VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 21-Tháng 12-2009 14
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG TỪ SƠ SINH ĐẾN TRƯỞNG THÀNH
CỦA BÒ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LAI SIND HIỆN NUÔI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ
Nguyễn Hữu Văn
1*
, Nguyễn Tiến Vởn
1
, Nguyễn Xuân Bả
1
và Tạ Nhân Ái
2
1
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
2
Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Hữu Văn, khoa Chăn nuôi Thú y, trường ĐHNL Huế
Tel: 054-3525439/0914620009 - E-mail:
ABSTRACT
The growth of local and Red Sindhi crossbred cattle presently raised in Quang Tri province
Nguyn Huu Van
1
, Nguyen Tien Von
1
, Nguyen Xuan Ba
1
Tiến Văn, 1992) trên đàn bò vàng tỉnh Quảng Trị thì bình quân khối lượng trưởng thành
của bò đực là 243kg, bò cái là 182kg. Vì thế trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chỉ tập
trung đánh giá sức sinh trưởng bò vàng địa phương và bò lai Sind đang được nuôi trong
nông hộ của tỉnh.
Mục đích của đề tài nhằm: Đánh giá khả năng sinh trưởng của bò vàng địa phương và bò lai
Sind trong cùng điều kiện chăn nuôi hiện tại. Thiết lập cơ sở dữ liệu tương đối sát thực để
phục vụ cho chiến lược phát triển chăn nuôi bò thịt theo hướng thâm canh, chất lượng cao trên
địa bàn tỉnh Quảng Trị. NGUYỄN HỮU VĂN – Khả năng sinh trưởng
15
VẬT LIỆU VẦ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại một số xã của huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh và Cam
Lộ từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2008. Tổng cộng có 240 bò vàng và 546 bò lai Sind ở các độ
tuổi: sơ sinh, 3, 6, 9, 12, 15, 18, 24, 30, 36, và trên 42 tháng tuổi đã được cân đo các chiều cao
vây, vòng ngực, dài thân chéo và khối lượng cơ thể.
Chiều cao vây được tính từ mặt đất lên đến u vai, dùng thước gậy. Vòng ngực đo ngay phía
sau nách chân trước, dùng thước dây. Dài thân chéo được tính từ mỏm trước xương bả vai
cánh tay đến u xương ngồi, đo bằng thước gậy. Khối lượng bò được xác định bằng cân địên tử
chuyên dùng cho đại gia súc của hãng RudWeight (Newzealand) có độ chính xác đến 0,5kg.
Xử lý số liệu
Các kết quả thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm
Microsoft Excel 2003.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tầm vóc của giống bò thường được đánh giá thông qua các chiều đo cao vây, vòng ngực và
dài thân chéo. Kết quả khảo sát của chúng tôi trên đàn bò vàng và bò lai Sind nuôi ở Quảng
Trị được trình bày ở các Bảng 1, 2 và 3.
96,7 ± 3,16 14
95,5 ± 3,25
12 10 99,8 ± 4,42 10
97,7 ± 5,77 27
105,4 ± 3,95
25
103,5 ± 2,84
15 10 101,5 ± 4,62 10
100,9 ± 4,75 16
112,6 ± 7,04
12
109,6 ± 4,70
18 10 111,5 ± 7,17 10
102,3 ± 5,10 52
115,1 ± 5,89
24
118,6 ± 3,36
≥42 16 123,1 ± 4,64 10
113,9 ± 1,79 17
133,9 ± 6,02
23
117,7 ± 4,25
Sự phát triển các chiều đo của cả hai giống bò đều tuân theo qui luật chung là tăng nhanh ở
thời kỳ còn non, sau đó tăng chậm lại và ổn định ở tuổi trưởng thành. Trong cùng một giống
thì con đực có tầm vóc lớn hơn đáng kể so với con cái. Từ 36 tháng tuổi trở đi kích thước các
chiều đo hầu như thay đổi không đáng kể.
