LUẬN VĂN: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ sản xuất tại Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Tiên Lãng - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với
hộ sản xuất tại Chi nhánh Ngân hàng
No&PTNT huyện Tiên Lãng Lời mở đầu

Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng - để tài trợ cho chi tiêu

hàng No&PTNT huyện Tiên Lãng ” .
Bằng các biện pháp nghiên cứu như duy vật biện chứng, thống kê tổng hợp, phân
tích, đánh giá, tổng kết em xin đưa ra một số ý kiến về hiệu quả hoạt động cho vay đối với
hộ sản suất tại Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Tiên Lãng. Trong chuyên đề thực
tập này, em chỉ đề cập đến hoạt động cho vay của ngân hàng đối với hộ sản xuất trên địa
bàn huyện Tiên Lãng.
Bố cục của chuyên đề được chia làm 3 chương với những nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Khái quát hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất tại Chi nhánh Ngân hàng
No&PTNT huyện Tiên Lãng.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất tại Chi
nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Tiên Lãng.

+ Thời hạn cho vay: là khoảng thời gian kể từ khi người vay nhận tiền vay đến khi người
vay thanh quyết toán hết nợ vay với ngân hàng. Đây là khoảng thời gian chính thức xác
lập và tồn tại quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, đồng thời cũng là căn cứ để

xác định nghĩa vụ của người vay đối với ngân hàng khi tính lãi tiền vay, cũng như khi
kiểm tra tính mục đích trong quá trình sử dụng vốn vay của người vay.
+ Cho vay là hoạt động mang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng nhưng cũng chịu rủi ro
nhất.
+Tiền cho vay là một món nợ đối với người vay nhưng nó lại là một tài sản có giá trị đối
với ngân hàng vì nó mang lại thu nhập cho ngân hàng.
+ Tiền cho vay kém lỏng hơn so với các tài sản khác vì chúng không thể chuyển thành tiền
mặt trước khi khoản vay đó mãn hạn. Đồng thời tiền cho vay cũng có xác suất vỡ nợ cao
hơn.
+ Cho vay được ngân hàng cung cấp trên phạm vi rộng, đối với mọi thành phần kinh tế xã
hội.
1.2/ Vai trò và nguyên tắc cho vay của Ngân hàng Thương mại
1.2.1/ Vai trò của hoạt động cho vay
1.2.1.1/Đối với ngân hàng thương mại:
+ Cho vay là một nghiệp vụ cơ bản trong hoạt động sử dụng vốn của các ngân hàng
thương mại, là loại tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng do đó cũng là loại tài sản
chiếm quy mô lớn trong khoản mục tài sản của ngân hàng thương mại. Với quy mô lớn
như vậy, cho vay ảnh hưởng tới rất nhiều chiến lược hoạt động của ngân hàng như dự trữ,
vay, đầu tư.
+ Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng thương mại để tạo ra lợi
nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ hoạt động cho vay mới bù đ
ắp
nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, nộp thuế và các loại phí
trong kinh doanh, bù đắp những tổn thất về rủi ro, có thể nói cho vay mang lại thu nhập
lớn nhất cho các ngân hàng thương mại.


thể hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro không đáng có đối với tiền vốn của ngân hàng.
1.2.2.2/ Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng thời hạn đã
cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Đây là một nguyên tắc quan trọng bắt nguồn từ nguyên tắc tự chủ về tài chính trong
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, từ đặc điểm luân chuyển vốn trong các doanh
nghiệp và đồng thời cũng là đặc trưng của tín dụng là “có vay, có trả”.
Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh như tất cả
các lĩnh vực khác. Bởi vậy, khi ngân hàng cấp vốn cho người vay là thời điểm chính thức
bắt đầu một chu kỳ kinh doanh, vốn được đầu tư vào các hoạt động kinh tế của doanh

