Mốt số giải pháp hoạt động tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh - Pdf 91

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Ngân hàng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá, ngay từ khi ra đời đã có
vai trò hết sức to lớn là thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngân hàng chính là nơi tích
tụ, tập trung và thu hút mọi tiềm năng phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, có
tác dụng khuyến khích, hỗ trợ sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp. Nhờ có
hoạt động của hệ thống ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh
nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng
suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên thực tế trong những năm gần
đây cho thấy ngân hàng cha hoàn thành tốt vai trò của mình đối với nền kinh tế,
đặc biệt là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Quy mô tín dụng ngoài quốc doanh
mới chiếm một phần rất nhỏ bé trong tổng d nợ, cha tơng xứng với tiềm năng của
khu vực này. Trong khi đây là khu vực năng động nhất, đóng góp vào GDP ngày
càng lớn, có số lợng cơ sở sản xuất kinh doanh ngày càng tăng, nhất kể từ khi
luật doanh nghiệp ra đời.
Sự tăng lên về số lợng cũng nh tỷ trọng đóng góp trong GDP là kết quả của
những đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nớc đối với khu vực kinh tế này, đợc bắt
đầu từ năm 1986, lần đầu tiên đợc nêu lên trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
VI. Không những thừa nhận sự tồn tại của kinh tế ngoài quốc doanh mà đã có
những biện pháp tích cực để hỗ trợ, khuyến khích tạo điều kiện để khu vực này
phát triển. Tuy nhiên ra đời càng nhiều, càng phát triển thì doanh nghiệp ngoài
quốc doanh lại càng đối mặt với tình trạng thiếu vốn trầm trọng, nhiều doanh
nghiệp đã phá sản vì thiếu vốn, số còn lại phần nhiều hoạt động cầm chừng quy
mô nhỏ bé...Trong khi tại các ngân hàng vốn huy động về bị ứ đọng không cho
vay ra đợc, để tránh lỗ lãi suất huy động các ngân hàng phải đầu t vào trái phiếu
Chính phủ hoặc điều chuyển về ngân hàng nhà nớc. Vấn đề đặt ra là cần có giải
pháp nào kéo doanh nghiệp ngoài quốc doanh - một đối tác rất cần vốn và ngân
hàng - một trung gian tài chính đang xảy ra tình trạng ứ đọng vốn, xích lại gần
nhau cùng đem lại lợi ích thiết thực cho nhau.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

1.1.1. Kinh tế ngoài quốc doanh
Ngay sau khi đất nớc hoàn toàn độc lập thì KT-NQD đã tồn tại. Song còn
nhỏ bé và ẩn dới hình thức tổ hợp, hợp tác xã không chuyên và thành phần kinh
tế tập thể. Các thành phần này thành lập theo phong trào ồ ạt, hoạt động theo cơ
chế kế hoạch hoá không vì mục đích lợi nhuận. Với môi trờng kinh tế không phù
hợp nh vậy, KT-NQD đã không phát huy đợc vai trò của mình. Nguyên nhân làm
cho KT-NQD thời kỳ này không phát triển đợc do quan niệm: Sở hữu Nhà nớc
với chủ trơng tập thể hoá nông nghiệp, cải tạo công thơng t nhân thành thành
phần quốc doanh, công ty hợp doanh, hợp tác xã...dần dần quốc hữu hoá toàn bộ
t liệu sản xuất trong mọi TPKT quốc dân. Kết quả là nền kinh tế kém phát triển,
mất cân đối nghiêm trọng, các nguồn lực trong nhân dân không đợc thu hút phục
vụ phát triển kinh tế đất nớc.
Từ Đại hội Đảng VI và VII, Đảng và Nhà nớc ta đã thay đổi cách nhìn và
khẳng định Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh là thành phần kinh tế quan
trọng, góp phần quyết định trong nền kinh tế quốc dân cần đợc đối xử công
bằng. Không những thế mà còn u tiên khuyến khích, tạo tiền đề cho TPKT này
phát triển. Đảng đã xuất phát từ thực tế của nớc ta và vận dụng quan điểm của
Lênin: Coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trng của thời kỳ
quá độ- Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI.
Kể từ đây nền kinh tế bao cấp đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc theo định hớng Xã Hội Chủ Nghĩa mà giai đoạn đầu của nó
là nền kinh tế nhiều thành phần. Đảng và Nhà nớc ta đã thừa nhận, đã thực sự
quan tâm và đánh giá đúng mức khu vực KT-NQD. Do đó KT-NQD là một trong
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
những lĩnh vực đầu tiên khởi sắc trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị tr-
ờng. Nó phát triển nhanh chóng cả về quy mô lẫn chất lợng và có sức vơn lên
mạnh mẽ làm sống động không khí đang đổi mới, nhất là vùng đô thị và trung
tâm thơng mại lớn.
Chính phủ đã tạo điều kiện hoạt động cho khu vực kinh tế này, thể hiện rõ

