LUẬN VĂN: Vấn đề phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Kiên Giang potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Vấn đề phát huy nguồn lực con người trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh
Kiên Giang mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Để phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước trong thời đại ngày nay, nguồn
lực con người là yếu tố quan trọng nhất và là yếu tố chủ đạo quyết định các nguồn lực
khác. Bởi vậy, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới vấn đề nguồn lực con người được đặt
vào đúng vị trí của nó.
Nguồn lực con người được phát huy không chỉ là động lực trực tiếp mà còn là
mục tiêu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã
xác định: "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững". Vấn đề đặt ra là làm thế nào để con người có được vai trò và bằng
cách nào để phát huy được vai trò của nhân tố con người cho mục tiêu phát triển? Đó là

3. Mục đích và nhiệm vụ
Luận văn nhằm làm rõ những yêu cầu và nội dung việc phát huy nguồn lực con
người trong sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Kiên Giang. Trên cơ sở đó nêu lên thực trạng, đề
xuất những phương hướng, giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở Kiên Giang
trong sự nghiệp CNH, HĐH.
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Làm rõ một số vấn đề cơ bản của lý luận về nguồn lực con người trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
- Thực trạng phát huy nguồn lực con người ở Kiên Giang.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp để phát huy nguồn lực con người
trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Kiên Giang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn không nghiên cứu nguồn lực con người với tư cách là đối tượng của
bộ môn tâm lý học, cũng không nghiên cứu nguồn lực con người trong sự phát triển kinh
tế với tư cách là đối tượng của khoa học kinh tế học. Luận văn nghiên cứu nguồn lực con
người dưới góc độ triết học nhằm đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH.
Trên cơ sở nghiên cứu nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội,
luận văn tập trung làm rõ vai trò, biện pháp và phương hướng để phát huy nguồn lực ấy
trong sự nghiệp CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử,
tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta về con người mà nhất là về
nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trong sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước là cơ sở lý luận trực tiếp của luận văn này.
- Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính: logic
và lịch sử, trừu tượng và cụ thể, phân tích và tổng hợp gắn lý luận với
thực tiễn.
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp điều tra Xã hội học.
6. Đóng góp của luận văn

yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội và đến lượt nó,
phát triển kinh tế xã hội lại là phương tiện nhằm đạt mục đích phát triển nguồn lực con
người. Đầu tư cho con người được phân tích với tính cách là sự "tư bản hóa các phúc lợi"
tương tự như đầu tư vào các nguồn vật chất, có tính đến tổng hiệu quả các đầu tư này,
hoặc của thu nhập mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó [55, 138]. Cách tiếp
cận này đang được áp dụng và phổ biến ở hầu hết các nước hiện nay.
Theo cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ
"vốn người" (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu. ở đây,
nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác
như tiền, công nghệ, tài nguyên, thiên nhiên Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm
trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững.

Cũng dựa trên cách tiếp cận này, Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm nguồn lực con
người: là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự
phát triển của đất nước. Đây được coi là một yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội.
Còn theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam được thể hiện trong chương
trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực
của sự phát triển kinh tế - xã hội " mang mã số KX-07 thì nguồn lực con người được hiểu
là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ,
năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc [20, 328].
Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy rằng, nguồn lực con người không chỉ
đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn là một tập hợp đa phức gồm
nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc của con người. Trong bài phát biểu
khi gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học - công nghệ các tỉnh, thành phố phía
Bắc, Thủ tướng Phan Văn Khải cũng nhấn mạnh: "Nguồn lực con người bao gồm cả sức
lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta" [29, 1]. Điều khẳng
định trên có ý nghĩa rất quan trọng, định hướng cho việc nhận thức và phát huy tiềm năng
nhân lực.
Ngoài ra, cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn lực con người thông qua tìm

mạnh mẽ để thúc đẩy sự phát triển xã hội. Muốn vậy, con người phải hoàn thiện mọi mặt,
được đặt vào vị trí trung tâm. Mọi chiến lược phát triển đều hướng vào con người nhưng
muốn phát triển, phải dựa vào con người.
Đích cuối cùng của chiến lược phát triển là vì con người, phục vụ con người, tạo
ra sự phát triển với mức sống vật chất cao, đời sống tinh thần phong phú và văn minh
hơn. Mục tiêu đó có thể đạt được nếu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp và
gắn liền với sự phát triển con người, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng và công bằng xã
hội. Thực hiện đồng bộ điều đó, con người mới phát huy được mọi mặt, khơi dậy được