nghiệp. Khi người vay hoàn trả nợ vay, chu kỳ kinh doanh của ngân hàng kết thúc. Với ý
nghĩa đó, người vay phải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi thì khả năng tái kinh doanh của
ngân hàng mới có thể thực hiện được.
Biểu hiện trong thực tế của nguyên tắc này:
- Khi vay vốn người vay phải cam kết hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng bằng một điều
khoản trong hợp đồng tín dụng hoặc khế ước nhận nợ.
- Đến kỳ hạn hoàn trả theo cam kết nếu người vay thiếu hoặc mất khả năng thanh toán và
không được ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ thì ngân hàng được quyền
áp dụng các điều khoản trong thể lệ tín dụng hiện hành để xử phạt người vay ( chuyển nợ
quá hạn, phát mại tài sản thế chấp, phong toả tài sản của người vay hoặc khởi kiện trước
pháp luật ) .
1.2.2.3/ Vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản:
Đây là nguyên tắc đảm bảo cho sự sống còn của các ngân hàng thương mại, giúp ngân
hàng ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất, kể cả các trường hợp con nợ hoàn
toàn mất khả năng thanh toán. Đảm bảo tiền vay được coi như một cơ sở vật chất vững
chắc để đảm bảo sự an toàn tiền vốn của các ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trường.
Về mặt lý thuyết cũng như trong thực tệ, đảm bảo tiền vay có thể được thực hiện đồi với
các hình thức sau:
- Người vay thế chấp tài sản.
- Người vay phải được bảo lãnh bởi người thứ ba.

hàng, định hướng kinh doanh của ngân hàng, khả năng dự báo rủi ro của ngân hàng
1.3.2/ Phân loại theo tài sản đảm bảo :
Theo Điều 4 mục 1 tại Nghị định 178/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính Phủ quy
định rõ “ việc cho vay có đảm bảo bằng tài sản, cho vay không có đảm bảo theo quy định
của Nghị định này và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp tổ chức tín
dụng Nhà nước cho vay không có đảm bảo bằng tài sản theo chỉ định của Chính Phủ, thì
tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản vay này được Chính Phủ xử lý”.
Do đó, căn cứ năng lực, uy tín và phương án kinh doanh của từng khách hàng, ngân
hàng sẽ quyết định cho vay có tài sản đảm sản hay không có tài sản đảm bảo.
+ Cho vay có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay mà khoản cho vay đó có sự đảm bảo
bằng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, tức là ngân hàng sẽ có nguồn thu
nợ thứ hai khi ngân hàng thu nợ thứ nhất không thực hiện được.
+ Cho vay không có tài sản đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc bảo lãnh của người thứ 3, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng như: làm

ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra nợ nần, có quan hệ lâu dài
với ngân hàng hoặc cho vay theo chỉ thị của Chính phủ.
1.3.3/ Một số cách phân loại khác.
+ Phân theo ngành kinh tế ( công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng )
+ Theo mục đích ( sản xuất, tiêu dùng ).
+ Theo đối tượng khách hàng ( doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
hợp tác xã nông nghiệp, cá nhân, hộ gia đình )
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong hoạt động
cho vay của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ
vốn song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế.
1.4/ Hình thức cho vay
1.4.1/ Cho vay trực tiếp
Đây là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng
không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi.
Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở

1.5/ Phương thức cho vay
1.5.1/ Cho vay từng lần ( cho vay theo món)
Phương thức này sử dụng tài khoản cho vay đơn giản, được thực hiện trên cở từng
phương án, từng thương vụ theo yêu cầu của mỗi bên vay, áp dụng cho các đơn vị tổ chức
kinh tế có đủ điều kiện vay vốn nhưng không đủ điều kiện để vay theo tài khoản luân
chuyển, hay doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn thường xuyên. Mỗi lần vay doanh
nghiệp phải làm đơn xin vay có giải trình cụ thể về mục đích vay vốn, số lượng cần vay, số
vốn doanh nghiệp có khả năng trả nợ vốn vay. Đây là phương thức cho vay áp dụng phổ
biến ở Việt Nam. Mỗi kế hoạch sản xuất quý, mỗi phương án, mỗi thương vụ, mỗi nhu cầu
vay vốn, đó là một món vay.
Trong cho vay từng lần thì vốn tín dụng chỉ tham gia vào một giai đoạn hay một quy
trình nhất định trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, chu kỳ luân chuyển vốn của đơn vị hoặc
tham gia vào toàn bộ quá trình đó nhưng không thường xuyên liên tục. Về phía ngân hàng
thì việc cho vay và thu nợ được xử lý theo từng món vay.
Nếu đến kỳ hạn trả nơ mà bên vay không có đủ tiền để trả thì họ cần phải làm đơn
xin gia hạn. Thời gian gia hạn sẽ vượt quá thời hạn trước cho vay trước đây hoặc không
vượt quá một chu kỳ sản xuất kinh doanh của đơn vị. Nếu không có lý do chính đáng thì
ngân hàng sẽ thực hiện chuyển nợ quá hạn và thông báo cho bên vay biết. Trường hợp cuối
cùng vì lý do đặc biệt mà bên vay không trả được nợ thì một mặt đơn vị vay vốn phải làm