nhiều phơng thức góp vốn hợp tác liên doanh nhằm phát huy thế mạnh của các
bên tham gia, đặt dới sự giúp đỡ của nhà nớc.
Về mặt tổ chức, kttbnn ở nớc ta đợc cấu thành từ hai bộ phận ktnn
phối hợp với kinh tế t bản t nhân trong và ngoài nớc. Song bộ phận thứ nhất rất
nhỏ bé. Vì vậy, có thể coi sự phát triển kttb nớc ngoài ở nớc ta trong những
năm qua là sự phát triển của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài.
3. Thành phần kinh tế hợp tác (tpktht): Kinh tế hợp tác là một xu hớng
tất yếu, một hình thức tổ chức kinh tế có vị trí vai trò rất quan trọng trong công
cuộc phát triển kinh tế xã hội và trong cơ cấu các TPKT trong thời kỳ qúa độ đi
lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở nớc ta.
Về bản chất, ktht là sự liên kết kinh tế tự nguyện đa dạng, đa mức độ
của những ngời lao động, những ngời sản xuất để hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giải
quyết có hiệu quả những vấn đề của sản xuất kinh tế và bảo vệ lợi ích kinh tế của
mỗi thành viên.
Ktht gồm các loại hình chủ yếu sau:
- ktht giản đơn dựa trên cơ sở liên kết kinh tế giản đơn giữa những ngời
lao động, những ngời sản xuất nhỏ dới hình thức tổ hợp tác, tổ liên kết sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- ktht dựa trên cơ sở liên kết kinh tế giữa các chủ thể, các pháp nhân
kinh tế nhng không làm phát sinh pháp nhân mới, đó là các hợp đồng, hợp tác
kinh doanh, các hội nghề nghiệp, các hiệp hội.
- ktht dựa trên cơ sở liên kết kinh tế chặt chẽ giữa những ngời lao động,
những ngời sản xuất nhỏ dới hình thức hợp tác xã, đợc gọi là kinh tế hợp tác xã
và chỉ có hình thức này mới có thể coi là một TPKT.
4. Thành phần kinh tế t bản t nhân (tpkt-tbtn): Đây là TPKT dựa trên
hình thức sở hữu t nhân T Bản Chủ Nghĩa về t liệu sản xuất. Thành phần này đợc
thành lập do sự góp vốn của các nhà kinh doanh trong và ngoài nớc, với quy mô
và trình độ tơng đối lớn. Hình thành nên các Doanh nghiệp t nhân, Công ty Cổ

Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp, chính sách cho phép phát huy tốt hơn nữa
những mặt mạnh, hạn chế khắc phục những hạn chế để KT-NQD thực sự trở
thành một khu vực phát triển lớn mạnh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.1.2. Vai trò và định hớng phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
1.1.2.1. Vai trò kinh tế ngoài quốc doanh
Kinh tế ngoài quốc doanh là một lĩnh vực kinh tế rộng lớn và quan trọng
trong cơ thể thống nhất của nền kinh tế nớc ta. Hiện nay, khu vực này đã có mặt
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân, bao gồm nhiều
TPKT tồn tại với quy mô đa dạng tạo nên lực lợng sản xuất to lớn, đóng góp quan
trọng trong việc sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Nhờ đó hàng hoá sản
xuất ngày càng nhiều, chủng loại đa dạng, chất lợng không ngừng đợc nâng cao
để thoả mãn nhu cầu xã hội, tạo ra khả năng lựa chọn nhiều hơn cho ngời tiêu
dùng. Khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang kinh tế thị trờng, KT-NQD là khu vực
sản xuất kinh doanh năng động, nhạy bén có khả năng thích nghi và đáp ứng kịp
thời mọi biến động của thị trờng, nó cho phép huy động tối đa nguồn vốn trong
dân c để phát triển đất nớc. Với tính tự chủ và khả năng thích nghi cao KT-NQD
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đóng một vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế, thể hiện thông qua các mặt
sau.
Thứ nhất: Thu hút và sử dụng hiệu quả các tiềm năng trong dân c để
phát triển kinh tế đất nớc, giải quyết nạn thất nghiệp, tạo sự phát triển cân đối
kinh tế.
Đổi mới kinh tế và dân chủ hoá đời sống kinh tế theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VI đã tạo cơ hội cho các TPKT-NQD phát triển tiềm lực
của mình hoà với tổng thể nền kinh tế. Các doanh nghiệp NQD thờng đợc thành
lập với lợng vốn đầu t ban đầu không lớn và chủ yếu là của dân. Bản thân khu vực
KT-NQD bao gồm nhiều loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau phù hợp với
nhu cầu đa dạng của nhà đầu t. Đặc tính này cho phép KT-NQD tham gia vào
hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, từ nông nghiệp đến công nghiệp và dịch vụ.

Phơng hớng sản xuất kinh doanh tại mỗi thời điểm, giai đoạn của nền kinh
tế có những sự khác nhau. Trong thời kỳ 1986-1989 nớc ta vẫn còn thiếu đói,
hàng tiêu dùng khan hiếm trầm trọng. Mục tiêu của nền sản xuất lúc này là sản
xuất đủ ăn, đủ tiêu dùng, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và tối thiểu của ngời
dân. Vợt qua thời kỳ đó, nền kinh tế lại đặt ra những mục tiêu mới, phù hợp với
tình hình thực tiễn nh: Tăng năng lực sản xuất của xã hội, thay thế từng phần
hàng hoá nhập khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc, tiến tới thay thế nhập
khẩu bằng chính sách xuât khẩu.
Để thực hiện đợc sách lợc này, trong quá khứ và hiện tại, KT-NQD đóng
một vai trò rất quan trọng, nó chứa đựng trong mình những đặc điểm cho phép
thực hiện tốt đợc vai trò đó. Có thể kể ra nh quy mô gọn nhẹ, nhậy bén, nhanh
chóng chuyển đổi đối tợng sản xuất để hớng tới những mặt hàng mà thị trờng
đang có nhu cầu, những lĩnh vực đang đợc nhà nớc u tiên u đãi, bảo hộ, có khả
năng đem lại lợi nhuận cao. Sự phát triển KT-NQD đã khơi gợi tiềm năng to lớn
trong dân để phát triển sản xuất, thu hút vốn trong dân, tiếp thu chuyển giao công
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghệ của nớc ngoài để tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong n-
ớc và xuất khẩu. Đặc biệt là sự sống lại của các ngành nghề thủ công, mỹ nghệ
truyền thống ở nông thôn đã làm ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu, góp phần
đổi mới kinh tế nông thôn, tăng thu ngoại tệ cho đất nớc.
Bảng về giá trị sản xuất
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001
Quy mô (%) Quy mô (%) Quy mô (%)
Tổng Số 335.441 100 375.800 100 434.365 100
KTNN 154.927 46,19 170.141 44,9 186.958 43,04
KT-NQD 180.514 53,81 205.659 55,1 247.407 56,96

