Luận văn
Thực trạng và một số giải
pháp mở rộng hoạt động tín
dụng đối với khu vực kinh tế
tư nhân của ngân hàng Ngoại
Thương Hà Nội
SVTH: Lª SÜ TuÊn - Líp: Ng©n hµng 44C 1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hầu hết sự phát triển về kinh tế của các quốc gia trên thế giới
hiện nay và trong tương lai đều có sự tham gia của các khu vực kinh tế thuộc
Nhà nước, Tư nhân, và nước ngoài. và mỗi khu vực này này đều có những
đóng góp nhất định đối với mỗi nền kinh tế cụ thể, tuy nhiên theo kinh
nghiệm của các quốc gia phát triển trên thế giới thì khu vực kinh tế tư nhân là
khu vực có đóng góp quan trong trong thúc đẩy qua trình phát triển của họ,
mà khu vực kinh tế tư nhân thường là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngay
cả Mỹ một nước có nền kinh tế hàng đầu thế giới, có các công ty xuyên quốc
nam điều 49 thì : tín dụng được thể hiện dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh,
cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng nhà
nước.
1.1.2.Tính chất pháp lý của các nghiệp vụ tín dụng.
xét về tính chất phát lý thì tín dụng được chia làm 3 loại như: cho vay
tiền, cho vay, cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền và tín dụng
qua chữa kí.
Là nghiệp vụ tín dụng trong đó người cho vay cam kết hoàn trả một
khoản tiền và người đi vay cam kết trả một khoản tiền lớn hơn khoản ban đầu.
Khoản chênh lệch này gọi là lãi. lãi phụ thuộc vào thời gian và số lượng
khoản vay.
Cho vay dựa trên phương án sản xuất kinh doanh của người đi vay và
khoản vay còn được bảo dảm bằng tài sản của người đi vay. Đây là loại hình
tín dụng gặp rủi ro cao. Do khách hàng có thể sử dụng tiền đúng mục đích
như khế ước vay. Ngân hàng có thể chuyển một lần hay nhiều lần.
Loại cho vay này dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:
+ Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi: đây là nguyên tắc
quan trọng nhất vì vốn của ngân hàng phần lớn là vốn huy động. Ngân hàng
phải tri trả khi khách hàng đến rút tiền. Nếu khoản tín dụng không được hoàn
trả đúng hạn điều này có thể làm cho ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro thanh
khoản.
để tránh điều nay ngân hàng phải quy định kỳ hạn nợ, khi đến hạn thì khác
hàng phải trả nếu không thì ngân hàng có thể tự động trích số dư tài khoản
tiền gửi của người đi vay hay phát mại tài sản đảm bảo.
+ Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: vì khi cho khách hàng vay
thì ngân hàng còn phải thẩm định phương án sản xuất từ đó mới có phương
án giải ngân. Nếu trong quá trình nếu phát hiện có vấn đề trong việc sử dụng
tiền thì ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước thời hạn trong hợp đồng tín
dụng, nếu thu không đủ khoản tiền đã cấp thì khoản tiền còn lại chưa thu
được sẽ được chuyển thành nợ quá hạn. nguyên tắc này rất quan trọng, khi
trường hợp này thì những người bảo lảnh phải có được uy tín hay phải có
khả năng về tài chính đủ mạnh đảm bảo được sự tin tưởng của ngân hàng.
1.1.2.2. Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền.
Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền là hình thức cho vay dựa
trên cơ sở mua bán các cộng cụ tài chính như mua bán các hối phiếu lệnh
phiếu … từ đó tạo ra nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu của ngân hàng, tức
là mua nợ dựa trên khoảng thời gian còn lại của cho đến lúc đáo hạn của
thương phiếu.
Về mặt pháp lý ngân hàng không cho vay mà là mua một trái quyền,
ngân hàng bỏ tiền ra ứng trước giá trị của một thương phiếu chưa đến hạn
thanh toán đổi lại ngân hàng được nắm quyền sở hữu và có quyền truy đòi khi
đến hạn thanh toán, thủ tục chiết khấu cũng khác thủ tục vay va không có hợp
đồng tín dụng.
+ Chiết khấu thương phiếu: Là một nghiệp vụ tín dụng, vì nó, vì nó
đem lại ngay cho khách hàng một số tiền bình thường mà chỉ được chi trả khi
nó đến hạn thanh toán trong thương phiếu.
