Lời mở đầu
Ngân hàng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá, ngay từ khi ra đời đã có
vai trò hết sức to lớn là thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngân hàng chính là nơi tích
tụ, tập trung và thu hút mọi tiềm năng phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, có
tác dụng khuyến khích, hỗ trợ sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp. Nhờ có
hoạt động của hệ thống ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh
nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng
suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên thực tế trong những năm gần
đây cho thấy ngân hàng cha hoàn thành tốt vai trò của mình đối với nền kinh tế,
đặc biệt là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Quy mô tín dụng ngoài quốc doanh
mới chiếm một phần rất nhỏ bé trong tổng d nợ, cha tơng xứng với tiềm năng của
khu vực này. Trong khi đây là khu vực năng động nhất, đóng góp vào GDP ngày
càng lớn, có số lợng cơ sở sản xuất kinh doanh ngày càng tăng, nhất kể từ khi
luật doanh nghiệp ra đời.
Sự tăng lên về số lợng cũng nh tỷ trọng đóng góp trong GDP là kết quả của
những đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nớc đối với khu vực kinh tế này, đợc bắt
đầu từ năm 1986, lần đầu tiên đợc nêu lên trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
VI. Không những thừa nhận sự tồn tại của kinh tế ngoài quốc doanh mà đã có
những biện pháp tích cực để hỗ trợ, khuyến khích tạo điều kiện để khu vực này
phát triển. Tuy nhiên ra đời càng nhiều, càng phát triển thì doanh nghiệp ngoài
quốc doanh lại càng đối mặt với tình trạng thiếu vốn trầm trọng, nhiều doanh
nghiệp đã phá sản vì thiếu vốn, số còn lại phần nhiều hoạt động cầm chừng quy
mô nhỏ bé...Trong khi tại các ngân hàng vốn huy động về bị ứ đọng không cho
vay ra đợc, để tránh lỗ lãi suất huy động các ngân hàng phải đầu t vào trái phiếu
Chính phủ hoặc điều chuyển về ngân hàng nhà nớc. Vấn đề đặt ra là cần có giải
pháp nào kéo doanh nghiệp ngoài quốc doanh - một đối tác rất cần vốn và ngân
hàng - một trung gian tài chính đang xảy ra tình trạng ứ đọng vốn, xích lại gần
nhau cùng đem lại lợi ích thiết thực cho nhau.
1
Trớc thực tế đó, trong quá trình thực tập tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển
Ninh Bình, em đã hớng sự quan tâm tìm hiểu của mình vào hoạt động tín dụng
tế tập thể. Các thành phần này thành lập theo phong trào ồ ạt, hoạt động theo cơ
chế kế hoạch hoá không vì mục đích lợi nhuận. Với môi trờng kinh tế không phù
hợp nh vậy, KT-NQD đã không phát huy đợc vai trò của mình. Nguyên nhân làm
cho KT-NQD thời kỳ này không phát triển đợc do quan niệm: Sở hữu Nhà nớc
với chủ trơng tập thể hoá nông nghiệp, cải tạo công thơng t nhân thành thành
phần quốc doanh, công ty hợp doanh, hợp tác xã...dần dần quốc hữu hoá toàn bộ
t liệu sản xuất trong mọi TPKT quốc dân. Kết quả là nền kinh tế kém phát triển,
mất cân đối nghiêm trọng, các nguồn lực trong nhân dân không đợc thu hút phục
vụ phát triển kinh tế đất nớc.
Từ Đại hội Đảng VI và VII, Đảng và Nhà nớc ta đã thay đổi cách nhìn và
khẳng định Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh là thành phần kinh tế quan
trọng, góp phần quyết định trong nền kinh tế quốc dân cần đợc đối xử công
bằng. Không những thế mà còn u tiên khuyến khích, tạo tiền đề cho TPKT này
phát triển. Đảng đã xuất phát từ thực tế của nớc ta và vận dụng quan điểm của
Lênin: Coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trng của thời kỳ
quá độ- Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI.