Thứ bốn: Đóng vai trò quan trọng trong quá trình cnh-hđh và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta.
Trong nền kinh tế trờng lợi ích và lợi nhuận là nhân tố quyết định những
vấn đề từ tổng thể đến cục bộ của một doanh nghiệp. Lớn thì ảnh hởng đến ngành
nghề kinh doanh, phơng hớng sản xuất, nhỏ thì ảnh hởng đến chiến lợc sản
phẩm...Các doanh nghiệp thuộc khu vực NQD cũng hoạt động nh bao doanh
nghiệp khác, tức là lấy mục tiêu lợi nhuận và không ngừng tăng cờng lợi nhuận
làm tôn chỉ và mục đích. Do đó, bằng việc ban hành các văn bản chế độ, chính
sách phát triển kinh tế nhà nớc sẽ dẫn dắt và định hớng sự phát triển KT-NQD. Sự
phát triển của KT-NQD sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bớc tạo ra
cơ cấu kinh tế hợp lý. Hiện nay trong cơ cấu kinh tế nớc ta, nông nghiệp vẫn
chiếm một tỷ trọng khá cao, tới hai con số (chiếm 23,3%) trong khi ở các nớc
phát triển tỷ trọng này dới 10%, nó phản ánh một cơ cấu kinh tế cha hợp lý, một
nớc còn nặng nông ngiệp. Vì vậy phơng hớng phát triển trong tơng lai là tăng tỷ
trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, làm cho chúng chiếm chủ yếu trong nền
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kinh tế, đặc biệt là các ngành sản xuất, chế tạo máy, xây dựng...làm tiền đề cho
một nền sản xuất lớn ra đời. Tuy nhiên không thể một sớm một chiều đã có thể
tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý ngay đợc mà phải có thời gian. Giai đoạn đầu
nên tập trung vào những ngành gia công, chế biến công nghiệp những sản phẩm
nông nghiệp nhằm làm tăng chất lợng sản phẩm, hàm lợng giá trị, tăng tính thơng
mại của sản phẩm.
Đồng thời quá trình phát triển các doanh nghiệp NQD cũng là quá trình cải
tiến máy móc thiết bị kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất và chất lợng sản phẩm
để đáp ứng nhu cầu thị trờng, đến mức độ nhất định sẽ dẫn đến đổi mới công
nghệ, làm cho quá trình CNH-HĐH không chỉ diễn ra trên chiều rộng mà cả
chiều sâu.
Thứ năm: Kinh tế ngoài quốc doanh góp phần tạo môi trờng cạnh
tranh thúc đẩy kinh tế phát triển.

trờng đầy triển vọng của ngành ngân hàng.
1.1.2.2. Định hớng phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và nhu cầu vốn
Về mặt đờng lối, Đảng và Nhà nớc đã khẳng định quan điểm về phát triển
KT-NQD là: Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là những bộ phận
quan trọng của nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp
tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế cá thể tiểu chủ đợc nhà nớc tạo điều kiện và
giúp đỡ phát triển. Kinh tế t bản t nhân đợc khuyến khích và phát triển rộng rãi
trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh pháp luật không cấm. Nh vậy Đảng
và Nhà nớc đã coi KT-NQD là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế
quốc dân, tôn trọng và phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của công
dân, giải phóng triệt để lực lợng sản xuất để mọi ngời dân đều có thể làm giầu
cho mình và xã hội.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhận thức rõ vai trò, vị trí quan trọng của khu vực KT-NQD trong sự
nghiệp CNH-HĐH đất nớc, hội nghị ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản
Việt nam lần thứ năm khoá IX đã ra Nghị quyết về phát triển kinh tế t nhân. Nghị
quyết đã khẳng định: Phát triển kinh tế t nhân là vấn đề chiến lợc lâu dài trong
phát triển kinh tế nhiều thành phần định hớng xã hội chủ nghĩa.... Nhờ có những
chủ trơng đúng đắn mà tính đến thời điểm cuối năm 2002, sau 3 năm thực hiện
luật doanh nghiệp, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng lên đến 93.000
doanh nghiệp t nhân. Riêng 3 năm (từ 2000-2002) đã có 55.000 doanh nghiệp
đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký lên tới 8.000 tỷ đồng. Kinh tế t nhân
đã huy động 300.000 tỷ đồng đầu t vào sản xuất kinh doanh, thu hút và tạo thu
nhập, ổn định cho 5 triệu lao động có việc làm thờng xuyên. Mặc dù vậy tổng số
vốn trong dân còn rất lớn. Theo ớc tính của các chuyên gia tài chính thì nguồn
vốn trong dân ớc khoảng 10,8 tỷ USD, đây là cha tính đến nguồn kiều hối của
khoảng 2,5 triệu ngời Việt kiều. Tiềm năng là nh vậy song trên thực tế tổng số
vốn đầu t cha tơng xứng với tiềm lực của khu vực này. Chính vì vậy đề ra hớng

