- - - - - -
Luận văn
Thực trạng thành lập quỹ Bảo
hiểm xã hội thành phần ở Bảo
hiểm xã hội Việt nam và một
số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động quỹ
bảo hiểm xã hội
3LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta mới chuyển đổi và đang có những bước phát triển mới.
Song “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội
trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển” (Trích văn kiện Đại hội Đảng
lần VIII).
Chính sách bảo hiểm xã hội đã phục vụ cho lợi ích của người lao động, thực
sự vì sự công bằng, tiến bộ xã hội và được xác định là một trong những chính sách
lớn của Đảng và Nhà nước ta - Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt nam đã trải qua chặng đường hơn 30 năm
xây dựng và trưởng thành kể từ Nghị định 218/CP ngày 27.12.1961 ban hành
hiểm xã hội Tỉnh Sơn La cũng như tập thể cán bộ công nhân viên tại cơ quan. Em
xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và các cô chú cán bộ công tác tại Bảo hiểm
xã hội tỉnh Sơn La đã giúp em hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn thực tập và
nghiên cứu tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Sơn La.
Cũng qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, TS Nguyễn
Văn Định- trưởng bộ môn Kinh tế bảo hiểm, Đại học Kinh tế Quốc dân-Hà nội đã
tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn.
5
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
VÀ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI (BHXH)
1. Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động.
Xã hội loài người phát triển thông qua quá trình lao động và sản xuất, thế
nhưng chính quá trình ấy một mặt đã đưa con người tới bước phát triển vượt bậc,
mặt khác lại là căn nguyên của những nỗi lo thường trực của con người vì trong
quá trình lao động và sản xuất con người luôn đứng trước nguy cơ gặp phải rủi ro
càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy Nhà
nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt
làm tăng được vai trò của nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải
đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở
xác suất rủi ro sảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ
hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ
xung từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao
động khi họ gặp phải những biến cố bất lợi.
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao
động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được
bảo đảm ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh
doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết.
Bảo hiểm xã hội ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ-
thợ và kết hợp hài hoà lợi ích giữa các bên:
Đối với người lao động: Góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động
khi họ kông may bị mất hoặc giảm thu nhập, tạo điều kiện cho họ yên tâm sản
xuất và công tác, gắn bó lợi ích của mình và gắn bó lợi ích của chủ sử dụng lao
động và lợi ích của nhà nước.
Đối với người sử dụng lao động: Giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh tránh
được những thiệt hại lớn khi phải chi ra những khoản tiền lớn khi không may
người lao động mà mình thuê mướn gặp rủi ro trong lao động, đặc biệt thông qua
bảo hiểm xã hội lợi ích của người sử dụng lao động với người lao động được giải
quyết hài hoà tránh những căng thẳng không cần thiết.
7
Đối với xã hội: Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách bảo đảm an
toàn cho xã hội, đặc biệt quỹ Bảo hiểm xã hội là một nguồn đầu tư rất lớn góp
phần phát triển và tăng trưởng kinh tế, thông qua đó gắn bó lợi ích của tất cả các
bên tham gia.
8
động, người sử dụng lao động và cả Nhà nước Tuy nhiên chỉ những người lao
động gặp phải các rủi ro biến cố được bảo hiểm mới được hưởng trợ cấp bảo hiểm
xã hội, số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những
người tham gia đóng góp. Bảo hiểm xã hội thực hiện phân phối và phân phối lại
thu nhập thông qua việc lấy sự đóng góp của số đông người lao động tham gia bảo
hiểm xã hội bù đắp cho số ít người lao động không may gặp các rủi ro trong quá
trình lao động. Việc phân phối được thực hiện theo cả chiều dọc và chiều ngang:
Phân phối lại giữa những người có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ
mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc Thực hiện chức
năng này có nghĩa là bảo hiểm xã hội đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất để nâng cao
năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Có thể nói bảo hiểm xã
hội đã làm triệt tiêu đi nỗi lo ngại của người lao động về bệnh tật, tai nạn lao động
hay tuổi già Bằng các khoản trợ cấp đủ để đảm bảo ổn định cuộc sống của người
lao động, tạo nên tâm lý yên tâm cho người lao động, đặc biệt là với những người
lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Chức năng này biểu
hiện như là một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động trong hoạt động lao
động sản xuất.
Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người
lao động với xã hội. Mâu thuẫn trong quan hệ chủ -thợ vốn là mâu thuẫn nội tại
mà bản thân nó khó có thể giải quyết hoặc giải quyết với sự tiêu tốn lớn nguồn lực
xã hội ( chẳng hạn như những cuộc biểu tình đòi quyền lợi gây đình trệ quá trình
sản xuất ) và cách thức dường như là tốt nhất để giải quyết mâu thuẫn này là
tham gia bảo hiểm xã hội mà trong đó quyền lợi của cả hai bên đều được bảo vệ,
từ đó góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được bình ổn
và không ngừng phát triển.
3.Tính chất của Bảo hiểm xã hội
Tính tất yếu, khách quan trong đời sống xã hội:
Chẳng hạn: Khi một người tham gia bảo hiểm xã hội đã đủ điều kiện hưởng
trợ cấp hưu trí nhưng không may họ bị chết và chỉ được hưởng một khoản trợ cấp
tử tuất ít ỏi so với công lao đóng góp của họ. Hay một minh chứng cụ thể hơn đó
là việc quy định một tỷ lệ đóng góp như nhau song những người đàn ông chẳng hy
vọng gì ở khoản trợ cấp thai sản.
4. Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
Mục đích của bảo hiểm xã hội thường gắn liền với việc “đền bù” hậu quả của
những sự kiện khác nhau xảy ra trong và ngoài quá trình lao động của những
người lao động. Tập hợp những cố gắng tổ chức “ đền bù” cho những sự kiện đó
là cơ sở chủ yếu của các chính sách bảo hiểm xã hội. Vì thế, năm 1952 Tổ chức
Lao động quốc tế (ILO) đã ra công ước 102 quy định tối thiểu về bảo hiểm xã hội
10
và đã được 158 nước thành viên phê chuẩn. Theo công ước này, hệ thống bảo
hiểm xã hội gồm các nhánh sau:
1. Chăm sóc y tế.
2. Trợ cấp ốm đau.
3. Trợ cấp thất nghiệp.
4. Trợ cấp tuổi già.
5. Trợ cấp tai nạn lao động _ bệnh nghề nghiệp.
6. Trợ cấp gia đình.
7. Trợ cấp thai sản.
8. Trợ cấp tàn tật.
9. Trợ cấp mất người nuôi dưỡng.
Ở từng nước, tuỳ theo điều kiện có thể thực hiện có thể thực hiện một số chế
độ cơ bản hoặc mở rộng. Tuy nhiên, ILO quy định rằng các thành viên phê chuẩn
công ước phải thực hiện ít nhất 3 trong 9 chế độ nêu trên, trong đó phải có ít nhất
một trong các chế độ 3, 4, 5, 8 hoặc 9. Các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay ở Việt
nam bao gồm:
1.Trợ cấp ốm đau.
kinh tế xã hội và có đủ phương tiện, công cụ thực hiện chức năng đó, tuy nhiên
không phải lúc nào chức năng đó cũng được phát huy tác dụng như mong muốn
mà đôi khi đem lại những kết quả bất lợi làm ảnh hưởng đến đời sống người lao
động. Khi đó dù không có bảo hiểm xã hội thì nhà nước vẫn phải chi ngân sách để
giúp đỡ người lao động dưới một dạng khác. Đối với người sử dụng lao động
cũng tương tự nhưng trên phạm vi xí nghiệp, đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh.