đơn xin gia hạn và mặt khác ngân hàng gửi hồ sơ trình cấp trên xin được khoanh nợ. Sau
khi được Chính phủ cho phép khoanh nợ thì đơn vị vay vốn sẽ được tiếp tục vay vốn ngân
hàng. Nếu đến kỳ hạn trả nợ mà người đi vay không đủ tiền để trả thì ngân hàng sẽ thu lãi
trước còn bao nhiêu sẽ trừ vào nợ gốc hoặc thu tương ứng gốc và lãi.
Cho vay theo món rất thuận tiện cho khách hàng. Thủ tục vay chỉ cần thực hiện một
lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh
toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn. Nêú doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (
hàng hoá tồn đọng ) thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của
khoản vay không được quy định rõ ràng.
1.5.2/ Cho vay thấu chi

Các khoản cho vay như thế có thể ngắn hạn hoặc có thể kéo dài 3-4 năm, thậm chí đến 5
năm. Loại hình tín dụng này được áp dụng nhiều nhất khi khách hàng không chắc chắn về
thời gian của các luồng tiền mặt hay về quy mô chính xác của nhu cầu vay vốn trong tương
lai. Cho vay luân chuyển giúp khách hàng vay thêm tiền mặt trong lúc khó khăn khi mà
dân số bán hàng giảm và cho phép hoàn trả khi nguồn thu bằng tiền của khách hàng tăng
lên.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp
hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường
xuyên và đúng hạn với ngân hàng ( thường là khách hàng truyền thống ).
1.5.4/ Cho vay theo hạn mức
Đây là phương thức cho vay theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn
mức tín dụng, hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối các kỳ. Đó là số dư tối đa
tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp dựa trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh
doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng . Trong kỳ khách hàng có thể thực
hiện vay- trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt qúa hạn mức tín dụng. Mỗi lần khách
hàng vay chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã
mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ
của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng.
+ Trong ngắn hạn:
Han mức tín dụng ngắn hạn = Nhu cầu vốn lưu động kỳ kế hoạch – ( Nguồn kinh doanh
ngắn hạn + Nguồn vốn tự có + Nguồn vốn khác)
+ Trong trung, dài hạn:
Hạn mức tín dụng trung, dài hạn = Tổng dự toán chi phí – Nguồn vốn đầu tư tự có.
1.6/ Hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất

1.6.1/ Khái quát về hộ sản xuất
Trong điều kiện của nước ta hiện nay khi lực lượng sản xuất chưa phát triển cho phép
cho phép thu hút hết nguồn lực vào sản xuất tập trung một cách có hiệu quả, khi mà còn
đến 70% dân số sống bằng nghề nông, khi Nhà nước muốn khuyến khích phát triển các
ngành nghề truyền thống thì hôn sản xuất tồn tại là một tất yếu.

Đảng và Nhà nước. Các hộ sản xuất loại này có nhu cầu tăng vốn để mở rộng đầu tư, nâng
cao mức sống. Đây là khách hàng quan trọng và ngân hàng phải khai thác.
+ Hộ nghèo : là những hộ sản xuất không có khả năng sản xuất sản phẩm để phục vụ cho
chính nhu cầu của cá nhân và gia đình họ. Có thể chia hộ nghèo thành hai loại dựa vào
các nguyên nhân:
- Những hộ có kinh nghiệm sản xuất nhưng thiếu vốn ngân hàng có thể hỗ trợ vốn để họ
tổ chức kinh doanh.
- Những hộ không có kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, ngân hàng không thể cho vay đối
với hộ này mà họ sẽ được hỗ trợ bởi các chính sách về xoá đói, giảm nghèo của Nhà nước.
1.6.1.4/ Vai trò của hộ sản xuất
Trong nền kinh tế như nước ta hiện nay, hộ sản xuất có vai trò hết sức quan trọng.
+ Hộ sản xuất là nơi tái tạo và nuôi dưỡng sức lao động-một nhân tố không thể thiếu đối
với quá trình sản xuất. Bởi trong mọi hoạt động, con người đều ở vị trí trung tâm chi phối
các nhân tố khác. Con người còn là tương lai của đất nước, là khâu then chốt trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
+ Hộ sản xuất, bằng quá trình sản xuất kinh doanh của mình đã cung cấp một khối lượng
lớn hàng hoá cho nền kinh tế, đóng góp một khối lượng vật chất đáng kể vào cho GDP
của xã hội.
+ Hộ sản xuất là đơn vị tiêu dùng hàng hoá dịch vụ, là một thị trường lớn của nền kinh tế,
giải quyết đầu ra cho quá trình sản xuất, làm cho quá trình tái sản xuất được thông suốt.
+ Hộ sản xuất là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trong điều kiện nước ta hiện
nay. Bởi vì, hộ sản xuất là cầu nối, là trung gian để chuyển từ kinh tế tự cung tự cấp sang
nền kinh tế hàng hoá, hộ cũng là nơi tích tụ vốn nhàn rỗi, tiếp nhận những khoa học công
nghệ mới trên cơ sở giữ gìn, phát huy những truyền thống lâu đời.
Chính bởi những vai trò đó, hộ sản xuất là một thành phần kinh tế không thể thiếu của
nền kinh tế nước ta, là khách hàng quan trọng đối với các ngân hàng thương mại,
1.6.1.5/ Nhu cầu vốn của hộ sản xuất