Nhưng về mặt pháp lỳ thì không phải là một khoản cho vay, vì ngân
hàng không cho khách hàng vay số tiền mà khách hàng sẽ phải trả cho ngân
hàng, mà ở đây ngân hàng ứng trước giá trị của một thương phiếu chưa đến
hạn đổi lại ngân hàng nắm quyền sở hữu thương phiếu đó, vì vậy ngân hàng
sẽ được đòi lại khoản ứng trước đây bằng cách truy đòi trái phiếu khi đến hạn.
Như vậy chiết khấu là việc ngân hàng ứng trước cho giá trị một thương
phiếu đổi lấy việc chuyển giao quyền sở hữu thương phiếu.
+ Mua uỷ nhiệm thu hay bao thanh toán hay còn gọi là cho vay uỷ
nhiêm thu: Đây là trường hợp ngân hàng mua đứt các chứng quyền để đi đòi
nợ, bao thanh toán có thể được xác định là một hợp đồng, mà trong đó các
ngân hàng mua đứt các trái quyền của người bán đối với người mua là khách
hàng của ngân hàng.
1.1.2.3. Tín dụng qua chữ ký.
Tín dụng qua chữ ký có thể là kết quả của chữ ký của ngân hàng, trong
- Tín dụng phát sinh từ cam kết của ngân hàng: là hình thức mà ngân
hàng cam kết một khoản tín dụng cụ thể hay một hạn mức tín dụng mà ngân
hàng không thể tự do chấm dứt cam kết của mình khi phía khách hàng không
có những những vi phạm như đã thoả thuận.
+ Tín dụng có thể huy động và không thể huy động.
- Tín dụng có thể huy động là những khoản tín dụng mà ngân hàng có
thể chuyển nhượng để thu hồi tiền trước kì hạn đã định.
- Tín dụng không thể huy động: là tín dụng mà khi ngân hàng cấp ra là
không thể chuyển nhượng để thu hồi vốn trước thời hạn định.
1.1.3.2.Tín dụng ngân quỹ.
Tín dụng ngân quỹ là để thoả mãn nhu cầu vốn lưu động của các doanh
nghiệp.
+ Tín dụng huy động trái quyền: đây là việc huy động các trái quyền đối
với khách hàng trong nước và nước ngoài, khi đó khoản tín dụng này nhằm sử
dụng ngay giá trị của các trái quyền sau khi trừ đi khoản tiền chiết khấu mà lẽ
ra đến hạn mới được nhận.
+ Tín dụng ngân quỹ: nhằm đảm bảo sự cân đối ngân quỹ của doanh
nghiệp ngân quỹ của doanh nghiệp, doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu
này vì có sự chênh lệch về thời gian các khoản chi phí và thu nhập của doanh
nghiệp.
- Tạm ứng hay vượt chi tài khoản: hình thức này giúp cho doanh nghiệp
đối phó với thiếu vốn lưu động rất ngắn, trong hạn mức và thời gian quy định
thì nó đảm bảo cho tài khoản của doanh nghiệp dư nợ hay vượt chi, hình thức
này không có sự đảm bảo nội tại nào mà chỉ căn cứ vào tình hình tài chính,
mức độ và điều kiện hoạt động của tài sản.
- Tín dụng ngân quỹ thuần tuý : khi khoản tín dụng có tính chất dài hơn
thì ngân hàng có thể cho vay theo hình thức có thể là vượt chi tài khoản với
thời gian dài hơn và kèm theo những điều kiện đảm bảo cho khoản vay đó
hoặc có thể chiết khấu chứng từ có kỳ hạn cố định, các chứng từ này có thể
gọi là các chứng từ tài chính. Về thời hạn thì có thể là tín dụng tuần hoàn để
này được áp dụng khi mà thời gian trong hợp đồng thuê nhỏ hơn thời gian
khấu hao của tài sản, hay Ngân hàng có thể mua trả góp để cho thuê trong
trường hợp Ngân hàng thiếu vốn.
+ Đặc điểm của nghiệp vụ này là: Ngân hàng cho thuê thường là tài sản
cố định do đó nó là tín dụng trung và dài hạn, thời hạn thuê có 2 phần đó là
thời hạn cơ bản là thời hạn mà người đi thuê không được huỷ ngan hợp đồng
do đó tiền mà ngân hàng thu được phải đủ cả gốc và lãi và thời hạn gia hạn
thêm là người đi thuê có thể trả lại, mua lại, thuê tiếp…, trong nghiệp vụ thuê
mua thì Ngân hang không cam kết bảo dưỡng tài sản, không chịu trách nhiệm
đối với những thiệt hại với tài sản.