Chỉ khi người sử dụng lao động chăm lo đến đời sống người lao động và có những
ưu đãi xứng đáng thì người lao động mới yên tâm, tích cực lao động góp phần
tăng năng suất lao động. Còn đối với người lao động, những rủi ro phát sinh suy
cho cùng đều có một phần lỗi của người lao động (do ý thức, tay nghề ) và vì thế
họ cũng phải gánh vác một phần trách nhiệm tự bảo hiểm xã hội cho mình.
c, Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình
thành quỹ bảo hiểm xã hội độc lập, tập trung
Nhờ sự đóng góp của các bên tham gia mà phương thức riêng có của bảo
hiểm xã hội là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối lại thu
nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang mới được thực hiện. Hơn nữa, nó còn tạo
ra mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên tham
gia, góp phần tránh những hiện tượng tiêu cực như lợi dụng chế độ bảo hiểm xã
hội.
12
d, Phải lấy số đông bù số ít
Bảo hiểm nói chung hoạt động trên cơ sở xác suất rủi ro theo quy luật số
lớn, tức là lấy sự đóng góp của số đông người tham gia san xẻ cho số ít người
không may gặp rủi ro.
Trong số đông người tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội, chỉ những người
lao động mới là đối tượng hưởng trợ cấp và trong số những người lao động lại chỉ
có những người bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hay tuổi già có đủ các điều
kiện cần thiết mới được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.
e, Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu
h, Bảo hiểm xã hội phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều
kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể
Sự phát triển của bảo hiểm xã hội còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố: Các điều
kiện về kinh tế xã hội, trình độ quản lý của nhà nước hay sự hoàn chỉnh của nền
pháp chế mỗi quốc gia. Việc thực hiện toàn bộ 9 chế độ trong công ước 102 của
ILO là mong muốn và mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, song không phải quốc
gia nào cũng thực hiện được do sự hạn chế về nhiều mặt. Khi xã hội đã đạt tới một
bước phát triển mới làm nảy sinh những vấn đề mà hệ thống bảo hiểm xã hội hiện
thời không còn phù hợp thì yêu cầu đặt ra là sự đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội
( Cơ cấu các bộ phận của hệ thống, số lượng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức
đóng phí ) cho phù hợp với sự phát triển chung của toàn xã hội.
II. BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Giai đoạn 1945- 1959
a, Văn bản pháp quy quy định
Sau Cách mạng tháng 8-1945 Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
và mặc dù đang phải giải quyết trăm công ngàn việc quan trọng mang tính sống
còn của đất nước nhưng Đảng và Nhà nước vẫn quan tâm đến công tác bảo hiểm
xã hội đối với công nhân viên chức khi ốm đau, thai sản, TNLĐ, tuổi già và tử
tuất.
Tháng 12-1946 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước
dân chủ nhân dân. Trong Hiến pháp có xác định quyền được trợ cấp của người tàn
tật và người già.
Ngày 12-3-1947 Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29/SL quy
định chế độ trợ cấp cho công nhân.
Ngày 20-5-1950 Hồ chủ tịch ký hai Sắc lệnh số 76, 77 quy định thực hiện
các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí cho cán bộ, công nhân viên
chức.
14
b, Đặc điểm của chính sách bảo hiểm xã hội
nước thực hiện quản lý kinh tế xã hội theo cơ chế bao cấp nên việc thực hiện
15
BHXH còn rất hạn hẹp ( mới chỉ thực hiện được với công nhân viên chức nhà
nước) và nguồn tài chính chủ yếu để thực hiện trợ cấp các chế độ BHXH là do
NSNN bảo đảm.
3. Giai đoạn 1995 đến nay
a, Văn bản pháp quy quy định
- Để thực hiện BHXH đối với người làm công ăn lương và phát triển các hình
thức BHXH khác, ngay 23-6-1994 Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao động trong
đó có một chương quy định về BHXH .
- Ngày 26-01-1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP kèm theo Điều
lệ Bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức và người lao động.
- Ngày 15-7-1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 45/CP kèm theo Điều lệ
Bảo hiểm xã hội đối với quân nhân trong lực lượng vũ trang.