tiềm năng và sức sáng tạo. Thể hiện đầy đủ vai trò quyết định của mình đối với xã hội.
Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá trình phát triển xã hội.
Trong các thập niên qua, nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện chiến lược quốc
gia, nhằm phát triển con người và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Nhân loại sắp bước
vào thế kỷ mới nhưng ở một số quốc gia, khu vực, vẫn còn số lớn người dân nghèo đói,
lạc hậu. Nam á chiếm 2/5 số người nghèo đói (515 triệu/ 1,3 tỷ người) [45, 61]. Châu Phi
đang đối mặt với đại dịch AIDS, nghèo đói, môi trường xuống cấp. Bất bình đẳng về
thu nhập giữa các quốc gia, khu vực và trên thế giới vẫn là vấn đề lớn của nhân loại.
Từ sự nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của con người là mục tiêu và động
lực của sự phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống chính sách nhằm
góp phần nâng cao chất lượng con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, đồng
thời tạo điều kiện để sử dụng và phát huy có hiệu quả vốn con người - nguồn tài sản giá
trị cao của quốc gia. Năm 1991, Nhà nước Việt Nam đã thông qua "Chiến lược ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000", những chính sách đó đã góp phần quan
trọng vào sự phát triển con người ở Việt Nam trong thời gian qua, thúc đẩy sự đi lên của
đất nước.
Theo quan niệm của các tác giả Việt Nam thì phát triển nguồn lực con người
được hiểu là quá trình làm "gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ
năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực
mới đáp ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội" [20, 285].
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rằng, nguồn lực con người được đề cập

trước tiên thể hiện ở sức người trong sản xuất, song, không phải chỉ là sức cơ bắp mà cái
cốt lõi, cái chủ yếu trong nguồn lực con người ở thời đại ngày nay chính là hàm lượng trí
tuệ,
là những phẩm chất tâm lý, đạo đức cần thiết, khả năng lao động sáng tạo, hiệu quả v.v
của con người. Nguồn lực con người được hiểu như là sự kết hợp giữa thể lực, trí lực,

những phẩm chất, đạo đức, kinh nghiệm sống, nhu cầu, thói quen vận dụng tổng hợp trí
thức và kinh nghiệm của từng người, của cộng đồng cho thấy khả năng sáng tạo, chất
lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người; nguồn lực con
người là một tập hợp các chỉ số phát triển người, là chất lượng văn hóa mà bản thân nó và
xã hội, có thể huy động vào sự phát triển tiếp theo các giá trị văn hóa của toàn xã hội vì
lợi ích của cá nhân, và xã hội [2, 14]. Từ ý nghĩa đó, nguồn lực con người Việt Nam được
hiểu là những tiêu chí phản ánh về số lượng và chất lượng của dân số, với tư cách là lực
lượng sản xuất trong xã hội Việt Nam hiện nay, cũng như vấn đề quản lý, sử dụng và đào
tạo nguồn nhân lực đó như thế nào. Như vậy, với tư cách là nguồn lực quyết định của sự
nghiệp CNH, HĐH, nguồn lực con người cần phải được xem xét ở các phương diện sau
đây: trước tiên là những đặc điểm về dân số, giới tính, độ tuổi, đặc điểm về mặt hình thái
- sinh lý, khả năng thích nghi với môi trường và sau đó là những đặc điểm phản ánh
chất lượng nguồn lực con người như: trình độ học vấn, tay nghề, những phẩm chất về mặt
tâm lý, đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội và nghề nghiệp, khả năng hoạt động
nghề, chất lượng cuộc sống qua thu nhập v.v Những tiêu chí phản ánh về số lượng, chất
lượng nguồn lực con người, cần được xem xét trong quan hệ với yêu cầu của sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước, trong quan hệ với đào tạo, quản lý.
Tóm lại, con người dù ở bất kỳ hình thái xã hội nào cũng là người lao động. Vì
vậy, nguồn lực con người trước hết được biểu hiện ra là nguồn lao động. Nó bao gồm
toàn bộ những người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và các thế hệ nối
tiếp sẽ phục vụ cho xã hội. Từ những người lao động trực tiếp đến các nhà quản lý, các
nhà khoa học, công nghệ, những người làm công tác văn phòng, dịch vụ, đến lực lượng
dự bị cho lao động trẻ đều thuộc về nguồn lực con người của một quốc gia, dân tộc. Từ
khía cạnh này, có thể hiểu phát huy nguồn lực con người trước hết là phát huy lực lượng

nền văn minh thông tin, trí tuệ. Bởi vậy, con đường cơ bản nhất để phát huy tiềm năng
nguồn nhân lực là biến dân tộc đó thành xã hội có học vấn. Điều đó giải thích vì sao cuộc
chạy đua về kinh tế giữa các quốc gia hiện nay chủ yếu là cuộc chay đua về phát triển
giáo dục đào tạo.