Kể từ đây nền kinh tế bao cấp đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc theo định hớng Xã Hội Chủ Nghĩa mà giai đoạn đầu của nó
là nền kinh tế nhiều thành phần. Đảng và Nhà nớc ta đã thừa nhận, đã thực sự
quan tâm và đánh giá đúng mức khu vực KT-NQD. Do đó KT-NQD là một trong
3
những lĩnh vực đầu tiên khởi sắc trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị tr-
ờng. Nó phát triển nhanh chóng cả về quy mô lẫn chất lợng và có sức vơn lên
mạnh mẽ làm sống động không khí đang đổi mới, nhất là vùng đô thị và trung
tâm thơng mại lớn.
Chính phủ đã tạo điều kiện hoạt động cho khu vực kinh tế này, thể hiện rõ
nét ở Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị. Các TPKT-NQD sẽ không bị phân biệt đối
xử về mặt cung cấp nguyên vật liệu và phụ tùng thay thế...nó đợc đối xử bình
đẳng với các đơn vị KT-QD. Đại hội Đảng lần thứ VII khẳng định: Mọi công
dân có quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, quyền sỡ hữu và thu nhập hợp
năm qua là sự phát triển của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài.
3. Thành phần kinh tế hợp tác (tpktht): Kinh tế hợp tác là một xu hớng
tất yếu, một hình thức tổ chức kinh tế có vị trí vai trò rất quan trọng trong công
cuộc phát triển kinh tế xã hội và trong cơ cấu các TPKT trong thời kỳ qúa độ đi
lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở nớc ta.
Về bản chất, ktht là sự liên kết kinh tế tự nguyện đa dạng, đa mức độ
của những ngời lao động, những ngời sản xuất để hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giải
quyết có hiệu quả những vấn đề của sản xuất kinh tế và bảo vệ lợi ích kinh tế của
mỗi thành viên.
Ktht gồm các loại hình chủ yếu sau:
- ktht giản đơn dựa trên cơ sở liên kết kinh tế giản đơn giữa những ngời
lao động, những ngời sản xuất nhỏ dới hình thức tổ hợp tác, tổ liên kết sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm.
5
- ktht dựa trên cơ sở liên kết kinh tế giữa các chủ thể, các pháp nhân
kinh tế nhng không làm phát sinh pháp nhân mới, đó là các hợp đồng, hợp tác
kinh doanh, các hội nghề nghiệp, các hiệp hội.
- ktht dựa trên cơ sở liên kết kinh tế chặt chẽ giữa những ngời lao động,
những ngời sản xuất nhỏ dới hình thức hợp tác xã, đợc gọi là kinh tế hợp tác xã
và chỉ có hình thức này mới có thể coi là một TPKT.
4. Thành phần kinh tế t bản t nhân (tpkt-tbtn): Đây là TPKT dựa trên
hình thức sở hữu t nhân T Bản Chủ Nghĩa về t liệu sản xuất. Thành phần này đợc
thành lập do sự góp vốn của các nhà kinh doanh trong và ngoài nớc, với quy mô
và trình độ tơng đối lớn. Hình thành nên các Doanh nghiệp t nhân, Công ty Cổ
phần, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn, Công ty hợp danh.
5. Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ: Là TPKT dựa trên hình thức sở hũu
cá thể về t liệu sản xuất và lao động của bản thân họ, tồn tại ở phạm vi tơng đối
lớn, bao hàm nhiều trình độ phát triển sản xuất khác nhau đợc phát triển trong
các ngành nghề cả ở thành thị và nông thôn không hạn chế kinh doanh.
