dở, điều gỡ là đẹp hay xấu” [43, tr.16]. Có thể thấy định nghĩa
của Macoinis là khá đơn giản nhưng cũng khá bao quát và đầy đủ khi thừa nhận giá trị
gắn liền với những điều mong muốn của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng hướng tới các
hành vi mà họ lựa chọn, nhưng quan trọng hơn sự đa dạng về giá trị của con người vẫn
dựa trên tiêu chí chung dưới những tác động chi phối trực tiếp của nền văn hóa xó hội.
Ở Việt Nam, Giáo sư Đặng Cảnh Khanh khi đề cập đến khái niệm giá trị ông đó cú
những phõn tớch thỳ vị, vừa mang tớnh ẩn dụ, vừa mang tớnh khoa học và hợp lý, đặc
biệt khi mô tả mối quan hệ giữa ý nghĩa của giá trị đối với các cá nhân, ông viết:

Trích đoạn Thanh niên với giá trị hiếu học Các đặc điểm cá nhân Môi trường kinh tế văn hoá – xó hộ Xu hướng biến đổi những giá trị truyền thống Trân trọng, giữ gỡn, phỏt huy cỏc giỏ trị truyền thống, tiếp thu cú chọn lọc cỏc giỏ trị của nền văn minh hiện đại, xây dựng người thanh niên mới vừa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status