Dựa trên nền tảng mặt bằng dân trí của nguồn lực con người, Đảng và Nhà
nướcViệt Nam cần xây dựng và phát triển những người lao động có năng lực cao về trí
tuệ. Họ phải có khả năng áp dụng khoa học để sáng chế những kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến, có khả năng nhạy bén, thích ứng nhanh và làm chủ được kỹ thuật, công nghệ hiện
đai, có kỹ năng nghề nghiệp, có năng lực hoạch định chính sách, lựa chọn giải pháp và tổ
chức thực hiện, biết quản lý sản xuất kinh doanh trong điều kiện kinh tế hàng hóa, cơ chế
thị trường và phân công lao động quốc tế Đây là những yêu cầu rất cơ bản về nguồn lực
con người cần thiết cho CNH, HĐH trong điều kiện ngày nay.
Sau trí tuệ là yếu tố sức khỏe - yêu cầu không thể thiếu của nguồn lực con người.
Sức khỏe là điều kiện để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện để chuyển tải tri thức
vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất hiện thực.
Với tư cách là một yếu tố của nguồn lực con người, sức khỏe là sự phát triển hài
hòa của con người cả về thể chất và tinh thần. Vì vậy, yếu tố này phải bao gồm cả sức
khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần. Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, phát triển cân đối,
hài hòa của các cơ quan trong cơ thể theo quy luật "tạo hóa" của tự nhiên. Sức khỏe tinh
thần là sự dẻo dai trong hoạt động thần kinh mà biểu hiện cụ thể của nó thông qua sức
mạnh, niềm tin, khát vọng, ý chí và hoài bão. Suy cho cùng, sức khỏe tinh thần là khả
năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động thực tế.
Bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH, yêu cầu về lao động trí tuệ ngày một
cao. Vì vậy, cần phải có những người lao động khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần
mới đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất hiện đại. Chỉ như vậy mới bắt nhịp cuộc
sống hiện đại. Họ có thể làm việc dẻo dai, có khả năng tập trung về trí tuệ cho công việc,
có sức mạnh của niềm tin và ý chí để phát huy tốt nhất vai trò của nguồn lực con người.
Với ý nghĩa đó, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao
chất lượng nguồn lực con người, tạo tiền đề để phát huy có hiệu quả tiềm năng con

hướng: lao động dịch vụ, công nghiệp tăng cả về tương đối lẫn tuyệt đối; tỉ trọng lao động
nông nghiệp ngày càng giảm trong cơ cấu lao động tổng thể. Cùng với quá trình đó, cấu

trúc của nguồn lực con người cũng biến đổi mạnh theo hướng: tỷ trọng lao động thành thạo
ngày càng tăng lên trong khi tỷ trọng lao động tay nghề thấp càng giảm; tỷ trọng lao động
trí lực ngày càng cao trong chi phí lao động, tỷ trọng lao động thể lực ngày càng giảm
Đây là những vấn đề hết sức quan trọng cần phải tính tới trong quá trình phát triển, sử
dụng và phát huy nguồn lực con người cho CNH, HĐH.
Cuối cùng, khi nói đến nguồn lực con người của một quốc gia, dân tộc không thể
không tính tới yếu tố tinh thần được hình thành và phát triển trên cơ sở truyền thống văn
hóa dân tộc. Thực tế cho thấy, truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc luôn luôn góp phần
hình thành nhân cách và bản lĩnh, ý chí và lòng tự trọng, lối sống và làm việc của dân
tộc đó. Nếu biết phát huy những truyền thống tốt đẹp sẽ tạo nên sức mạnh của cả dân tộc.
Bởi vậy, đây được coi là nguồn nội lực vô tận, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự
tồn tại và phát triển.
Chúng ta tiến hành công nghiệp hóa theo định hướng XHCN. Vì vậy, nguồn lực
con người cần thiết cho CNH, HĐH ở Việt Nam không chỉ là những người lao động có
năng lực cao về trí tuệ mà còn phải là những công dân yêu nước, cần cù lao động và sáng
tạo; có ý chí vươn lên và lòng tự trọng dân tộc cao; phải nắm vững và không ngừng làm
phong phú lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh
cụ thể của Việt Nam
Quán triệt những yêu cầu trên, cần chú trọng khơi dậy và phát huy những truyền
thống văn hóa dân tộc. Đồng thời cần tập trung nâng cao nhận thức cho người lao động
về đường lối, quan điểm của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Từ đó,
xây dựng những thế hệ con người Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, có niềm tin
và quyết tâm hoàn thành sứ mệnh CNH, HĐH đất nước. Đây là vấn đề rất quan trọng để
nhân tố con người Việt Nam không chỉ là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa mà còn
là những công dân tốt bảo vệ thành quả cách mạng trong tình hình mới hiện nay.
Tóm lại, nguồn lực con người là một phạm trù có nội hàm sâu, ngoại diên mới
rộng lớn. Nó không chỉ đơn thuần là nguồn lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm

con người ngày càng được đề cao. Trí tuệ, nhân cách của con người là sản phẩm của giáo
dục và đào tạo.
Chính phủ ở các nước trong những năm gần đây đều tăng các nguồn lực đầu tư
cho giáo dục, đào tạo nhằm phát triển nhanh nguồn lực con người. Phương thức đầu tư
cũng như quá trình phát triển giáo dục ở mỗi nước có đặc điểm riêng, nên chất lượng
nguồn lực con người ở các nước rất khác nhau. Các nước công nghiệp phát triển và một số
nước công nghiệp mới, đầu tư rất lớn cho giáo dục, đào tạo (20% tổng ngân sách nhà nước)
[49, 58], nhằm phát triển nhanh chất lượng nguồn lực con người. Chính phủ các
nước đều nhận thấy một nền giáo dục hoàn chỉnh, đồng bộ và toàn diện sẽ có khả năng
cung cấp cho nền kinh tế quốc dân "đội ngũ các nhà khoa học, những người lao động có
kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo" [19, 5]. Đó là nguồn vốn quý giá
để phát triển kinh tế và thực hiện CNH, HĐH.
Đối với cá nhân mỗi người, giáo dục là quá trình hình thành, phát triển, hoàn
thiện nhân cách, thế giới quan với tình cảm, đạo đức Đối với xã hội, giáo dục là quá
trình "tích tụ nguồn vốn con người" để chuẩn bị và cung cấp nguồn lực con người đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đối với nước ta, giáo dục phổ thông là nền tảng,
là cơ sở để đào tạo nguồn lực con người. Giáo dục chuyên nghiệp trực tiếp sản xuất ra
sản phẩm cung cấp cho thị trường sức lao động, những người lao động với những tiêu
chuẩn đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế và CNH, HĐH. Do vị trí
quan trọng của giáo dục, đào tạo đối với sự hình thành và phát triển nguồn lực con người
nên đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cho phát triển, đầu tư trực tiếp vào nguồn lực
con người.
Đối với Việt Nam, nguồn lực con người được coi là nguồn nội lực cơ bản nhất để
thực hiện CNH, HĐH. Giáo dục là khâu quyết định chăm lo cho con người; hình thành trí
tuệ, kiến thức, phương pháp lao động. Đảng cộng sản Việt Nam đặt giáo dục ở vị trí
"quốc sách hàng đầu", điều này khẳng định vai trò của giáo dục trong sự hình thành và
phát huy nguồn lực con người cho CNH, HĐH đất nước. "Giáo dục là tương lai của dân
tộc" [17, 13].

Thứ ba: Truyền thống dân tộc và sự phát triển văn hóa.