Nội dung cơ bản của những văn bản pháp quy này:
1, Từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHXH bằng hình thức kết hợp bắt
buộc và tự nguyện đối với người lao động trong mọi thành phần kinh tế.
2, Hệ thống các chế độ trợ cấp BHXH gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.
3, Hình thành quỹ BHXH độc lập, nằm ngoài NSNN. Quỹ BHXH hình thành
chủ yếu từ 3 nguồn: Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động.
4, Hình thành cơ quan chuyên trách về BHXH là Bảo hiểm xã hội Việt nam.
b, Đặc điểm của chính sách bảo hiểm xã hội
- Bảo hiểm xã hội đã được tổ chức và thực hiện phù hợp với điều kiện nền
kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ
nghĩa.
- Thực hiện sự công bằng về quyền được BHXH của mọi người lao động.
- Thực hiện quan hệ giữa nghĩa vụ đóng góp và hưởng trợ cấp BHXH.
- Thực hiện cơ chế quản lý thực hiện pháp luật BHXH chuyên trách.
Tính tích luỹ.
Quỹ BHXH là “ của để dành ” của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi
già và đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động.
Trong quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi ở một thời điểm
hiện tại để chi trả trong tương lai, khi người lao động có đủ các điều kiện cần thiết
để được hưởng trợ cấp ( chẳng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp BHXH
17
). Số lượng tiền trong quỹ có thể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các
bên tham gia và bởi thực hiện các biện pháp tăng trưởng quỹ.
Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả.
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để
chi trả trợ cấp cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất
hay giảm thhu nhập. Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng
là đối tượng nhận trợ cấp. Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi
người sẽ khác nhau, điều đó phụ thuộc vào những rủi ro mà họ gặp phải cũng như
mức độ đóng góp và thời gian tham gia BHXH.
Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có
đóng- có hưởng, đóng ít- hưởng ít, đóng nhiều- hưởng nhiều nhưng như vậy
không có nghĩa là những người có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chắn đưọc
hưởng một khoản trợ cấp như nhau. Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhưng
có người được hưởng nhiều lần, có người được hưởng ít lần ( với chế độ ốm đau),
thậm trí không được hưởng (chế độ thai sản).
2. Phân loại quỹ bảo hiểm xã hội
Nhiệm vụ của các nhà làm công tác BHXH là phải thành lập nên quỹ BHXH
theo cách thức phù hợp với trình độ tổ chức và thực hiện. Thế nhưng, đó lại là một
vấn đề hết sức khó khăn và đôi khi không thống nhất quan điểm. Bởi vì theo nhiều
cách tiếp cận khác nhau có các loại quỹ bảo hiểm xã hội khác nhau.
a, Theo tính chất sử dụng quỹ
Quỹ dài hạn: Là quỹ được thành lập để dùng chi trả cho các chế độ đài
hợp vì như thế sẽ đẫn tới tình trạng quá phân tán nguồn đóng góp của các đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội ( theo cách tiếp cận thứ hai chúng ta phải thành
lập ra 5 quỹ BHXH tương ứng với 5 chế độ BHXH hiện hành và theo cách tiếp
cận thứ ba thì ít nhất cũng phải thành lập ra không dưới 5 quỹ BHXH). Trong điều
kiện hiện nay, chúng ta nên thành lập ra các quỹ BHXH thành phần theo cách tiếp
cận thứ nhất là hợp lý hơn cả và những lý do sẽ được trình bày ở phần sau.
3. Tạo nguồn
a, Đối tượng tham gia và đóng góp.