1.1.3.4.Tín dụng tài trợ cho ngoại thương.
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay, hoạt động tài trợ
ngoại thương có vai trò rất quan trọng, nó thúc đẩy thương mại quốc tế, làm
giảm rủi ro cho những nhà xuất – nhập khẩu vì những khó khăn như:địa lý,
tôn giáo, chính trị …các hoạt động ngoại thương gồm:
+ Tài trợ xuất khẩu gồm có các hình thức:
- Tài trợ trong trường nhờ thu kèm chứng từ: là nhà xuất khẩu chuyển
các chứng từ cho Ngân hàng nhờ thu, ngân hàng sẽ chuyển các chứng từ này
tới Ngân hàng cần giao dịch, khi được chấp nhận thanh toán thì nhà xuất khẩu
mới giao hàng.
- Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu: là chiết khấu các hối phiếu kỳ hạn
không thể huỷ ngang khi nó chưa đến hạn và hối phiếu này được bên xuất
nhập khẩu không huỷ ngang.
-Tài trợ trong khuôn khổ chứng từ: là hình thức tín dụng Ngân hàng
dựa trên khuôn khổ chiết khấu bộ chứng từ khi chưa đến hạn thanh toán, tỷ lệ
thanh toán dựa phương thức chiết khấu. Thứ nhất là chiết khấu truy đòi nghĩa
là Ngân hàng có quyền đòi lại nhà xuất khẩu nếu đến hạn mà nhà xuất khẩu
không thanh toán do đó lãi suất thấp. Thứ hai là chiết khấu miễn truy đòi
nghĩa là Ngân hàng chịu hoàn toàn rủi ro nếu phía đối tác không thanh toán
khi đao hạn do đó lãi suất cao.
- Chấp nhận của Ngân hàng: với các hối phiếu có kì hạn sẽ được Ngân
hàng phía người nhập khẩu đóng dấu và chấp nhận thanh toán, khi người xuất
khẩu có nhu cầu về tiền, Ngân hàng nhập khẩu sẽ thanh toán ngay có triết
khấu cho bên bán và giữa lại hối phiếu, hối phiếu có thể được bán hay chiết
khấu tại Ngân hàng nhập khẩu khi đến hạn.
- Tín dụng chấp nhận hối phiếu dành cho nhà nhập khẩu: theo hình thức
này nhà nhập khẩu ký hợp đồng với ngân hàng phục vụ mình trên cơ sở hối
phiếu tự nhận nợ, hối phiếu này do Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát
hành và chuyển đến cho nhà nhập khẩu, và nhà nhập khẩu dùng hối phiếu này
để chiết khấu nhận tiền tại Ngân hàng phục vụ mình.
1.2. KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN:
Theo kinh nghiệm của các nước phát triển như Mỹ, Nhật thì khu vực
kinh tế tư nhân có đóng góp vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội
cho những quốc gia này, chẳng hạn như Mỹ là một nước mà nỗi tiếng có
nhiều công ty đa quốc gia nổi tiếng toàn cầu, nhưng đó chỉ là bề nỗi của nền
kinh tế mỹ, còn khu vực kinh tế tư nhân mới là đóng góp lớn cho nền kinh tế
Mỹ, quay trở về Việt Nam thì khu vực kinh tế tư nhân đã hình thành và phát
triển khá sớm nhưng do nhiều hoàn cảnh của đất nước mà khu vực kinh tế này
có những lúc đã bị lãng quên trong một thời gian dài, nhưng do cũng như
những nứơc khác trên thế giới, khu vực này ngày càng khẳng định được vai
trò của mình trong nên kinh tế nước nhà, và trong những năm gần đây đã
được Đảng và Nhà nước quan tâm tạo nhiều điều kiện cho khu vực kinh tế
này phát triển.