trường pháp lý cho sự hoạt động và tạo điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Cùng
với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống các chính sách luôn thay đổi theo hướng ngày
càng hoàn thiện, đồng thời phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất. Chính sách đúng đắn
và hợp lý là môi trường, động lực, đòn bẩy kích thích sự phát triển của cá nhân, cộng
đồng theo xu hướng tiến bộ. Ngược lại, các chính sách không phù hợp sẽ có tác động kìm
hãm sự phát triển, thui chột năng lực và tư duy sáng tạo của mỗi người, làm biến dạng
động lực cạnh tranh, gây ra tâm lý chán nản, mất lòng tin, kéo lùi sự tiến bộ của con người,
ảnh hưởng tới chất lượng nguồn lực con người.
Hệ thống các chính sách là sự thể hiện ý chí, nguyện vọng của giai cấp thống trị
trong điều hành, quản lý xã hội hướng tới mục tiêu mà nhà nước đã hoạch định. Hiệu quả
của hệ thống các chính sách được đo ở hoạt động kinh tế - xã hội, ở sự phát triển của mỗi
người và nguồn lực con người.
Hiện nay, cơ chế thị trường tác động rất lớn đến sự phát triển của con người,
nguồn lực con người. Chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước ta không chỉ tạo môi
trường thuận lợi mà còn hạn chế tác động tiêu cực của thị trường đối với nguồn lực con
người.
Trong bối cảnh đời sống quốc tế hóa, khu vực hóa ngày càng phát triển, sự phát
huy nguồn lực con người của mỗi nước luôn chịu tác động của hội nhập nguồn lực con
người khu vực và thế giới. Ngày nay, trình độ tri thức, thể lực của nguồn lực con người ở
các nước có nền kinh tế phát triển đã vượt xa nguồn lực con người Việt Nam. Đây là
thách thức lớn đối với nguồn lực con người Việt Nam. Nền kinh tế thị trường thế giới,
khu vực mang theo cả nhân tố tích cực và tiêu cực cùng tác động đến sự phát triển của
nguồn lực con người Việt Nam. Nhà nước có vai trò tạo môi trường thuận lợi để phát
triển nhanh nguồn lực con người, nhằm hội nhập vào nguồn lực con người thế giới, đồng

thời ngăn cản sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến sự phát triển nguồn nhân
lực.
Sự hình thành, phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam chịu sự tác động của
các nhân tố trên. Mỗi nhân tố tác động đến từng mặt của nguồn lực con người, bởi vậy,
Nhà nước cần sử dụng tổng hợp các nhân tố để kích thích, định hướng quá trình phát

những ưu thế về vị trí địa lý cũng sẽ mất ý nghĩa, nếu chủ nhân của nó không có năng lực
khai thác và khai thác không đúng. Ngày nay, trước xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế,
sự hợp tác và đầu tư nước ngoài cũng là nguồn lực quan trọng, nó tạo ra "cái hích" kinh
tế, nhất là với các nước có điểm xuất phát thấp, nhưng sức mạnh của "cái hích" đó đến
đâu, tác động tích cực của nó như thế nào còn tùy thuộc vào yếu tố con người khi tiếp
nhận nguồn lực đó. Xét đến cùng, thiếu sự hiện diện của trí tuệ và lao động của con người
thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa, thậm chí khái niệm "nguồn lực" cũng không còn
lý do để tồn tại.
Thứ hai, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó
nguồn lực con người mà cái cốt lõi là trí tuệ, là nguồn lực vô tận. Tính vô tận của trí tuệ
con người biểu hiện ở chỗ, nó có khả năng không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh
học, mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con người, nếu biết chăm
lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Đó là cơ sở làm cho năng lực nhận thức và hoạt động
thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận, xét về bình diện cộng đồng,
nhân loại. Nhờ vậy, con người từng bước làm chủ tự nhiên, ngày càng khám phá ra những
tài nguyên thiên nhiên mới, hoặc sáng tạo ra những nguồn tài nguyên vốn không có sẵn trong
tự nhiên. Với bản chất hoạt động có mục đích và sáng tạo, con người bằng trí tuệ và lao
động của mình, đã liên tiếp chế tạo ra các thế hệ công cụ sản xuất mới, nhằm tác động
vào tự nhiên có hiệu quả hơn. Chính sự phát triển không ngừng của công cụ sản xuất từ
thủ công đến cơ khí và ngày nay là tự động hóa đã đưa xã hội loài người chuyển qua các
nền văn minh từ thấp lên cao, tự nó đã nói lên tính vô tận của trí tuệ con người. Đúng là, "tri
thức có tính chất lấy không bao giờ hết" [1, 41].