Hiện nay, khi Nhà nước giao quyền sử dụng tài nguyên, đất đai đến từng hộ sản xuất,
mỗi hộ trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ, phải tự tính toán mức độ đầu tư cho sản xuất,

- Giúp khai thác tốt mọi lao động dư thừa đặc biệt những khi nông nhàn góp phần tạo
việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người nông dân.
+ Góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất của các hộ và cơ cấu kinh tế của vùng theo
hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ theo đúng
hướng của nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.6.2.2/ Xét về phía ngân hàng
Không chỉ có vai trò đặc biệt to lớn đối với hộ sản xuất mà hoạt động cho vay đối
với hộ sản xuất còn có vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngân hàng.
+ Cho vay đối với họ sản xuất đã tạo ra một nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng.
Cho vay đối với hộ sản xuất là một trong những hoạt động mang lại thu nhập lớn cho ngân
hàng đăck biệt là đối với ngân hàng nông nghiệp. Thường thì hoạt động cho vay đối với
hộ sản xuất mang lại 80% thu nhập của ngân hàng No&PTNT, mà đặc biệt là tại các tỉnh,
huyện nông nghiệp như huyện Tiên Lãng.
+ Cho vay đối với hộ sản xuất còn giúp ngân hàng mở rộng thì trường cung ứng sản
phẩm giúp ngân hàng nâng cao thi phần của mình, tạo nên một thị trường cung ứng sản
phẩm trên diện rộng nhằm hạn chế rủi ro.
+ Cho vay đối với hộ sản xuất là công cụ để ngân hàng thể hiện các nghĩa vụ đối với
chính sách của Nhà nước như chính sách cho vay nhằm xoá đói giảm nghèo. Mặt khác,
cho vay đối với hộ sản xuất cũng làm hiện tượng cho vay nặng lãi ở nông thôn làm ảnh
hưởng đến uy tín của hoạt động tín dụng.
1.6.3/ Đặc điểm của hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất
Cho vay đối với hộ sản xuất cũng mang đầy đủ những đặc điểm chung của hoạt động
cho vay. Tuy nhiên, do đặc trưng riêng của hộ sản xuất nên cho vay đối với hộ sản xuất
cũng có một số đặc điểm riêng. Đó là:
+ Mức tiền vốn cho vay đối với hộ sản xuất thường không quá lớn
+ Thời hạn cho vay đối với hộ sản xuất chủ yếu là ngắn hạn
+ Cho vay đối với hộ sản xuất thường là rủi ro rất cao, do hộ sản xuất là đơn vị kinh tế
tự chủ về tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó tự chịu trách nhiệm về hiệu
quả kinh doanh. Đặc biệt là đối với hộ nông dân, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời
tiết, giá cả Nếu mất mùa họ không có khả năng trả nợ, do đó thu nhập của ngân hàng

Hiệu quả là một chỉ tiêu tổng hợp dựa trên sự so sánh giữa hiệu quả đạt được với
nguồn lực bỏ ra. Mặt khác, hiệu quả còn thể hiện trên sự so sánh chất lượng sản phẩm với
đối thủ cạnh tranh.
Hiệu quả hoạt động cho vay là những thành tựu của hoạt động cho vay đã đạt được
thể hiện ở sự phát triêbr ổn định và bền vững của nền kinh tế quốc dân, của ngân hàng và