Về thực chất, các tpkt là chủ thể của quá trình kinh tế mà t cách pháp lý
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân, bao gồm nhiều
TPKT tồn tại với quy mô đa dạng tạo nên lực lợng sản xuất to lớn, đóng góp quan
trọng trong việc sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Nhờ đó hàng hoá sản
xuất ngày càng nhiều, chủng loại đa dạng, chất lợng không ngừng đợc nâng cao
để thoả mãn nhu cầu xã hội, tạo ra khả năng lựa chọn nhiều hơn cho ngời tiêu
dùng. Khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang kinh tế thị trờng, KT-NQD là khu vực
sản xuất kinh doanh năng động, nhạy bén có khả năng thích nghi và đáp ứng kịp
thời mọi biến động của thị trờng, nó cho phép huy động tối đa nguồn vốn trong
dân c để phát triển đất nớc. Với tính tự chủ và khả năng thích nghi cao KT-NQD
7
đóng một vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế, thể hiện thông qua các mặt
sau.
Thứ nhất: Thu hút và sử dụng hiệu quả các tiềm năng trong dân c để
phát triển kinh tế đất nớc, giải quyết nạn thất nghiệp, tạo sự phát triển cân đối
kinh tế.
Đổi mới kinh tế và dân chủ hoá đời sống kinh tế theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VI đã tạo cơ hội cho các TPKT-NQD phát triển tiềm lực
của mình hoà với tổng thể nền kinh tế. Các doanh nghiệp NQD thờng đợc thành
lập với lợng vốn đầu t ban đầu không lớn và chủ yếu là của dân. Bản thân khu vực
KT-NQD bao gồm nhiều loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau phù hợp với
nhu cầu đa dạng của nhà đầu t. Đặc tính này cho phép KT-NQD tham gia vào
hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, từ nông nghiệp đến công nghiệp và dịch vụ.
Sự tồn tại trên một phạm vi lớn trong nền kinh tế cho phép KT-NQD thu hút và
sử dụng hiệu quả nguồn lực trong dân c vào công cuộc phát triển kinh tế đất nớc.
Đặc biệt trong tiến trình cải cách và sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nớc
bằng các biện pháp giao bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi hình thức sở hữu...Làm
phát sinh một số vấn đề nh thất nghiệp, sự bỏ ngỏ của một số ngành, khu vực
kinh tế không có tầm quan trọng sống còn hoăc do nhà nớc không đủ sức nắm
giữ. Điều này lại tạo cơ hội cho KT-NQD mở rộng phạm vi hoạt động, tham gia
ngày càng nhiều hơn vào các lĩnh vực kinh tế quan trọng, càng khẳng định vị trí
một vai trò rất quan trọng, nó chứa đựng trong mình những đặc điểm cho phép
thực hiện tốt đợc vai trò đó. Có thể kể ra nh quy mô gọn nhẹ, nhậy bén, nhanh
chóng chuyển đổi đối tợng sản xuất để hớng tới những mặt hàng mà thị trờng
đang có nhu cầu, những lĩnh vực đang đợc nhà nớc u tiên u đãi, bảo hộ, có khả
năng đem lại lợi nhuận cao. Sự phát triển KT-NQD đã khơi gợi tiềm năng to lớn
trong dân để phát triển sản xuất, thu hút vốn trong dân, tiếp thu chuyển giao công
9
nghệ của nớc ngoài để tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong n-
ớc và xuất khẩu. Đặc biệt là sự sống lại của các ngành nghề thủ công, mỹ nghệ
truyền thống ở nông thôn đã làm ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu, góp phần
đổi mới kinh tế nông thôn, tăng thu ngoại tệ cho đất nớc.