Thứ ba, trí tuệ của con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật
thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Dự báo vĩ đại này của Các Mác đã và
đang trở thành hiện thực. Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học, kỹ
thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn các nền kinh tế của các nước công nghiệp phát
triển, vận động đến nền kinh tế trí tuệ. ở những nước này, lao động trí tuệ ngày càng
chiếm tỉ lệ cao, nguồn lợi mà họ thu được từ lao động chất xám chiếm tới 1/2 tổng giá trị
tài sản quốc gia, ví như ở Nhật Bản, riêng nguồn lợi do tin học mang lại đã chiếm tới

để chuẩn bị cho công nghiệp hóa, Hàn Quốc đã có kế hoạch "trí tuệ hóa" toàn dân. Nhờ
vậy, ngay từ năm 1960 họ đã đạt được 100% lao động có trình độ văn hóa cấp I, đến năm
1990 thì 94% người lao động đã tốt nghiệp cấp II. Chi phí cho giáo dục của họ chiếm hơn
20% tổng chi phí ngân sách nhà nước [49, 58]. Hay ở Đài Loan, trong 30 năm từ 1952
đến 1981 tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 26,34 lần nhưng kinh phí cho giáo dục tăng
hơn 90 lần [27, 22]. Có thể nói rằng, nền kinh tế của các nước này có sự phát triển nhanh
phần lớn nhờ vào sự phát triển nhanh của giáo dục và khoa học, kỹ thuật. Kinh nghiệm về
xây dựng và sử dụng nguồn lực con người của các nước công nghiệp mới Đông á là
những bài học bổ ích cho các nước chuẩn bị bước vào CNH, HĐH.
Vai trò quyết định của nguồn lực con người chỉ trở thành hiện thực khi người lao
động có những năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được những yêu cầu mà quá
trình CNH, HĐH đang đòi hỏi.
Yếu tố hàng đầu của nguồn lực con người trước hết là trí tuệ, bởi vì "tất cả những
gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ" [8, 409],
tức là phải thông qua trí tuệ. Trình độ trí tuệ phản ánh qua trình độ học vấn và tài năng
sáng tạo. Nó biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra
những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; ở sự nhạy bén, thích ứng nhanh và làm chủ được
những kỹ thuật, công nghệ hiện đại; ở kỹ năng lao động nghề nghiệp; ở năng lực hoạch
định chính sách, lựa chọn giải pháp và tổ chức thực hiện; ở sự biết quản lý sản xuất, kinh
doanh trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường và phân công lao động
quốc tế. Để có được những năng lực này, ngoài tư chất ban đầu, vai trò chủ yếu thuộc về

giáo dục và đào tạo, vì nó là phương tiện hữu hiệu để phát triển trí tuệ và trang bị chuyên
môn, nghề nghiệp, để khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người.
Ngoài ra, cũng cần thấy rằng, sự nghiệp CNH, HĐH khó có thể đạt được kết quả
tốt, nếu không có những công dân yêu nước, ham học hỏi, cần cù lao động và sáng tạo;
có tinh thần hợp tác, ý chí tự chủ vươn lên và lòng tự trọng dân tộc cao, tôn trọng pháp
luật, đạo lý; biết kết hợp hài hòa yếu tố truyền thống và hiện đại, văn hóa phương Đông
và văn hóa phương Tây; sống khoan dung và tôn trọng sự đa dạng, khác biệt, cùng nhau
gắn bó trên cơ sở đồng thuận và bình đẳng công dân và mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã

chúng "còn phải vượt qua nhiều trở ngại". Với một đất nước dân số hiện nay là 78 triệu,
có khoảng 45 triệu người trong độ tuổi lao động, bình quân mỗi năm có trên 1,7 triệu
thanh niên bước vào tuổi lao động; khoảng 35 vạn người ra khỏi tuổi lao động, số lao
động tăng thêm mỗi năm là 1,2 triệu đó là một lợi thế to lớn, một nguồn lực mạnh mẽ cho
phát triển. Con người Việt Nam "có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng
văn hóa, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học công nghệ đó là nguồn lực
quan trọng nhất" [13, 5]. Đảng ta đã coi việc xây dựng chiến lược con người, phát triển
con người Việt Nam toàn diện là nhiệm vụ có ý nghĩa hàng đầu. Mọi chủ trương, chính
sách, đường lối của Đảng đều quán triệt việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố
con người, đều hướng tới mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện. Con người
phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về
đạo đức. Hơn thế nữa, Đảng coi việc phát triển con người Việt Nam toàn diện không chỉ
là mục tiêu của công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà còn
là động lực mạnh mẽ nhất để đưa sự nghiệp cao cả đó đến thắng lợi. Chính sách xã hội
đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của con
người trong sự nghiệp CNH, HĐH.
1.2.2. Khơi dậy nguồn lực con người trong nông nghiệp - cơ sở, tiền đề để
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

Trích đoạn Sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người hiện có Đổi mới công tác giáo dục đào tạo nói chung, đào tạo nghề nói riêng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status