NGUYỄN NGỌC PHỤC – Đánh giá năng suất sinh sản của lơn nái thuần (L,Y) 1
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI THUẦN LANDRACE (L)
YORKSHIRE (Y) , NÁI LAI F1 (LY/YL) , NÁI VCN22 VÀ KHẢ NĂNG SINH
TRƯỞNG, CHO THỊT CỦA LỢN THƯƠNG PHẨM HAI, BA VÀ BỐN GIỐNG
TRONG ĐIỀU KIỆN CHĂN NUÔI TRANG TRẠI TẠI QUẢNG BÌNH
Nguyễn Ngọc Phục*, Lê Thanh Hải và Đinh Hữu Hùng
Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương
*Tác giả liên hệ: Nguyễn Ngọc Phục – Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương –Từ Liêm – Hà N
ội
Tel: (04) 38.383.841 / 0946.511.117; Fax: (04) 37.410.025; Email: [email protected]
ABSTRACT
Evaluation of reproductive performance of purebred LANDRACE (L) YORKSHIRE (Y), crossbred F1
(LY/YL), VCN22 sows, growth rate and meat production of two, three and four way crossbred fattening
pigs in commercial farms of Quang Binh province.
This study was conducted under the Project entittled “ Establishing models for fattening pigs with high lean
meat breeds at commercial farms”, which was funded by the Science and Technology Department of Quang
Binh Province. Three groups of sows including purebred (L,Y) with 55 litters, crossbed (LY/YL) with 169 litter
and VCN22 with 83 litters were involved in the study for evalution of their reproductive performance. Three
groups of their progenies including 69 of two way, 122 of three way and 91 of four way crossed fattening pigs
were also used in this study for their growth and meat production at commercial farms under the provincial
conditions. The study showed that two and three way crossbred sows (LY/YL or LYD) had higher reproductivity
than the purebred sows do. Similarly, their progenies, the three and four way crossbred fattening pigs, had a
better performanve compared to those of two way crossbred. It conluded that in commercial farms at Quang
Binh province, the use of exotic crossbred sows would be the best choice for production of three or four way
crossbred fattening pigs wiht a high lean meat rate.
Key words: Sow, reproductive performance, cross fattening pigs, Quang Binh .
phẩm 3 giống (LYD), lợn đực VCN 23 (đực lai giữa Pietrain-P và Ỷ) để toạ lợn thương phẩm
4 giống (LYDP).
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7 - 2006 đến tháng 2 - 2008
Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành tại 03 trang trại chăn nuôi lợn ngoại tại tỉnh
Quảng Bình.
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá khả năng sinh sản của các nhóm lợn nái thông qua các chỉ tiêu: Tổng số con sơ
sinh/lứa, số con sơ sinh sống/lứa, số con cai sữa/lứa, số con 60 ngày/lứa, khoảng cách lứa đẻ,
số con cai sữa/nái/năm.
Đánh giá khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của các nhóm lợn thương phẩm thông qua
việc xác định khối lượng bằng cân tại các thời điểm: sơ sinh, cai sữa, 60 ngày và xuất bán.
Xác định thành phần thịt xẻ của các nhóm lợn thương phẩm tại thời điểm giết mổ.
Phương pháp nghiên cứu
Số liệu sinh sản được theo dõi trực tiếp tại các địa điểm nghiên cứu. Đàn lợn nái sinh sản
được nuôi trong điều kiện chuồng trại và thức ăn công nghiệp. Quy trình chăm sóc nuôi
dưỡng, quy trình phòng trị bệnh được thực hiện theo hướng dẫn của Trung tâm nghiên cứu
lợn Thụy Phương.
Khả năng sinh trưởng và cho thịt: Sử dụng phương pháp phân nhóm so sánh đảm bảo độ đồng
đều về tuổi, khối lượng, giới tính. Tổng số 282 con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi và 60 lợn
thương phẩm có khối lượng ban đầu 23-25 kg/con thuộc 3 nhóm giống (20 con/nhóm) đưa
vào nuôi vỗ béo đến khối lượng xuất chuồng 90 kg/con. Lợn được ăn tự do cùng loại thức ăn
hỗn hộp viên. Khi đạt khối lượng xuất chuồng, mỗi lô chọn 8 con (4 đực và 4 cái) có khối
lượng trung bình trong lô để mổ khảo sát đánh giá khả năng cho thịt.
Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng chương trình thống kê Minitab 13 (GLM). Các kết quả được trình bày
gồm giá trị trung bình quần thể (X) và sai số chuẩn (SE), sự sai khác giữa các giá trị trung
bình được so sánh theo phương pháp Tukey.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Năng suất sinh sản của lợn nái thuần (L,Y), lợn nái lai F1(LY/YL) và VCN22
Kết quả trình bày tại Bảng 1 cho thấy lợn nái VCN22 và nái F1(LY/YL) có năng suất tương
0,18 10,58
a
0,12 9,75
b
0,21 ***
Sơ sinh chết/ổ (con)
0,76 0,13 0,97 0,09 1,09 0,15
Ns
Số con thai gỗ/ổ (con)
0,28 0,06 0,22 0,04 0,19 0,07
Ns
Số con để nuôi/ổ (con)
10,40
a
0,16 10,35
a
0,10 9,68
b
0,18 *
Khối lượng sơ sinh/con (kg)
1,51 0,01 1,50 0,01 1,48 0,02 Ns
Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)
15,87
a
0,27 15,86
a
0,18 14,43
b
0,31 ***
Ngày tuổi cai sữa (ngày)
a, b
Các giá trị có chữ cái khác nhau có ý nghĩa thống kê.
Kết quả năng suất sinh sản của nái thuần L, Y trong nghiên cứu này cao hơn kết quả nghiên
cứu của một số tác giả: số con sơ sinh sống/ổ tương ứng 9,54 - 9,57; 9,08 - 9,60 và số con ở 3
tuần tuổi đạt 8,41; 8,07 con/ổ (Từ Quang Hiển và cs. 2004; Nguyễn Hữu Tỉnh và cs. 2007).
Tuy nhiên, chúng lại thấp hơn kết quả của một số nghiên cứu khác: số con sơ sinh sống và cai
sữa 3 tuần tuổi của lợn nái Yorkshire và Landrace tương ứng 10,18-10,86 con/ổ và 9,30-9,65
con/ổ (Phùng Thị Vân và cs, 2004a; Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2006).
Các chỉ tiêu sinh sản trên của lợn nái thuần L và Y đều thấp hơn so với nhóm lợn VCN22 và
F1(LY/YL) như số con sơ sinh sống/ổ (9,75) và số con cai sữa/ổ (8,74). Đối với chỉ số lứa đẻ,
lợn nái VCN22 có chỉ số lứa đẻ cao hơn lợn nái F1(LY/YL) cũng như lợn nái thuần do thời
gian động dục trở lại sau cai sữa cũng như tỉ lệ phối giống đạt hiệu quả cao hơn. Tác giả
(Phùng Thị Vân và cs, 2004b) nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái lai và lợn nái
thuần cũng cho thấy VCN22 có số con sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ cao hơn nái thuần Y và
L tương ứng 1,32 con và 0,8 con.
Theo nghiên cứu gần đây tại trang trại tại các tỉnh phía Bắc, một số tác giả đã xác định được
năng suất bình quân đối với lợn ngoại tại khu vực có số con sơ sinh sống đạt 10,81-10,97
con/ổ và cai sữa đạt 9,84-9,94 con/ổ (Vũ Đình Tôn & Võ Trọng Thành 2006). Như vậy, để
nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái tại các điểm của dự án nên sử dụng lợn nái lai VCN22
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 16-Tháng 2-2009
4
và F1 (LY/YL) làm nái cơ bản để sản xuất lợn thương phẩm, như vậy sẽ tốt hơn sử dụng lợn
nái thuần.
Khả năng sinh trưởng của lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
Kết quả khả năng sinh trưởng của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi trình bày tại Bảng 2.
Bảng 2. Sinh trưởng của lợn con giai đoạn từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
Nhóm lai
0,30
20,72
b
0,26
19,26
c
0,34
***
Tăng trọng toàn kỳ (kg/con)
15,81
a
0,24
14,70
b
0,21
13,47
c
0,27
tương đương kết quả nghiên cứu này. Khả năng sinh trưởng của nhóm lai 4 và 3 giống cao
hơn nhóm lai 2 giống có thể do chúng có ưu thế lai tốt hơn, thừa hưởng khả năng sinh trưởng
tốt từ bố mẹ D và P.
Khả năng sinh trưởng của lợn thương phẩm
Kết quả về KN sinh trưởng lợn thương phẩm 2,3 và 4 giống nuôi tại Quảng Bình tại Bảng 3.
