Báo cáo khoa học : ẢNH HƯỞNG SỬ DỤNG BỘT CÁ TRONG THỨC ĂN VIÊN ĐẾN SỨC SẢN XUẤT CỦA THỎ NUÔI THỊT - Pdf 15


LÊ ĐỨC NGOAN– Ảnh hưởng sử dụng bột cá trong thức ăn viên 35

ẢNH HƯỞNG SỬ DỤNG BỘT CÁ TRONG THỨC ĂN VIÊN ĐẾN SỨC SẢN XUẤT
CỦA THỎ NUÔI THỊT
Lê Đức Ngoan
1
, Lê Thị Lan Phương
2
và Đinh Trọng Lịch
2

Trường đại học Nông Lâm Huế
2
Khoa chăn nuôi - thú y, trường đại học Nông Lâm Huế

* Tác giả liên hệ: Lê Đức Ngoan. Khoa chăn nuôi - thú y, Trường đại học Nông - Lâm Huế
102. Phùng Hưng, TP Huế
Tel. 054.3537.293/mob 0914126048; Email: [email protected]
ABSTRACT
Effect of inclusion of fishmeal in pellets on growth performance of meat Rabbits
Le Duc Ngoan
1
, Le Thi Lan Phương
2
and Dinh Trong Lich
2


cá có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất cũng như hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi thỏ hay
không? Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Ảnh hưởng sử dụng
bột cá trong thức ăn bổ sung đến sức sản xuất của thỏ nuôi thịt". Nhằm xác định ảnh hưởng

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 21 -T háng 12-2009

36

của việc sử dụng bột cá trong thức ăn viên bổ sung đến tăng trọng, hệ số chuyển đổi thức ăn
và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi thỏ thịt.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được tiến hành tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế từ tháng 2 đến tháng 6
năm 2009.
Gia súc thí nghiệm
Thỏ địa phương có độ tuổi 2 - 3 tháng, khối lượng trung bình 1,2 kg, được nuôi thích nghi
trong 4 tuần. Tiêm vacxin bại huyết truyền nhiễm trong tuần thứ nhất và tẩy nội ngoại ký sinh
trùng trong tuần thứ hai. Thỏ được đánh số, nuôi dưỡng và chăm sóc trong các ô chuồng có
máng ăn và máng uống đầy đủ.
Thức ăn thí nghiệm
Thức ăn được sử dụng trong thí nghiệm là cỏ lông para (Brachiara mutica), thức ăn viên chế
biến sẵn và các hỗn hợp thức ăn viên tự chế biến từ bột ngô, cám loại 2, bã đậu nành, bột cá
45CP, premix khoáng, vitamin và thuốc phòng cầu trùng (bảng 1). Trước khi thí nghiệm,
chúng tôi đã thử mức bột cá trong khẩu phần đến 17% và thấy rằng thỏ chịu được mức 13%
và đó là tỷ lệ bột cá (cao nhất) trong thức ăn viên số 4.
Bảng 1. Tỷ lệ các thành phần và giá trị dinh dưỡng các loại thức ăn viên tự phối trộn (%)
Loại thức ăn Thức ăn
viên số 1

Thức ăn
viên số 2


LÊ ĐỨC NGOAN– Ảnh hưởng sử dụng bột cá trong thức ăn viên 37

Lượng thức ăn được tính theo tỷ lệ khối lượng cơ thể sống: cỏ tươi 15% cho ăn 3 bữa trong
ngày lúc 6.30, 17.00 và 22.00h; và thức ăn viên khoảng 8%. Thức ăn viên cũng được cho ăn 3
bữa trong ngày như cỏ và đảm bảo luôn luôn thừa trong máng.
Các chỉ tiêu nghiên cứu
Tăng trọng và lượng ăn vào: Để xác định tăng trọng, thỏ được cân từng cá thể hàng tuần vào
buổi sáng trước khi cho ăn. Tăng trọng tính theo tuần và tính chung cả đợt cho từng cá thể
theo dõi. Xác định hệ số chuyển hóa thức ăn (tiêu tốn thức ăn) trên cơ sở lượng ăn hàng ngày
và tăng trọng. Lượng thức ăn xanh hạn chế nên không có thức ăn thừa, trong khi thức ăn viên
thừa trong ngày được cân lại vào 6.00h sáng hôm sau. Tính toán lượng ăn hàng ngày (g VCK
tuyệt đối) trên cơ sở lượng cỏ và lượng thức ăn viên ăn vào. Ngoài ra, chúng tôi còn dùng
phương pháp quan sát để theo dõi tình trạng sức khỏe của đàn thỏ thí nghiệm, ghi chép diễn
biến hàng ngày như số thỏ đau ốm, chết và khối lượng lúc chết.
Hiệu quả kinh tế: Hạch toán kinh tế sơ bộ được thể hiện sự chênh lệch qua phần thu từ bán
thỏ và chi phí thức ăn, thuốc thú y.
Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) thông quan mô
hình tuyến tính (GLM) trên phần mềm Minitab version14 (2005). Mô hình toán học:
Y
ij
= µ + T
i
+ R
i
+ e