Bảng về giá trị sản xuất
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001
Quy mô (%) Quy mô (%) Quy mô (%)
Tổng Số 335.441 100 375.800 100 434.365 100
KTNN 154.927 46,19 170.141 44,9 186.958 43,04
KT-NQD 180.514 53,81 205.659 55,1 247.407 56,96
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2002)
Bảng trên cho thấy, giá trị sản xuất khu vực NQD liên tục gia tăng qua các
năm cả về quy mô và tỷ trọng. Sự gia tăng này không phải do KTNN ngày càng
giảm đi mà do giá trị sản xuất trong khu vực NQD tăng với tốc độ lớn hơn tốc độ
tăng trong KTNN. Kinh tế NQD đã đóng góp hơn 50% tổng giá trị sản xuất, ngày
càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế. Tỷ trọng này cần
phải tiếp tục nâng cao. So với Trung Quốc, một nớc có hoàn cảnh lịch sử và kinh
tế tơng đồng với nớc ta, thì tỷ lệ giữa hai khu vực KTNN và KT-NQD này là 3:7
mà không sợ chệch hớng Xã Hội Chủ Nghĩa. Vì vậy trong thời gian tới chúng ta
cần phải tiếp tục đẩy mạnh phát triển khu vực này bằng các chính sách cụ thể
chiếm một tỷ trọng khá cao, tới hai con số (chiếm 23,3%) trong khi ở các nớc
phát triển tỷ trọng này dới 10%, nó phản ánh một cơ cấu kinh tế cha hợp lý, một
nớc còn nặng nông ngiệp. Vì vậy phơng hớng phát triển trong tơng lai là tăng tỷ
trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, làm cho chúng chiếm chủ yếu trong nền
11
kinh tế, đặc biệt là các ngành sản xuất, chế tạo máy, xây dựng...làm tiền đề cho
một nền sản xuất lớn ra đời. Tuy nhiên không thể một sớm một chiều đã có thể
tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý ngay đợc mà phải có thời gian. Giai đoạn đầu
nên tập trung vào những ngành gia công, chế biến công nghiệp những sản phẩm
nông nghiệp nhằm làm tăng chất lợng sản phẩm, hàm lợng giá trị, tăng tính thơng
mại của sản phẩm.
Đồng thời quá trình phát triển các doanh nghiệp NQD cũng là quá trình cải
tiến máy móc thiết bị kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất và chất lợng sản phẩm
để đáp ứng nhu cầu thị trờng, đến mức độ nhất định sẽ dẫn đến đổi mới công
nghệ, làm cho quá trình CNH-HĐH không chỉ diễn ra trên chiều rộng mà cả
chiều sâu.
Thứ năm: Kinh tế ngoài quốc doanh góp phần tạo môi trờng cạnh
tranh thúc đẩy kinh tế phát triển.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các TPKT không tồn tại biệt
lập, phát triển trong những khu vực riêng mà chúng đan xen tồn tại và thống nhất.
KT-NQD hoạt động trên nhiều lĩnh vực, tồn tại trên một phạm vi rộng lớn cả về
mặt địa lý cũng nh ngành nghề kinh tế. Tất cả những điều này làm cho KT-NQD
và KT-QD sản xuất kinh doanh những sản phẩm có những đặc tính tơng tự nhau.
Kết quả chúng phải cạnh tranh với nhau trong quá trình sản xuất cũng nh tiêu thụ
sản phẩm.