1.2.1. Chủ trương của Đảng về kinh tế tư nhân.
Khu vực kinh tế tư nhân đã xuất hiện từ trước cách mạng tháng 8,
nhưng khu vực kinh tế này chỉ phát triển mạnh mẽ từ sau cách mạng tháng 8
và đã có những đóng góp rất lớn cho miền bắc từ năm1955 – 1957 với chủ
trương phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó co kinh tế cá thể và tư bản
tư nhân và thành phần kinh tế này đã có những đóng góp rất lớn cụ thể như:
năm 1955 có 51688 cơ sở công nghiệp tư nhân và tiểu thủ công nghiệp, với
1.2.2.1. Phát triển về số lượng.
Với sự khuyến khích mạnh mẽ và tạo nhiều điều kiện thuân lợi của Nhà
nước thì khu vực kinh tế tư nhân đã có nhưng đáng kể về số lượng.
Về hộ kinh doanh cá thể: số hoạt động từ 1498611 hộ năm 1992 và tăng
lên 2016259 hộ vào năm 1996, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 7, 68%/
năm, mỗi năm tăng 129412 hộ, từ năm 1996 đến 2000 số lượng hộ kinh
doanh các thể hoạt động tăng châm, từ 1996 là 2016259 lên 213731 hộ năm
2000, tăng bình quân 1,47% /năm, mỗi năm tăng30364 hộ và đến cuối năm
2003 cả nước có khoảng 2,7 triệu hộ kinh doanh, 130000 trang trại và 10 triệu
hộ nông dân sản xuất hàng hoá, sở dĩ có sự giảm về số lượng hộ cá thể là vì
nhiều hộ đã chuyển lên thành lập công ty sau khi đã tích luỹ được trong một
thời gian dài và những năm gần đây lại gặp nhiều điều kiện thuận lợi trong
thành lập doanh nghiệp.
Về doanh nghiệp: số lượng các doanh nghiệp tăng được thể hiện qua các
năm như sau: năm 1991 cả nước có khoảng 414 doanh nghiệp, đến năm 1992
là 5189 doanh nghiệp và đến 1995 là 15276 doanh nghiệp, năm 1999 là
28700 doanh nghiệp, từ khi luật doanh nghiệp đi vào hoạt động 1/1/2000 thì
đã tao ra một bước đột phá trong tăng số lượng các doanh nghiệp, tính từ năm
2000 đến tháng 5- 2004 cả nước có khoảng 93208 doang nghiệp đang ký
thành lập mới,gấp hơn hai lần số doanh nghiếp được thành lập trong thời gian
trước đó từ 1991- 1999 chỉ có 45000 doanh nghiệp được thành lập, tính đến
cuối 2004 cả nước có khoảng 138208 doanh nghiệp đang ký thành lập theo
luật doanh nghiệp, trung bình hàng năm tăng 3,75 lần so với trung bình của
những năm trước 2000, vể cơ cấu thì tỷ trọng doanh nghiệp tư nhân trong
tổng số doanh nghiệp đang ký giảm từ 64% trong giai đoạn 1991 – 1999
xuống còn 34% giai đoạn 2000 – 2004. Trong khi đó cùng thời gian trên thì tỷ
trong của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần tăng từ 36% đến
66%, trong 4 năm qua có khoảng 7165 công ty cổ phần thành lập gấp 10 lần
so với giai đoạn 1991 -1999. tỷ trong doanh nghiệp tư nhân giảm vì số lượng
vố của đa số các doanh nghiệp thuộc khu vự này là nhỏ, do đó loại hình này
lao động trong các hộ kinh doanh cá thể thấp hơn của các doanh nghiệp đó là
do số lượng các hộ kinh doanh cá thể tăng chậm so với các doanh nghiệp.
Về lĩnh vực và địa bàn: khu vực kinh tế tư nhân phần đông là các doanh
nghiệp, đã và đang hoạt động trong hầu hết các ngành nghề mà pháp luật
không cấm, không chỉ hoạt động trong nông nghiệp mà còn trong cả các
ngành công nghiệp, dịch vụ cao cấp như công nghiệp sản xuất tư liệu sản
xuất, chế biến, công nghệ thông tin, ngân hàng tài chính, bảo hiểm , tư vấn.
Sở dĩ khu vực này có khả năng hoạt động rộng vì một mặt là có số lương
đông và tiềm lực về tài chính ngày càng được cải thiện do đã tích luỹ quay
nhiều năm, một mặt là khu vực này có mặt ở hầu hết trên lãnh thổ cả nước do
đó có thể phát hiện rất nhanh các nhu cầu ở các địa bàn trên cả nước.