mũi, thường lấy 2 chân trước dụi mũi nên lông ở phía trong 2 chân bết lại, lỗ mũi có dịch chảy
ra. Sau khi mổ khám thấy phổi có hiện tượng xuất huyết. Có thể thỏ chết không do ảnh hưởng
của khẩu phần thức ăn. Ngoài ra, chúng tôi không thấy xuất hiện bệnh gì trầm trọng. Kết quả
này không sai khác với công bố của Đinh Văn Bình (2002), Nguyễn Thị Kim Đông và cs,
(2006) và Lê Thị Lan Phương (2008).

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 21 -T háng 12-2009

38

Ảnh hưởng của các loại thức ăn viên đến lượng ăn vào
Bảng 3. Lượng ăn vào của thỏ qua các tuần thí nghiệm (g VCK/con/ngày)
Tuần Nghiệm
thức
Thức
ăn
1 2 3 4 5 6
TB
Cỏ 32,06 32,60 35,32 35,32 35,32 35,32 34,23
Viên 57,21 62,84

55,59
a
49,20 63,12 64,25 58,70
BC0
Tổng 89,27 94,90
a*
90,91
a
84,52 94,44 99,57 92,93

b
52,32 59,30 51,75 61,35
BC13
Tổng 94,12 108,02
b
111,28
b
95,79 102,77 95,22 101,20
Cỏ 32,60 32,60 35,32 35,32 35,32 35,32 34,41
Viên 65,32 72,11

68,39
b
58,59 66,33 65,93 66,11
ĐC
Tổng 97,92 104,71
a
103,71
a
93,91 101,65 101,25 100,52
Cỏ 0,908 0,908 3,039 3,039 3,309 3,309 2,141
Viên 3,154 2,700 2,442 3,78 3,836 6,520 2,524
SEM
Tổng 3,207 2,388 3,796 3,470 4,134 6,195 2,566
Cỏ 0,146 0,146 0,103 0,103 0,103 0,103 0,088
Viên 0,420 0,054 0,006 0,375 0,135 0,429 0,325
P
Tổng 0,475 0,015 0,017 0,124 0,446 0,299 0,100
*Trong đó a≠b: trong cùng cột với mức p<0,05.
Ngoại trừ tuần thứ 2 và 3, lượng ăn vào ở các tuần thí nghiệm không có sự sai khác giữa các