Nguyễn Tiến Văn, (1992) điều tra trên đàn bò vàng Quảng Trị cho biết trung bình cao vây,
vòng ngực và dài thân chéo ở lứa tuổi trưởng thành của con đực tương ứng là 111, 150 và
120cm, của con cái tương ứng là 102, 133 và 111cm. Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy
có sự cải thiện chút ít về tầm vóc của đàn bò vàng Quảng Trị trong thời gian qua. Nguyên
nhân có thể là do đã có sự chọn lọc đàn bò giống theo hướng thịt một cách tự phát, vì nhu cầu
sức kéo từ trâu bò có xu hướng giảm.
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 21-Tháng 12-2009 16
99,5 ± 8,14 27 122,0 ± 5,42 25 120,4 ± 3,62
15 10
117,9 ± 5,11
10
111,8 ± 5,12
16 130,8 ± 5,78 12 124,8 ± 3,79
18 10
126,2 ± 4,52
10
119,6 ± 6,11
52 138,2 ± 6,43
19
131,7 ± 2,52
24 14
132,6 ± 6,66
10
137,9 ± 1,79
17 162,6 ± 7,47 23 149,8 ± 6,41
Bảng 3. Trung bình dài thân chéo (cm) của bò ở các độ tuổi khác nhau
Bò vàng Bò lai Sind
Con đực Con cái Con đực Con cái
Tháng
tuổi
n Mean ± SD n Mean ± SD n Mean ±SD n Mean ± SD
SS - - - - 20
56,6 ± 1,85 14 55,5 ± 3,23
3 10
55,9 ± 2,47
10
52,9 ± 2,02 17
73,1 ± 2,06
14
70,4 ± 2,44
6 10
75,2 ± 4,02
10
72,8 ± 3,46 29
110,1 ± 5,03
12 108,3 ± 2,99
18 10
109,9 ± 6,84
10
106,1 ± 6,30
52
113,9 ± 6,20
19 108,8 ± 2,36
24 14
110,3 ± 4,76
10
111,0 ± 3,46
51
120,1 ± 5,41
24 121,3 ± 2,45
≥42 16
122,6 ± 3,14
10
112,4 ± 3,03
17
131,2 ± 6,45
23 120,5 ± 3,12
Số liệu điều tra cũng cho thấy ở cùng độ tuổi thì bò lai Sind luôn vượt trội về tầm vóc so với
bò vàng. Lúc 24 tháng tuổi, kích thước các chiều cao vây, vòng ngực, dài thân chéo của bò lai
Sind đã lớn hơn chút ít so với bò vàng lúc 36 tháng tuổi.
Khối lượng của đàn bò nuôi ở Quảng Trị được trình bày ở Bảng 4.Vũ Văn Nôi, (1994) cho
biết bò vàng Thanh Hoá và bò vàng Nghệ An lúc sơ sinh nặng 14-15kg. Lúc 12 tháng tuổi bò
Thanh Hoá nặng 90-100kg, bò Nghệ An nặng 110-120kg. Lúc 24 tháng tuổi con đực và con
cái bò Thanh Hoá cân nặng bình quân là 180 và 170kg, tương ứng bò Nghệ An khối lượng là
260 và 180kg. Kết quả điều của chúng tôi trên đàn bò vàng ở Quảng Trị cho thấy khối lượng
sơ sinh bình quân của con đực là 13,3kg và của con cái là 10,7kg, thấp hơn so với bò vàng
Thanh Hoá và bò vàng Nghệ An. Tại thời điểm 12 và 24 tháng tuổi thì bò vàng Quảng Trị có
khối lượng xấp xỉ bò vàng Thanh Hoá, tuy vậy vẫn thấp hơn nhiều so với bò vàng Nghệ An.