Cạnh tranh là điểm khởi đầu của sự phát triển, nó phá bỏ thế độc quyền
đang tác động nh những nhân tố làm trì trệ và cản trở nền kinh tế phát triển. Đối
với KT-QD, KT-NQD tạo ra sức ép, buộc phải tham gia cạnh tranh, đồng thời có
tác dụng hỗ trợ phát triển. Môi trờng cạnh tranh sẽ buộc KT-QD quan tâm nhiều
hơn đến việc xây dựng chiến lợc, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao
13
Nhận thức rõ vai trò, vị trí quan trọng của khu vực KT-NQD trong sự
nghiệp CNH-HĐH đất nớc, hội nghị ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản
Việt nam lần thứ năm khoá IX đã ra Nghị quyết về phát triển kinh tế t nhân. Nghị
quyết đã khẳng định: Phát triển kinh tế t nhân là vấn đề chiến lợc lâu dài trong
phát triển kinh tế nhiều thành phần định hớng xã hội chủ nghĩa.... Nhờ có những
chủ trơng đúng đắn mà tính đến thời điểm cuối năm 2002, sau 3 năm thực hiện
luật doanh nghiệp, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng lên đến 93.000
doanh nghiệp t nhân. Riêng 3 năm (từ 2000-2002) đã có 55.000 doanh nghiệp
đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký lên tới 8.000 tỷ đồng. Kinh tế t nhân
đã huy động 300.000 tỷ đồng đầu t vào sản xuất kinh doanh, thu hút và tạo thu
nhập, ổn định cho 5 triệu lao động có việc làm thờng xuyên. Mặc dù vậy tổng số
vốn trong dân còn rất lớn. Theo ớc tính của các chuyên gia tài chính thì nguồn
vốn trong dân ớc khoảng 10,8 tỷ USD, đây là cha tính đến nguồn kiều hối của
khoảng 2,5 triệu ngời Việt kiều. Tiềm năng là nh vậy song trên thực tế tổng số
vốn đầu t cha tơng xứng với tiềm lực của khu vực này. Chính vì vậy đề ra hớng
phát triển KT-NQD theo quan điểm Phát triển và quản lý các loại hình doanh
nghiệp thuộc kinh tế hợp tác, kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế t bản t nhân, và kinh
tế cá thể là thực sự cần thiết với những nội dung cụ thể sau:
Tạo môi trờng thúc đẩy cạnh tranh bằng cách hoàn thiện môi trờng kinh
doanh theo pháp luật, tạo điều kiện cạnh tranh một cách bình đẳng, sửa đổi bổ
sung văn bản pháp quy về các loại hình doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể
khuyến khích phát triển kinh tế t nhân.
Phát triển hợp tác xã liên kết giữa các thành phần kinh tế dựa trên nguyên
tắc tự nguyện bình đẳng.
Thực hiện chính sách tài chính tín dụng đối với kinh tế t nhân bình đẳng
nh đối với những doanh nghiệp thuộc các TPKT khác; bảo đảm kinh tế t nhân đ-
ợc tiếp cận và đợc hởng các u đãi của nhà nớc cho kinh tế hộ, doanh nghiệp vừa
và nhỏ, cho đầu t theo mục tiêu đợc nhà nớc khuyến khích. Nhà nớc hỗ trợ xây
14
chất nhỏ bé nghèo nàn.
Đây là đặc điểm chính, nổi bật nhất của KT-NQD. Nó không chỉ là vấn đề
của riêng KT-NQD mà còn là vấn đề chung của toàn bộ nền kinh tế nớc ta. Là
vấn đề cấp thiết nhất trong các vấn đề KT-NQD phải đối mặt, đang đòi hỏi phải
giải quyết nhanh chóng. Để có những biện pháp hữu hiệu cần phải có những
nghiên cứu sâu sẵc về nguồn vốn kinh doanh của khu vực này. Nh chúng ta đã
biết, nguồn vốn gồm nợ và vốn chủ sở hữu. Nợ khi phân theo thời hạn gồm nợ
ngắn hạn và dài hạn. Vốn chủ sở hữu gồm vốn tự có, vốn góp, các loại cổ phiếu,
trái phiếu, lợi nhuận giữ lại. Tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu gọi là cơ cấu
vốn. Nghiên cứu thực tế hoạt động doanh nghiệp NQD cho thấy cơ cấu vốn của
khu vực này thấp, chủ yếu hoạt động bằng nguồn vốn chủ sở hữu, vốn huy động
rất nhỏ bé. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp NQD đã chủ động tìm kiếm
các nguồn vốn có thể huy động nh từ bạn bè, ngời thân, từ phía ngân hàng và các
tổ chức tài chính khác.