phát triển.
1.1.3. Đặc điểm của kinh tế ngoài quốc doanh
1. Quy mô vốn nhỏ bé nghèo nàn.
Xuất phát điểm đổi mới kinh tế của chúng ta thấp: Một nớc thuần nông,
dân số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp tại thời điểm đổi mới chiếm tới 92%,
đóng góp 95% tổng giá trị quốc nội, công nghiệp và dịch vụ gần nh không đáng
kể. Hoạt động nông nghiệp đợc coi là hoạt động sản xuất chính. Hơn nữa chúng
ta trải qua hai cuộc chiến tranh liên miên, nhiệm vụ chính của thời chiến là mọi
ngời cầm súng đánh đuổi giặc ngoại xâm, phát triển kinh tế chỉ là thứ yếu. Cho
nên, nền kinh tế vốn thuần nông, bị chiến tranh tàn phá nặng nề lại không có điều
kiện phục hồi phát triển. Một lý do khác, thời gian chúng ta chuyển sang kinh tế
thị trờng cha lâu, phát triển qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Do đó không có quá
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trình tích tụ và tập chung vốn, KT-NQD ở nớc ta chủ yếu dựa trên sở hữu t nhân
về vốn và t liệu sản xuất nên nguồn vốn kinh doanh của khu vực này mang tính
chất nhỏ bé nghèo nàn.
Đây là đặc điểm chính, nổi bật nhất của KT-NQD. Nó không chỉ là vấn đề
của riêng KT-NQD mà còn là vấn đề chung của toàn bộ nền kinh tế nớc ta. Là
vấn đề cấp thiết nhất trong các vấn đề KT-NQD phải đối mặt, đang đòi hỏi phải
giải quyết nhanh chóng. Để có những biện pháp hữu hiệu cần phải có những
nghiên cứu sâu sẵc về nguồn vốn kinh doanh của khu vực này. Nh chúng ta đã
biết, nguồn vốn gồm nợ và vốn chủ sở hữu. Nợ khi phân theo thời hạn gồm nợ
ngắn hạn và dài hạn. Vốn chủ sở hữu gồm vốn tự có, vốn góp, các loại cổ phiếu,
trái phiếu, lợi nhuận giữ lại. Tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu gọi là cơ cấu
vốn. Nghiên cứu thực tế hoạt động doanh nghiệp NQD cho thấy cơ cấu vốn của
khu vực này thấp, chủ yếu hoạt động bằng nguồn vốn chủ sở hữu, vốn huy động
rất nhỏ bé. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp NQD đã chủ động tìm kiếm
các nguồn vốn có thể huy động nh từ bạn bè, ngời thân, từ phía ngân hàng và các
tổ chức tài chính khác.

giới hạn trong một số lĩnh vực của nền kinh tế.
Do trình độ công nghệ quyết định đến năng suất lao động và chất lợng sản
phẩm. Cho nên kỹ thuật công nghệ lạc hậu tất yếu cho năng suất lao động thấp,
chất lợng sản phẩm kém, giá thành sản phẩm cao mà hệ quả của nó là sức cạnh
trạnh của sản phẩm trên thị trờng thấp, hiệu quả kinh doanh hạn chế. Vì vậy cần
có chính sách đầu t, chính sách tài chính, tín dụng hợp lý và hiệu quả nhằm giải
quyết những khó khăn trở ngại về kỹ thuật công nghệ của khu vực KT-NQD.
3. Trình độ quản lý kinh doanh non yếu, năng lực tay nghề ngời lao động thấp.
Trong những yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp thì yếu tố
quản lý đợc đặt lên vị trí hàng đầu, nh các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý
thờng nói: Quản lý dờng nh là vấn đề năng khiếu, nhng lại đợc cấu thành hai bộ
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phận hữu cơ là khoa học và nghệ thuật. Do đó, dù có năm vững nguyên lý quản lý
cũng cha chắc đã làm đợc quản lý vì khoa học mới chỉ bao hàm vấn đề trình độ
mà cha nói lên bề dày kinh qua thực tế. Ngợc lại, có bề dày thực tiễn nhng lại
thiếu trình độ, nhất là trong điều kiện nền kinh tế Việt nam - khi mà các chức
năng, nhiệm vụ doanh nghiệp cha phân tách rạch ròi, đòi hỏi chủ doanh nghiệp
phải kiêm nhiều chức, năng nhiệm vụ, quản lý nhiều mặt thì sự thất bại đổ bể
luôn có thể xảy ra. Vì vậy, một nhà quản lý vừa phải có trình độ vừa có kinh
nghiệm thực tiễn. Vấn đề này tỏ ra khó đáp ứng đối với khu vực KT-NQD. Một
mặt, do thời gian chuyển sang kinh tế thị trờng cha đợc bao lâu các ông chủ
của các TPKT-NQD cha có kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh trong kinh tế
thị trờng, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ quản trị kinh
doanh cha đợc chuẩn bị, đào tạo và bồi dỡng có hệ thống cho nên các loại hình
sản xuất kinh doanh NQD đều phát triển theo hớng tự nhiên chỉ thấy lợi là làm.
Đội ngũ những nhà quản trị thì nh vậy, nhng tình hình đội ngũ ngời lao
động cũng không lấy gì làm sáng sủa khả quan. Ngời lao đông trong khu vực này
nói riêng và trong nền kinh tế nói chung đều có kỹ năng thấp, rất ít đợc qua đào
tạo, chủ yếu lao động phổ thông, đây cũng là đặc điểm chung của lao động nớc