NGUYỄN HỮU VĂN – Khả năng sinh trưởng
9 10
78,8 ± 5,43 10
65,2 ± 5,29 21
111,5 ± 12,73
14 108,2 ± 13,69
12 10
112,1 ± 11,99
10
88,9 ± 13,16
27
143,1 ± 13,04
25 136,1 ± 9,51
15 10
136,7 ± 8,71 10
113,5 ± 12,43
16
30 10
209,2 ± 24,59
10
176,4 ± 20.96
37
268,8 ± 28,68
15 235,3 ± 18,29
36 20
239,2 ± 30,69
10
195,8 ± 6,84
50
302,9 ± 29,48
24 242,9 ± 12,72
≥42 16
Tăng trọng bình quân của bò vàng Quảng Trị giai đoạn sơ sinh đến 18 tháng tuổi chỉ đạt
8,2kg/tháng (dao động trong khoảng 5,6-11,1kg) ở con đực và 7,1kg/tháng (dao động trong
khoảng 4,3-8,2kg) ở con cái. Bò lai Sind tăng trọng cao hơn bò vàng nuôi trong cùng điều
kiện: từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi, bình quân đạt 10,0kg/tháng (dao động trong khoảng 7,8-
11,5kg) ở con đực và 8,7kg/tháng (dao động trong khoảng 5,3-11,1kg) ở con cái.
Tuy nhiên, so với các kết quả nghiên cứu trong nước của các tác giả khác công bố thì tăng trọng
của bò vàng và bò lai Sind nuôi ở Quảng Trị đều thấp hơn. Điều đó có thể là do chế độ nuôi
dưỡng ở đây chưa đáp ứng đủ nhu cầu sinh trưởng của bò. Một số nghiên cứu khác cho biết bò
vàng được nuôi bình thường cho tăng trọng 4,4-9,4kg/tháng, nuôi dưỡng tốt cho tăng trọng
12,9-24,2kg/tháng Nguyễn Xuân Bả và cs (2008). Bò lai Sind được nuôi bình thường cho tăng
trọng 6,0-9,5kg/tháng, nuôi dưỡng tốt cho tăng trọng 14,1-25,2kg/tháng (Nguyễn Xuân Bả và
cs, 2007; Vũ Chí Cương và cs, 2007; Vũ Văn Nội và cs, 1999; Lê Viết Ly và cs, 1995).
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 21-Tháng 12-2009 18
Bảng 5. Diễn biến tăng trọng (kg/tháng) của bò theo lứa tuổi
Bò vàng Bò lai Sind
Con đực Con cái Con đực Con cái
Tháng
tuổi
n Mean n Mean n Mean n Mean
SS – 3 10 5,6 10 4,3 20 10,2 14 9,3
4 – 6 10 8,5 10 7,9 17 11,5 14 9,8
7 – 9 10 7,7 10 6,0 29 9,3 27 11,1
10 – 12 10 11,1 10 7,9 21 10,6 14 9,3
13 – 15 10 8,2 10 8,2 27 10,6 25 7,3
16 – 18 10 7,9 10 8,0 16 7,8 12 5,3
Viện Chăn nuôi-Vụ Khoa học Công nghệ, (2004). Át lát các giống vật nuôi ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà
Nội.
NGUYỄN HỮU VĂN – Khả năng sinh trưởng
19
Vũ Chí Cương, (2007).: "Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ nhằm phát triển chăn nuôi bò
thịt và xác định một số bệnh nguy hiểm đối với bò để xây dựng biện pháp phòng dịch bệnh ở Tây
Nguyên", Báo cáo tổng kết khoa học kỹ thuật đề tài Viện Chăn nuôi, Hà Nội.
Vũ Văn Nội,(1994). Nghiên cứu khả năng sản xuất của đàn bò lai Sind, bò lai kinh tế hướng thịt trên nền bò lai
Sind ở một số tỉnh miền Trung, Luận án Phó tiến sĩ Nông nghiệp. Viện Chăn nuôi, Hà Nội.
Vũ Văn Nội, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Kim Cương và Đinh Văn Tuyền, (1999). Sử dụng nguồn thức ăn sẵn có
để vỗ béo bò nâng cao khả năng cho thịt và hiệu quả kinh tế, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật
chăn nuôi 1998-1999, NXB. Nông nghiệp Hà Nội.
*Người phản biện: TS. Trần Trọng Thêm ; TS. Trịnh Xuân Cư