Trong các nguồn vốn đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất
nó có thể thoả mãn mọi nhu cầu vốn của doanh nghiệp về quy mô, thời hạn, ph-
ơng thức vay trả, có lãi suất hợp lý...Hơn nữa khi quan hệ với ngân hàng, các
doanh nghiệp có thể đợc hởng u đãi, miễn phí một số dịch vụ nh t vấn, hớng
dẫn...Mặc dù đóng vai trò quan trọng nhng nhìn chung việc vay đợc vốn ngân
hàng không phải là dễ dàng, điều này xuất phát từ cả hai phía. Về phía doanh
nghiệp có những lý do nh tài sản thế chấp không có hoặc có giá trị thấp không đủ
đảm bảo vốn vay, vốn tự có tham gia vào dự án không có hoặc không đảm tỷ lệ
yêu cầu của ngân hàng, kinh nghiệm quản lý yếu kém, uy tín cha cao. Những
nhân tố này tác động tiêu cực đến quyết định cho vay của ngân hàng vì nó có thể
dẫn đến một nguy cơ mất vốn cao. Mặt khác, về phía ngân hàng tâm lý dè dặt,
đối xử phân biệt là còn tồn tại do những khoản vỡ nợ trong khu vực này là rất
16
cao. Vì vậy cần tìm ra những giải pháp tháo gỡ khó khăn nói trên, để tín dụng
ngân hàng trở thành một kênh huy động vốn thuận lợi cho các doanh nghiệp.
2. Trình độ kỹ thuật công nghệ lạc hậu.
phải kiêm nhiều chức, năng nhiệm vụ, quản lý nhiều mặt thì sự thất bại đổ bể
luôn có thể xảy ra. Vì vậy, một nhà quản lý vừa phải có trình độ vừa có kinh
nghiệm thực tiễn. Vấn đề này tỏ ra khó đáp ứng đối với khu vực KT-NQD. Một
mặt, do thời gian chuyển sang kinh tế thị trờng cha đợc bao lâu các ông chủ
của các TPKT-NQD cha có kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh trong kinh tế
thị trờng, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ quản trị kinh
doanh cha đợc chuẩn bị, đào tạo và bồi dỡng có hệ thống cho nên các loại hình
sản xuất kinh doanh NQD đều phát triển theo hớng tự nhiên chỉ thấy lợi là làm.
Đội ngũ những nhà quản trị thì nh vậy, nhng tình hình đội ngũ ngời lao
động cũng không lấy gì làm sáng sủa khả quan. Ngời lao đông trong khu vực này
nói riêng và trong nền kinh tế nói chung đều có kỹ năng thấp, rất ít đợc qua đào
tạo, chủ yếu lao động phổ thông, đây cũng là đặc điểm chung của lao động nớc
ta.
Kinh tế ngoài quốc doanh đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong
nền kinh tế, tỷ trọng đóng góp GDP ngày càng tăng. Tuy nhiên để thực hiên đợc
vai trò của mình trong nền kinh tế cũng nh đờng lối chiến lợc phát triển kinh tế
trong tơng lai: Vào năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp thì
KT-NQD cần phải có những bớc chuyển mạnh mẽ hơn nữa. Trong đó nâng cao
trình độ quản lý, năng lực tay nghề của ngời lao động là quyết định, bởi vì trong
bất kỳ hoạt động thực tiễn nào con ngời luôn là nhân tố trung tâm, nhân tố quyết
định mọi nhân tố khác. Vai trò của nhà nớc trong quá trình đó là hết sức lớn lao.
Bằng cách thành lập các hội hớng nghiệp, hội doanh nghiệp, hội các nhà sản xuất
18
nhỏ, tổ chức các khoá đào tạo ngắn hạn, chơng trình phổ biến kinh nghiệm sẽ tạo
điều kiện để ngời lao động năng cao tay nghề, nhà quản lý học hỏi kinh nghiệm.