hàng lậu với giá rẻ do trốn thuế và có chất lợng cao hơn. Do đó các doanh nghiệp
bị động và lúng túng trong việc xây dựng kế hoạch, phơng hớng sản xuất kinh
doanh và chiến lợc đầu t nên phơng thức kinh doanh chủ yếu là đánh quả,
chụp giật, rủi ro là rất lớn.
Đặc điểm này đã gây trở ngại rất lớn cho các doanh nghiệp NQD, vì ngân
hàng không muốn đầu t vốn đối với những khách thể không có phơng thức sản
xuất kinh doanh an toàn và hiệu qủa. Ngoài ra, các doanh nghiệp NQD thành lập
và hoạt động trong lĩnh vực thơng mại và dịch vụ là chủ yếu, chiếm tới hơn 70%.
Đối với thực tế nền kinh tế nớc ta mà nói, phơng hớng phát triển hợp lý là đầu t
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vào sản xuất. Một nền sản xuất phát triển đảm bảo cung ứng phong phú và đa
dạng các loại sản phẩm cho trờng, trên cơ sở đó thơng mại và dịch vụ có điều
kiện phát triển và khẳng định vị trí của mình trong cơ cấu kinh tế.
1.2. Tín dụng ngân hàng và vai trò của nó đối với sự phát
triển kinh tế ngoài quốc doanh
1.2.1. Tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế hiện nay có rất nhiều TPKT cùng tồn tại và hoạt động
nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trờng. Do sự khác biệt về ngành nghề kinh
doanh, đối tợng sản xuất, công nghệ...dẫn đến hiện tợng, tại một thời điểm có
nhiều tổ chức kinh tế phát sinh nhu cầu vốn cho sản xuất và có các đơn vị kinh tế
khác nhàn rỗi về vốn. Mâu thuẫn này tồn tại đan xen trong quá trình tuần hoàn
vốn, hình thành nên cung cầu về vốn. Để giải quyết vấn đề này cần tập trung các
nguồn tiền nhàn rỗi lại rồi phân bổ chúng trên cơ sở có hoàn trả gốc và lãi. Quan
hệ đó đợc gọi là quan hệ tín dụng, ngời đứng ra làm trung gian điều hoà vốn là
các ngân hàng.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế: Tín dụng là sự chuyển nhợng tạm
thời một lợng giá trị từ ngời sở hữu sang ngời sử dụng và sau một thời hạn nhất
định đợc quay trở lại với ngời chủ sở hữu bằng một lợng giá trị lớn hơn với giá trị
ban đầu.