Hệ số chuyển hóa thức ăn
Bảng 5 cho thấy, tăng trong trung bình của cả đợt (17,1 – 19,5 g/con/ngày) không có sự sai
khác thống kê giữa các nghiệm thức (P>0,05). Nhưng quan sát ở các tuần thí nghiệm cho
thấy, tăng trọng của thỏ biến động không theo quy luật nào. Nhìn chung, tăng trọng cao ở 3
tuần đầu, giảm tuần 4 và tăng nhẹ ở các tuần còn lại. Điều này có thể do ảnh hưởng điều kiện
môi trường, chủ yếu và biến động nhiệt ẩm quá lớn ở tuần 4. Kết quả này tương đương với
NC của Nguyễn Văn Hiệp và Ngô Văn Mận (2008) khi nuôi thỏ bằng cỏ Ghine, bã đậu tương
và bột lá sắn dây; Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Thanh Vân (2008) khi thỏ ăn bã đậu
nành tươi, cỏ lông Para và thức ăn viên tổng hợp. Tăng trọng trung bình của thỏ ở các nghiên
cứu trên nằm trong khoảng 14,8 - 21,8g/con/ngày.
Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn. Giá trị trung bình
FCR trong các tuần thí nghiệm nằm trong khoảng 5,1 - 5,8 (Bảng 4). Điều này cho thấy không
có sự ảnh hưởng của tỷ lệ protein từ bột cá và bã đậu nành. Quan sát thấy, hệ số chuyển hóa
thức ăn giữa các nghiệm thức không diễn ra theo một quy luật chung nào qua 6 tuần thí
nghiệm và không có sự sai khác thống kê (P>0,05). Số liệu này phù hợp với nghiên cứu trước
đây của Nguyễn Văn Hiệp và Ngô Văn Mận (2008), nhưng cao hơn của Nguyễn Thị Kim
Đông và cs, (2008); Lê Thị Lan Phương, (2008). Kết quả công bố của các nhóm tác giả trong
khoảng từ 3,4 - 4,9.
Hiệu quả kinh tế
Hạch toán sơ bộ dựa trên chi phí bằng tiền, kết quả trình bày ở bảng 5. Kết quả cho thấy lãi
suất cao ở các nghiệm thức sử dụng thức ăn viên tự phối hợp. So với nghiệm thức ĐC, lãi ở
các nghiệm thức còn lại cao hơn 2,67 - 4,26 lần, và các nghiệm thức BC4, BC10 và BC13 (có
bột cá) cao hơn BC0 (không bột cá). Đó là do giá mua thức ăn viên công nghiệp cao tạo nên
chi phí cao.
Bảng 5. Kết quả hạch toán về hiệu quả kinh tế (1.000 VNĐ/con)
Nghiệm thức
Chỉ tiêu
BC0 BC4 BC10 BC13 ĐC
Khối lượng ban đầu (kg) 1,18 1,29 1,26 1,21 1,19
Khối lượng kết thúc (kg) 1,94 2,11 2,08 2,11 1,91

Đinh Văn Bình (2003). Kỹ thuật chăn nuôi thỏ Newzealand, California và thỏ lai ở gia đình. NXB Nông Nghiệp.
13-48.
Đào Đức Long (1986). Nuôi thỏ. NXB Nông nghiệp Hà Nội. pp.26.
Lê Lan Phương (2008). Nghiên cứu sử dụng một số loại cây thức ăn cho thỏ tại Thừa Thiên Huế. Luận văn thạc
sĩ. Trường ĐHNL Huế.
Lê Văn Phước (2006). Ảnh hưởng của một số yếu tố ngoai cảnh đến chỉ tiêu sinh lý và sức sản xuất của Lợn
nuôi thịt ở Miền Trung (2006). Luận án tiến sĩ nông nghiệp pp.41 - 44.
Marai, I. F. M., Bahgat, L. B., Shalaby, T. H. and Abdel-Hafez, M. A. (2000). Fattening performance, some
behavioural traits and physiological reactions of male lambs fed concentrates mixture alone with or
without natural clay, under hot summer of Egypt. Ann. Arid Zone 93 (4), pp. 449 - 460.
Nguyen Thi Kim Dong, Nguyen van Thu and T. R. Preston (2006). Effect of supplementation level of
water spinach (Ipomoea aquatica) leaves in diets based on para grass (Brachiaria mutica) on intake,
nutrient utilization, growth rate and economic returns of crossbred rabbits in the Mekong Delta of
Vietnam. Electronic Journal LRRD, 20 (9) 2008 http://www.lrrd.org/lrrd20/9/kdon20144.htm
Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Thanh Vân (2008).Effect of different levels of cabbage waste (Brassica
olerea) replacement in para grass (Brachiaria mutica) basal diet on growth performance and nutrient
digestibility of crossbred rabbits in Mekong delta of Viet Nam. In Workshop Proc on Organic Rabbit
Production from Forages, held in Cantho University, 25-27/11/2008.
Nguyễn Văn Hiệp và Ngô Văn Mận (2008). Utilisation of tropical cudzu leaves (Pueraria pheseoloides) as
protein source for growing rabbits. In Workshop Proc on Organic Rabbit Production from Forages, held
in Cantho University, 25-27/11/2008.
Nguyen Ky Son (2008). Assessment of the potential of rabbit production in the household economy in Northern
Vietnam. A case study: Ninh Phuc and Yen Binh communes, Nho Quan district, Ninh Binh province.
Msc thesis. SLU.
Ramchurn, R., J. Raggoo and A Ruggoo (2000). Digestibility and growth in the domestic rabbit using multi-
nutrient blocks as a feed supplement. Livestock Research for Rural Development 12 (1) 2000.
Tổng cục thống kê (2008). Niên giám thống kê 2008. http://www.gso.gov.vn/

*Người phản biện: TS. Nguyễn Ngoc Anh; Ths. Lê Diệp Long Biên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status