Những câu hỏi cơ bản nhất liên quan đến tài chính BHXH là: Ai đóng góp,
đóng góp bao nhiêu và dựa trên cơ sở nào. Nói chung, các nguồn kinh phí của một
hệ thống BHXH có thể liệt kê như sau: Sự tham gia của Nhà nước, sự tham gia
của chính quyền các cấp ( chính quyền tỉnh và địa phương ); những khoản thuế đã
được nhắm trước hoặc phân bổ cho BHXH; Đóng góp của người tham gia bảo
hiểm xã hội, của chủ sử dụng lao động; Thu nhập từ đầu tư và các khoản thu nhập
19
khác. Trong đó nguồn thu nhập chủ yếu của quỹ BHXH là từ sự đóng góp của
người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước.
Thông thường, để đảm bảo nguyên tắc có đóng có hưởng, tất cả những người
lao động tham gia BHXH đều có nghĩa vụ đóng góp bảo hiểm xã hội, tuy nhiên
việc xác định đối tượng tham gia ở mỗi quốc gia có khác nhau. Ban đầu, chương
trình BHXH không có xu hướng bảo hiểm cho những người tự tạo việc làm, lao
động nông nghiệp, người thất nghiệp và người chưa có việc làm. BHXH cũng
không bảo hiểm cho những người làm việc bán thời gian và lao động trong các
doanh nghiệp nhỏ.
Ở khu vực Châu Á- Thái bình dương, các quốc gia công nghiệp (Ôxtraylia,
Hồng Kông, Nhật bản và Niu Di Lân) và các nước cộng hoà thuộc Liên xô (cũ)
đang mở rộng sự bao phủ hệ thống an toàn xã hội đến toàn bộ dân chúng một cách
toàn diện hơn. Trong khi đó, các nước còn lại chủ yếu tập trung các hệ thống của
họ vào khu vực sử dụng lao động một cách chính quy tại các trung tâm đô thị
Một số nước dựa vào mức đóng góp theo một tỷ lệ đặc biệt dựa vào sự khác
biệt giữa các công việc của người lao động. Chẳng hạn trong chế độ bảo hiểm tai
nạn lao động, tỷ lệ đóng góp thay đổi tuỳ theo ngành công nghiệp và mức độ rủi
ro của mỗi ngành nghề.
c, Xác định mức đóng góp.
Nói chung, xác định mức đóng góp BHXH dựa trên một cơ chế tài chính là
cân đối giữa thu và chi. Có thể xác định mức đóng góp và, trên cơ sở đó xác định
mức hưởng hoặc cũng có thể xác định mức hưởng trước rồi xác định mức đóng
góp. Cho dù thực hiện theo cách nào thì vẫn phải đảm bảo sự cân đối giữa tổng số
tiền hình thành quỹvà tổng số tiền được chi ra từ quỹ.
Hệ thống “ trợ cấp xác định ” và hệ thống “ đóng góp xác định ”:
- Hệ thống “ đóng góp xác định ”: Hệ thống này xác định người lao động nên
giành bao nhiêu tiền cho tuổi già của mình chứ không phải là họ sẽ xứng đáng
được nhận trợ cấp là bao nhiêu. Ưu điểm của hệ thống này là nó không phải
chịu bất cứ sự mất cân bằng nào về tài chính và không bao giờ phải tăng mức
đóng góp lên cả. Nhưng nhược điểm của nó là do có rất nhiều rủi ro nên một
số hoặc tất cả mọi người lao động có thể bị chấm dứt được nhận trợ cấp tuổi
già, mức trợ cấp này thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu đã đặt ra.
- Hệ thống “ trợ cấp xác định ”: Ưu điểm chính của hệ thống này là nó cho
phép người lao động được bảo đảm về tài chính ở mức độ cao hơn ở tuổi già,
tuy nhiên nhược điểm của hệ thống này là đôi lúc gặp phải rắc rối về tài chính
mà vấn đề này cần thiết phải tăng mức đóng góp và hoặc giảm mức trợ cấp.
21
Quốc gia nào áp dụng ?. Hệ thống bảo hiểm xã hội mà có chế độ tuổi già ở
hầu hết các nước (trong đó có Việt Nam) là hệ thống bảo hiểm chế độ trợ cấp
xác định. Trong khi đó hệ thống tiết kiệm hưu trí bắt buộc ở Chile và Quỹ dự
trữ quốc gia ở các nước Malayxia và Singapore lại là những ví dụ điển hình
về hệ thống bảo hiểm có mức đóng góp xác định.