các doanh nghiệp nhà nớc.
- Cho vay kinh tế ngoài quốc doanh: Là việc cho vay của ngân hàng đối
với các TPKT-NQD nh Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp t nhân...
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, lu thông hàng hoá. Khoản vay sẽ
đợc dùng nhằm trang trải cho chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu vốn lu động
thanh toán chi trả giữa các doanh nghiệp.
- Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
nh mua sắm hàng hoá, xây dựng nhà ở...
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.3. Vai trò tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế ngoài quốc doanh
1.2.3.1. Đặc điểm tín dụng ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh
Hoạt động ngân hàng là hoạt động gắn bó hữu cơ với các hoạt động sản
xuất kinh doanh của các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Các ngành kinh tế
quốc dân muốn mở rộng và phát triển thì không thể không kể đến nguồn vốn
ngân hàng tài trợ. Ngợc lại nếu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
kém hiệu quả sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng, ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Nói cách khác, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp là hiệu quả của ngân
hàng thông qua quan hệ tín dụng. Vì vậy khi cho các doanh nghiệp vay vốn phải
giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn, xem có sử dụng đúng mục đích không,
có hiệu quả không? Thực hiện điều này rất khó, nhất là đối với các doanh nghiệp
NQD do những đặc điểm đặc thù của thành phần này đem lại nh: Tồn tại và hoạt
động trong một phạm vi rộng lớn cả về mặt không gian lẫn ngành kinh tế, trình
dộ quản lý yếu kém, am hiểu về luật pháp và cơ chế kinh tế thị trờng thấp...Đến l-
ợt nó những khó khăn này làm cho KT-NQD khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn
tín dụng ngân hàng.
Trong thực tế nhiều khách hàng NQD vay vốn không xây dựng đợc phơng
án sản xuất kinh doanh mà phải nhờ sự giúp đỡ của cán bộ tín dụng, có khi phơng
án sản xuất kinh doanh không đúng với tình hình sản xuất của khách hàng. Đặc

chức thực hiện: Tổ chức tài chính (các cơ quan tài chính) và các tổ chức tín dụng.
Điều này chủ yếu đợc thực hiên bởi các tổ chức tín dụng,vì nh Mác nói Một
mặt, ngân hàng là sự tập trung t bản tiền tệ của ngời có tiền cho vay, mặt khác nó
là sự tập trung của ngời đi vay.Vậy là tín dụng ngân hàng đã đóng góp vai trò rất
quan trọng đối với nền kinh tế từ buổi sơ khai cho đến các ngân hàng hiên đại
ngày nay. Nó góp phần thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội nâng cao khả năng sử
dụng vốn, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế. Đặc biệt đối với KT-NQD tín
dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng thể hiện trên các mặt sau.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Điều kiện tiên quyết đối với việc ra đời và phát triển của các cơ sở sản xuất
kinh doanh là vốn. Để thực hiện quá trình sản xuất cần có một nguồn vốn đủ để
mua sắm tài sản cố định, tài sản lu động và tài trợ cho các chi phi cần thiết khác.
Và nguồn vốn đợc xem là quan trọng nhất để tài trợ cho những hoạt động này là
tín dụng ngân hàng. Nếu chỉ dựa vào vốn tự có và tín dụng thơng mại thì không
đủ để tồn tại, cạnh tranh và phát triển. Tín dụng ngân hàng là nguồn vốn quan
trọng nhất tài trợ cho sự ra đời của các doanh nghiệp, tạo cơ sở vật chất cho các
cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động. Tín dụng ngân hàng tham gia vào tất cả các
khâu từ quá trình sản xuất đến lu thông hàng hoá.
Đối với ngành sản xuất, chế biến, khai thác...để đảm bảo sản xuất kinh
doanh liên tục cân thiết phải có vốn để dự trữ nguyên liệu, thành phẩm, bù đắp
các chi phí sản xuất. Tất cả các công việc đó sẽ không thực hiện đợc nếu thiếu sự
hỗ trợ của ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng.
Trong lĩnh vực lu thông để đảm bảo đa hàng hoá từ nơi sản xuất đến ngời
tiêu dùng, các doanh nghiệp NQD cần có vốn để dự trữ khối lợng hàng hoá cần
thiết và trang trải các chi phí lu thông, thuế... Mà những doanh nghiệp này có số
vốn hoạt động nhỏ vì vậy để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp này cần có
sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng.

Các xí nghiệp và công ty làm ăn hiệu quả, có uy tín sẽ đợc ngân hàng tập
trung vốn nên có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, thị trờng tiêu thụ và
cạnh tranh thắng lợi trên thơng trờng. Tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy quá trình
tích tụ và tập trung vốn, tạo tiền đề vật chất quan trọng cho các công ty, xí nghiệp
25

Trích đoạn Hoạt động sử dụng vốn Một số hoạt động khác Thực trạng hoạt động cho vay ngoài quốc doanh Tình hình d nợ các thành phần kinh tế qua một số năm Tình hình cho vay, thu nợ qua các năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status