4. Môi trờng sản xuất kinh doanh và thị trờng không ổn định.
Từ khi đợc thừa nhận tồn tại vào năm 1986 đến nay, Đảng và Chính phủ đã
ban hành hàng loạt văn bản pháp luật, các chính sách và chủ trơng có liên quan
nhằm tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện hỗ trợ KT-NQD phát triển. Nh các chính
sách phát triển công nghiệp, nội ngoại thơng, chính sách tài chính...Tuy đã có
nhiều tổ chức kinh tế phát sinh nhu cầu vốn cho sản xuất và có các đơn vị kinh tế
khác nhàn rỗi về vốn. Mâu thuẫn này tồn tại đan xen trong quá trình tuần hoàn
vốn, hình thành nên cung cầu về vốn. Để giải quyết vấn đề này cần tập trung các
nguồn tiền nhàn rỗi lại rồi phân bổ chúng trên cơ sở có hoàn trả gốc và lãi. Quan
hệ đó đợc gọi là quan hệ tín dụng, ngời đứng ra làm trung gian điều hoà vốn là
các ngân hàng.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế: Tín dụng là sự chuyển nhợng tạm
thời một lợng giá trị từ ngời sở hữu sang ngời sử dụng và sau một thời hạn nhất
định đợc quay trở lại với ngời chủ sở hữu bằng một lợng giá trị lớn hơn với giá trị
ban đầu.
Tín dụng ngân hàng là hình thức cấp tín dụng trong đó tổ chức tín dụng
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích trong một thời gian
nhất định theo thoả thuận giữa hai bên với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Đây là quan hệ gián tiếp mà ngời tiết kiệm thông qua vai trò trung gian
của ngân hàng, thực hiện đầu t vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn. Khác với
hình thức tín dụng trực tiếp, nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là nguồn vốn huy
động của xã hội với khối lợng và thời hạn khác nhau do đó nó có thể thoả mãn
các nhu cầu vốn đa dạng về khối lợng cũng nh thời hạn và mục đích sử dụng.
20
1.2.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng
Dựa vào các tiêu thức phân loai khác nhau ta có thể chia ra các hình thức
tín dụng khác nhau:
Căn cứ vào thời hạn của khoản vay
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn vay từ một năm trở
xuống nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lu động của doanh nghiệp.
- Tín dụng trung và dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn vay trên một
năm. Gồm cho vay trung hạn từ 1 - 5 năm, cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên nhng
không đợc vợt quá thời hạn hoạt động của đơn vị theo quết định thành lập và
không quá 15 năm đối với những dự án phục vụ đời sống. Cho vay trung và dài
hạn nhằm đầu t cho phát triển nh các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm
NQD do những đặc điểm đặc thù của thành phần này đem lại nh: Tồn tại và hoạt
động trong một phạm vi rộng lớn cả về mặt không gian lẫn ngành kinh tế, trình
dộ quản lý yếu kém, am hiểu về luật pháp và cơ chế kinh tế thị trờng thấp...Đến l-
ợt nó những khó khăn này làm cho KT-NQD khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn
tín dụng ngân hàng.
Trong thực tế nhiều khách hàng NQD vay vốn không xây dựng đợc phơng
án sản xuất kinh doanh mà phải nhờ sự giúp đỡ của cán bộ tín dụng, có khi phơng
án sản xuất kinh doanh không đúng với tình hình sản xuất của khách hàng. Đặc
biệt nổi cộm lên vấn đề tổ chức hạch toán kinh tế và tổ chức quản lý tài chính
theo đúng pháp luật kế toán và thống kê. Sổ sách ghi chép không khoa học, nhập
nhằng, rối ren; báo cáo tài chính là hình thức, số liệu không phản ánh đúng sự
thật. Tất cả những điều này gây ra khó khăn cho ngân hàng trong công tác thẩm
định và quyết định cho vay, tạo tâm lý e dè đối với các doanh nghiệp thuộc thành
phần này.