Nhiệm vụ của những người chịu trách nhiệm thực hiện là phải xác định được
thậm chí nước lã cũng mất tiền ) và thêm vào đó là các khoản chi phí để xây dựng
cơ sở vật chất, hạ tầng Nguồn tài chính tài trợ cho các chi phí này là từ quỹ
BHXH. Chi phí hành chính bị ảnh hưởng bởi cả thời gian thành lập và độ lớn của
tổ chức BHXH. Các tổ chức BHXH mới thành lập thường có chi phí hành chính
cao hơn bởi những hệ thống này còn đang trong giai đoạn học hỏi để hoạt động có
hiệu quả. Những hệ thống BHXH nhỏ có chi phí hành chính cao hơn gắn với mức
đóng góp bởi vì những hệ thống này không thể thực hiện lợi thế của tiết kiệm do
mở rộng quy mô do những chức năng hành chính được chuyên môn hoá cao hơn
và khả năng dàn trải chi phí cố định đối với chi phí hành chính ra cho nhiều người
tham gia.
Phần an toàn được thiết lập để đối phó với những biến cố xảy ra trong tương
lai và được dùng tới khi mức trợ cấp vượt quá so với dự tính.
Bảng 01: Mức đóng góp BHXH của một số nước trên thế giới.
Tên nước Chính phủ Tỷ lệ đóng góp của
NLĐ so với tiền
lương (%)
Tỷ lệ đóng góp của
NSDLĐ so với quỹ
lương (%)
CHLB Đức
Bù thiếu 14,8 18,8 16,3 22,6
CH Pháp Bù thiếu 11,82 19,68
Indonexia Bù thiếu 3,0 6,5
Philippin Bù thiếu 2,85 9,25 6,85 8,05
Malaixia Chi toàn bộ
chế độ ốm
đau, thai sản
9,5 12,75
Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới.
hội được mở rộng nên các trường hợp được BHXH cũng được mở rộng dần cả
trong và ngoài quá trình lao động .
Ngoài những quy định về rủi ro, còn có các quy định về tuổi đời và thời gian
tham gia BHXH. Quy định về tuổi đời nhằm xác lập mức chi trả trợ cấp, quy định
về thời gian tham gia nhằm xác lập mức độ dóng góp. Hai điều kiện này là một
trong những biện pháp cân đối thu chi của BHXH và thực hiện nguyên tắc có
đóng có hưởng, đóng ít hưởng ít, đóng nhiều hưởng nhiều.
Một vài ví dụ :
Với chế độ ốm đau: Thời gian đóng BHXH trước khi được hưởng trợ cấp ốm
đau ở Mianma quy định là 6 tháng, Iran là 3 tháng
24
Với chế độ thai sản: Thời gian đóng BHXH trước khi được hưởng trợ cấp
thai sản đối với Mianma là 26 tuần, Đài loan: 10 tháng, Ấn độ: 18 tuần
Với chế độ hưu trí: Thời gian tham gia đóng BHXH trước khi nghỉ hưu ở các
nước thường là 60 cho nam và 55 cho nữ ( một số nước có quy định khác:
Ôxtrâylia: 65 cho nam, 60 cho nữ; Sri lanka: 55 cho nam và 50 cho nữ ). Thời
gian tham gia BHXH trước khi hưởng chế độ hưu trí thường là từ 20 đến 30 năm.