1.2.3. Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân.
1.2.3.1. tạo công ăn việc làm.
Sự đóng góp lớn nhất của khu vực kinh tế tư nhân cho xã hội đó là giải
quyết việc làm cho người lao động, khu vực kinh tế này hàng năm thu hút lao
động mới và từ các doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể chuyển sang,
năm 2000 số lượng lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân là
9,616733 triệu lao động, chiếm 79,89% tổng lao động, trong năm 2003 khu
vực nhà nước có 3,858 triệu lao dộng chỉ chiếm gần 10% lực lượng lao động
xã hội và với xu hướng ngày càng giảm số lao động trong khu cực kinh tế
này. Do đó có tới hơn 90% lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế tư
nhân, mặt khác hàng năm nước ta có khoảng 1,4 -1,5 triệu người gia nhập thị
trường lao động đó là một sức ép rất lớn đến thị trường lao động của nước ta,
hơn nữa để đầu tư cho một suất lao động ở khu vực tư nhân tốn 35 triệu đồng,
còn ở doanh nghiệp nhà nước là 87,5 triệu đồng như vậy khu vực kinh tế tư
nhân có lợi thế tương đối so với khu vực nhà nước trong việc tao việc làm. Sự
phát triển của kinh tế tư nhân làm tăng sự lựa chọn cho người lao động và
người sử dụng lao động do đó làm tăng sự canh tranh cho thị trường lao động,
vì có sự cạnh tranh nên mỗi một lao động muốn tham gia vào thì trường mà
được nhiều người thuê và có thể thực hiện được mục đích của mình qua việc
là 47,85%, năm 2002 là 42% và năm 2004 là 38,5% tỷ trọng có xu hướng
giảm do năng suất lao động trong khu vực này giảm trong khi các khu vực
khác tăng lên.
1.2.3.3. Về xuất khẩu.
Khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp đáng kể vào xuất khẩu
của việt nam, số lượng đang ký tham gia xuất khẩu tăng mạnh năm 1995 có
156 doanh nghiệp đến 2002 la 13774 doanh nghiệp, khu vực tư nhân tham gia
xuất khẩu nhiều mặt hàng như may mặc, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu …
tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của khu vực tư nhân phân bố không đồng đều,
chỉ tập trung ở những thành phố lớn, thành phố trực thuộc Trung ương, điều
này đựơc cụ thể là thành phố hà nội xuất khẩu chiếm 25% tổng kim ngạch
xuất khẩu của hà nội và chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, thành
phố HồChí Minh là 12%, một số tỉnh có tỷ trọng khá cao như Hà Giang là
60%, Bình Thuận là 45%, khu vực kinh tế tư nhân đã làm tăng thêm sư đa
dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và đã tìm kiếm được nhiều thị trường để
phát triển, năm 2002 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 48% tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam, hiện nay thì khu vực kinh tế tư nhân đã vượt khu
vực kinh tế nhà nước về xuất khẩu.
1.2.3.4. Đóng góp vào ngân sách.
Đóng góp của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân vào
ngân sách đang có xu hướng tăng lên, từ khoảng 6,4% năm 2001 lên 7,4%
năm 2002. tỷ lệ này tương đương với đầu tư trực tiếp nước ngoài là 5,2% và
6% , khoản thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ dân doanh là năm 2002
đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2001, doanh số thu từ doanh
nghiệp dân doanh chiếm 15% tổng số thu, tăng 29,5% so với các năm trước.
Đóng góp vào ngân sách của địa phương của các doanh nghiệp danh
doanh lớn hơn nhiều so vớ trung ương, như thành phố Hồ Chí Minh chiếm
15% tổng ngân sách, Bnh Định là 33%, Thái Nguyên là 17%
Ngoài ra hiệp hội các doanh nghiệp còn tham gia xây dựng các công
trình phúc lợi xã hội như trường học, đường nông thôn ở các địa phương.
Sự tham gia ngày càng nhiều vào tất cả các ngang nghề đã tao ra sự
cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, phá bỏ dần tính độc quyền của một số
doanh nghiệp Nhà nước, làm cho các doanh nghiệp phải cải thiện môi trường
làm việc, công nghệ… để nâng cao năng suất lao động, cải tiến sản phẩm …,
sự phát triển của kinh tế tư nhân thì các thị trường bắt đầu hình thành và phát
triển mạnh, như là thị trường hoá dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động,
thị trường bất động sả, thị trường hàng khoa học và công nghệ, thúc đẩy quá
trình hội nhập kinh tế của nước ta.