Bảng 3. Khả năng sinh trưởng của lợn thương phẩm
Chỉ tiêu
Lai 4 giống
(n = 20)
Lai 3 giống
(n = 20)
Lai 2 giống
(n = 20) SE P
Khối lượng bắt đầu (kg) 24,08 23,63 25,18 0,47 Ns
Khối lượng kết thúc (kg) 92,05 91,55 88,67 1,35 Ns
Tăng trọng toàn kỳ (kg) 67,97
a
67,92
a
63,49
b
1,34 *
Tăng trọng bq/ngày (g/) 755,22
a
754,67
a
705,45
b
14,92 *
TTTĂ toàn kỳ (kg) 3.589,0 3.708,0 3.606,0 - -
Bảng 4. Thành phần thịt xẻ lợn thương phẩm
Chỉ tiêu
Lai 4 giống
(n = 8)
Lai 3 giống (n
= 8)
Lai 2 giống
(n = 8) SE P
Khối lượng hơi (kg) 90,88
91,13
90,63
1,10
Ns
Tỉ lệ thịt móc hàm (%) 82,38
80,39
79,86
0,93
Ns
Dày mỡ lưng TB (cm) 1,99
a
2,17
b
Tỉ lệ nạc (%) 60,82
a
58,89
a
55,71
b
0,94
**
Tỉ lệ mỡ (%) 17,26
a
19,76
a
23,85
b
0,84
***
Tỉ lệ xương (%) 14,10
14,36
13,67
với các nghiên cứu khác trên các giống lợn ngoại khác nhau. Trong nghiên cứu của Phùng Thị
Vân và cs. (2001), tỉ lệ thịt xẻ của nhóm lợn lai 2 và 3 giống đều đạt từ 70-73%, tương đương
với kết quả của nhóm tác giả Lê Thanh Hải và cs (2007) công bố, tỉ lệ thịt xẻ của lợn lai 3 và
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 16-Tháng 2-2009
6
4 giống ở mức 68,1-69%. Lợn lai 2 giống cũng cho tỉ lệ nạc thấp trong khoảng 56-67%, trong
khi lợn lai 3 giống có tỉ lệ nạc từ 56-61% Phùng Thị Vân và cs. (2001). Các kết quả trên đây
cho thấy, lợn thương phẩm lai 3 và 4 giống sử dụng nuôi thịt đều thích hợp vì cho năng suất
vỗ béo cũng như giết mổ cao hơn, thịt có tỉ lệ nạc cao hơn so với lợn lai 2 giống, do đó chất
lượng đáp ứng được yêu cầu của thị trường hiện nay.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Nhóm nái lai LY/YL và VCN22 thích hợp tốt hơn với điều kiện nuôi dưỡng trong các trang
trại tại Quảng Bình so với lợn nái thuần L, Y thể hiện ở các chỉ tiêu sinh sản đều cao hơn. Khả
năng sinh trưởng, cho thịt của lợn thương phẩm của lợn 3 và 4 giống cao hơn lợn thương
phẩm 2 giống. Các trang trại chăn nuôi lợn thương phẩm hướng nạc tại Quảng Bình nên sử
dụng nái lai (LY/YL, VCN22) phối với đực cuối thuần D hoặc lai (YP) để sản xuất con lai
thương phẩm 3, 4 giống ngoại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đồng, Khuất Văn An và Phạm Thị Thuý, (2007). Khả năng sinh trưởng va cho thịt
của lợn thương phẩm 3,4 và 5 giống ngoại nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương. Tạp chí
Khoa Học Công Nghệ Chăn nuôi số 6: tr 7-11.
Nguyễn Hữu Tỉnh, Nguyễn Thị Viễn, Đoàn Văn Giải và Nguyễn Ngọc Hùng, (2007). Tiềm năng di truyền của
các giống lợn thuần YR, LR và DR các tỉnh phía Nam. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật chăn nuôi số 2 tr.4-7.
Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, (2006). Năng suất sinh sản, nuôi thịt và chất lượng thịt của lợn nái
Yorrkshire phối giống với lợn đực Landrace và Pietrain. Tạp chí Khoa học KT Chăn nuôi số12 tr.4-7.
Phùng Thị Vân, Hoàng Hương Trà, Lê Thị Kim Ngọc và Trương Hữu Dũng, (2001). Nghiên cứu khả năng cho
thịt của lợn lai giữa hai giống Landrace x Yorkshire, giữa ba giống Landrace, Yorkshire và Duroc và