b, Xác định mức trợ cấp
Theo quan điểm của BHXH, mức trợ cấp phải thấp hơn mức tiền lương lúc
đang đi làm, nhưng phải đảm bảo mức sống tối thiểu. Nhưng mức trợ cấp là bao
nhiêu ?. chúng ta biết rằng mục đích của BHXH là bù đắp lại một phần thu nhập
đã bị mất và góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động. Do đó, để xác định
mức trợ cấp người ta dựa vào:
Mức giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động. Khi
những rủi ro xảy ra, mức độ suy giảm khả năng lao động khác nhau dẫn tới việc
giảm thu nhập khác nhau. Do đó, mức trợ cấp BHXH phải căn cứ vào mức suy
giảm thu nhập để có thể bù đắp một cách hợp lý. Tuy nhiên đối với cả một tập hợp
người lao động với những mức độ suy giảm khả năng lao động khác nhau và do
đó mức suy giảm thu nhập khác nhau thì cần phải tính toán những “ thiếu hụt có
việc thanh toán chi trả trợ cấp theo từng giai đoạn ( tháng, tuần ) để giảm
bớt khối lượng công việc phát sinh trong quá trình tiến hành thanh toán theo
đòi hỏi của khách hàng. Ở Nam phi, hơn 400.000 người về hưu nhận trợ cấp
chế độ thông qua máy rút tiền tự động của ngân hàng hay ở Ireland, Cục
Các Vấn đề Xã Hội, Cộng đồng và gia đình ( DSCFA ) đã hợp đồng chi trả
trợ cấp ngắn hạn với ngành Bưu điện (với mạng lưới 2000 trạm bưu điện địa
phương).
5. Cơ quan tổ chức thực hiện.
Việc tiến hành tổ chức thực hiện có thể do nhà nước đảm nhận và cũng có
thể do tư nhân tiến hành và đôi khi cùng tồn tại một lúc hai hệ thống thành phần.
Nhà nước được lợi từ BHXH nhưng như thế không có nghĩa là nhà nước phải trực
tiếp đứng ra thực hiện mà chỉ cần đóng vai trò của một bên tham gia và thực hiện
chức năng quản lý. Với hệ thống bảo hiểm xã hội do nhà nước lập ra, quỹ BHXH
có sự bù đắp thêm của Ngân sách nhà nước và nó không hoạt động theo phương
thức kinh doanh đối với người lao động. Còn hệ thống bảo hiểm xã hội do tư nhân
và các tổ chức xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật và có sự bảo trợ của
nhà nước thì hoạt động theo phương thức kinh doanh và trong phí bảo hiểm được
thêm một phần gọi là lãi định mức cho tổ chức bảo hiểm xã hội ( Plđm, khi đó
Ptp=Ptt+Phc+Pdp+Plđm ).
Liệu rằng, quản lý Nhà nước hay quản lý tư nhân các hệ thống bảo hiểm xã
hội có hiệu quả hơn ? Chúng ta thử so sánh hai hình thức này thông qua việc lập
quỹ hưu trí:
26
Bảng 02: Quản lý Nhà nước và tư nhân các hình thức quỹ BHXH.
Quản lý nhà nước Quản lý tư nhân An toàn
khu vực quản lý tài sản có thể do độ rủi
ro cao do mạo hiểm đầ tư với số tiền
hưu.
- Quản lý tư nhân các quỹ có thể đễ bị
tổn hại bởi tình trạng lừa đảo của người
quản lý.
Các vấn
đề tài
chính
- chi phí quản lý có thể thấp mặc
dù do thiếu động lực lợi ích cho
cán bộ, và cũng ít bị thúc ép để
giảm thiểu chi phí.
- Tuy nhiên tổng chi phí có thể
tăng lên do lãi thấp từ các khoản
đầu tư tồi từ quỹ.
- Tính phi kinh tế bởi quy mô
trong quản lý tài sản dẫn đến sự
không có khả năng trong việc dịch
chuyển đầu tư.
- Đầu tư có hiệu quả sẽ giảm chi phí do
tăng lãi ở mức rủi ro nhất định.
- Lượng quỹ có thể phi kinh tế do nhỏ,
chi phí quản lý có thể cao.
- Chi phí marketing của lương hưu cá
nhân cao.
- Cơ cấu quản lý phức tạp hơn do yêu