1.2.4. Hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân.
Tuy đã phát triển rất nhanh và phát triển ở mọi nơi và mọi ngành nghề
nhưng do xuất phát điểm thấp, từ các những khó khăn do lịch sử để lại, do
điều kiện hoàn cảnh chung của cả nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân cũng
còn có nhiều hạn chế.
1.2.4.1. Quy mô vốn.
Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và các hộ kinh doanh
cá thể có nhiều khó khăn về vốn hoạt động, các loại hình doanh nghiệp cá thể
có vốn rất nhỏ, 80,26% các loại hình doanh nghiệp có mức vốn nhỏ hơn 5 tỷ
đồng, trông khi đó đối với doanh nghiệp Nhà nước là 23,03%. Do vốn nhỏ bé
nên điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế tư nhân có thể mở rộng sản xuất kinh doanh và có thể thực hiện được kế
hoạch sản xuất của mình, có rất nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực này có
nhiều ý tưởng sản xuất tốt nhưng một phần do thiếu vốn do đó họ không thể
thực hiện được kế hoạch của mình, do hạn chế về vốn nên họ chỉ tham gia vào
các ngành không cần nhiều vốn như là các hoạt động thương mại ít đầu tư vào
sản xuất, vì kinh doanh các hoạt động thương mại cần ít vốn hơn rất nhiều so
với các ngành sản xuất, điều này cũng làm giảm sự phát triển của các ngành
sản xuất, cơ cấu vốn của các doanh nghiệp thuộc khu vực này là 25 – 30 %
trong tổng vốn là đàu tư vào tài sản cố định còn 70 – 75% là vốn lưu động. Để
đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của mình các chủ doanh nghiệp hay chủ
hộ phải đi thuê tài sản từ các tổ chức, cơ quan … do đo cơ sở vật chất của họ
trung bình thấp, và khu vực kinh tế tư nhân cũng không là ngoại lệ. Hầu hết
các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đang sử dụng các
trang thiết bị có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu so với thế giới,
chẳng hạn như ở tỉnh Đồng Nai tỷ lệ là 93%, thành phố Hồ Chí Minh là
37,7% đang sản xuất bằng thủ công , 43,2% đang sản xuất bằng bán cơ khi,
bán tự động. Trình độ khoa học lạc hậu một phần do mặt bằng chung một
phần do sự thiếu vốn của các doanh nghiệp thuộc khu vực này, họ không có
đủ vốn để mua những công nghệ tiến tiến, mà công nghệ không cao dẫn đến
năng suất lao động không cao dẫn đế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường là không lớn, kể cả thị trường trong và ngoài nước, mà cạnh
tranh là yếu tố cơ bản để đảm bảo tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp,
và là yếu tố sống còn của các doanh nghiệp, sản phẩm họ sản xuất ra có bán
được thì họ mới có doanh thu để mà trang trải phí và có lợi nhuận, hơn nữa
các doanh nghiệp đang tồn tại trong một môi trường cạnh tranh rất khốc liệt
như hiện nay.
1.2.4.4. Trình độ quản lý.
Trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp còn thấp. Đa số các chủ doanh
nghiệp, trưởng thành từ thực tiễn và học hỏi qua bạn hàng, ước tính khoảng
trên 80% trưởng thành từ kinh nghiệm thực tiễn chỉ có một số được đào tạo
qua trường lớp chính quy về quản trị doanh nghiệp hay quản lý về kinh tế
chung. Khoảng 85% các doanh nghiệp tư nhân được phát triển trên cơ sở hộ
cá thể, 285 chủ doanh nghiệp là cán bộ nhà nước đã nghỉ theo chế độ.Chính vì
quản lý và điều hành dựa vào kinh nghiệm được tích luỹ, chưa qua đào tạo và
không có bằng cấp chuyên môn nên khó khăn trong việc cạnh tranh, hơn nữa
trong điều kiện hội nhập như hiện nay.kiểu kinh doanh trên sẽ không còn phù
hợp do hiện nay nó là rào cản sự phát triển của doanh nghiệp, chẳng hạn là
làm ăn theo lối chộp giật, khó có khẳ năng tiếp thu những cái mới.