Để có thể đợc vay vốn, khách hàng phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
bảo lãnh của bên thứ 3 nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ một cách đầy đủ của ngời
22
vay vốn đối với ngân hàng, thực hiện an toàn cho đồng vốn tài trợ. Tình trạng ng-
ời vay không có tài sản thế chấp hoặc có nhng giá trị thấp không đảm bảo đợc
cho món vay, tỷ lệ vốn tự có tham gia vào dự án thấp hơn tỷ lệ yêu cầu của ngân
hàng là thờng xuyên phổ biến. Thực tế cho thấy nhiều khách hàng vay vốn ngân
hàng thờng xuyên chỉ dùng một tài sản thế chấp. Những lần vay sau, theo quy
đinh của Nhà nớc phải làm công chứng gây phiền hà cho ngời vay, giải quyết
mâu thuẫn này nhiều ngân hàng đã cho vay theo kế hoạch dẫn đến món vay ngắn
hạn nào cũng cho vay theo kế hoạch không phù hợp với tình hình sản xuất kinh
doanh và luân chuyển vốn thực tế của ngời vay.
Trong quá trình thực hiện khoản vay việc giám sát hoạt động sử dụng vốn
vay của khách hàng NQD để đảm bảo khách hàng sử dụng đúng mục đích và
hiệu quả còn nhiều khó khăn vì ngân hàng cha có công cụ để kiểm tra quan hệ
mua bán chịu hàng hóa giữa các doanh nghiệp với nhau. Khi khoản vay có vấn đề
hỗ trợ của ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng.
Trong lĩnh vực lu thông để đảm bảo đa hàng hoá từ nơi sản xuất đến ngời
tiêu dùng, các doanh nghiệp NQD cần có vốn để dự trữ khối lợng hàng hoá cần
thiết và trang trải các chi phí lu thông, thuế... Mà những doanh nghiệp này có số
vốn hoạt động nhỏ vì vậy để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp này cần có
sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng.
Thứ hai: Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thực hiện quá trình
tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện ứng dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến
hiện đại, nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả kinh tế, tạo nhiều sản
phẩm hàng hoá tiêu dùng.
Sản xuất và không ngừng mở rộng sản xuất là mục tiêu của mọi doanh
nghiệp. Tuy nhiên để thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng, để nâng cao năng
24
xuất lao động, chất lợng sản phẩm, tạo lợi thế trong cạnh tranh các doanh nghiệp
buộc phải thờng xuyên cải tiến máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ, đặc biệt
trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển nh ngày nay đòi hỏi phải có một nguồn
vốn lớn. Trong khi tích luỹ nội bộ doanh nghiệp cha đủ thì tín dụng ngân hàng trở
thành một nguồn quan trọng cho phép thực hiện điều này. Thông qua tín dụng
ngân hàng các doanh nghiệp sẽ đợc thoả mãn nhu cầu vốn, kết quả hỗ trợ các
doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất tạo ra nhiều hàng hoá cho thị trờng đạt
đợc hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
Thứ ba: Tạo điều kiện cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiết kiệm
chi phí, tăng thu nhập, tăng cờng công tác hạch toán kế toán.
Các doanh nghiệp là ngời chiu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh
của chính mình nên khi vay vốn họ phải tính toán làm sao đồng vốn vay đợc sử
dụng hiệu quả nhất, tạo ra nhiều lợi nhuận nhất đồng thời đảm bảo hoàn trả cả
gốc và lãi cho ngân hàng. Chính đặc điểm hoàn trả mà tín dụng ngân hàng buộc
ngời kinh doanh phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tính toán chăt chẽ và cụ thể
chi phí, tìm mọi cách tăng tốc độ quay vòng của vốn.
Mặt khác, muốn vay đợc vốn ngân hàng bản thân các doanh nghiệp phải