của khách hàng. Để đạt được hiệu quả ngân hàng phải cung cấp vốn một cách đầy đủ , kịp
thời, và khách hàng phải sử dụng vốn vay một cách hợp lý nhất nhằm tạo ra một số lượng
tài sản lớn hơn để trang trải chi phí tạo lợi nhuận và hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ cả gốc
và lãi.
Đề cập tới hiệu quả hoạt động cho vay, người ta xét trên ba khía cạnh:
+ Hiệu quả cho vay xét từ góc độ ngân hàng
Thể hiện trên phạm vi, mức độ, giới hạn cho vay phải phù hợp với khae năng cảu
chính ngân hàng theo hướng tích cực. Mặt khác, phải đảm bảo khả năng cạnh tranh và uy
tín của ngân hàng trên thị trường, đảm bảo thu nợ đầy đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn, hạn
chế ở mức thấp nhất khả năng rủi ro có thể xảy ra.
Hoạt động cho vay của ngân hàng phải đảm bảo được hai nguyên tắc: sinh lời và an
toàn.
+ Hiệu quả hoạt động cho vay xét từ góc độ khách hàng
Thể hiện ở chỗ vốn vay phải đáp ứng đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu với một mức lãi
suất hợp lý, thủ tục đơn giản, phù hợp với chu kỳ kinh doanh của mình nhằm dảm bảo cho
sản xuất và tái sản xuất mở rộng
+ Hiệu quả hoạt động cho vay xét từ góc độ nền kinh tế xã hội
Thể hiện ở sụ tăng trưởng, sự năng động của nền kinh tế thông qua việc sản phẩm
được tạo ra nhiều hơn với chất lượng cao, giá thành hạ, tạo thêm việc làm cho người lao
động, khai thác triệt để mọi khả năng tiềm tàng cuả nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn
nhàn rỗi trong nước, tranh thủ tốt được nguồn vốn đi vay để tạo thuận lợi cho nền kinh tế
phát triển.
1.7/ Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay
1.7.1/ Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản

Chỉ tiêu này = Tổng dư nợ cho vay có đảm bảo / Tổng dư nợ
Tỷ lệ này đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ
này càng cao càng tốt, nó đảm bảo khả năng thu hồi nợ vay của Ngân hàng trong trường
hợp có những biến động lớn của nền kinh tế hoặc những rủi ro bất khả kháng xảy ra đối
với khách hàng, dự án vốn dẫn đến người vay gặp khó khăn không có khả năng trả nợ.
Tỷ lệ này có tính chất đặc thù riêng ở Việt Nam nhất là trong thời điểm hiện nay
Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép các tổ chức tín dụng tự quyết định
và chịu trách nhiệm về việc cho vay không có bảo đảm của mình vì vậy nếu các khoản cho
vay có đảm bảo càng nhiều thì chất lượng và an toàn trong hoạt động tín dụng cuả Ngân
hàng càng cao.
1.7.4/ Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:

Tổng dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ vay
Nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng là hiện tượng đến thời hạn thanh toán khoản
nợ ( mặc dù phía ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp như giãn nợ, gia hạn nợ vay) nhưng
khách hàng vẫn không có khả năng thanh toán. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ quá
hạn trước hết là do kết quả sản xuất kinh doanh yếu kém của khách hàng làm thất thoát
vốn, doanh thu không đủ bù đắp chi phí hoặc do việc định kỳ hạn trả nợ vay chưa phù hợp
với chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Về cơ bản, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao loại trừ yếu tố bất khả kháng (thiên tai, dịch
bệnh dẫn đến khách hàng không có nguồn để trả nợ vay) chứng tỏ trong khâu thẩm định,
khâu cho vay của Ngân hàng “ có vấn đề” do buông lỏng quản lý hoặc là do trình độ
nghiệp vụ của cán bộ Ngân hàng còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ.
Chỉ tiêu này xét riêng cho đối tượng hộ sản xuất, được xác định như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn hộ sản xuất=Tổng dư nợ quá hạn hộ sản xuất/tổng dư nợ vay
1.7.5/ Mức lãi ròng
Mức lãi ròng cũng giống như mức lợi nhuận của doanh nghiệp, nó là mức chênh
lệch giữa lãi và chi phí của một ngân hàng. Mức lãi được tính bằng cách lấy thu nhập trừ

phải thiết lập mối quan hệ với hộ sản xuất thật tốt để có thể thu hút được số lượng khách
hàng tiền năng này.
1.7.8/Nhóm các chỉ tiêu khác
Bên cạnh những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả có thể tính toán như trên, còn có những
tiêu chí khác để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng không thể đo lường và tính toán cụ
thể:
- Chính sách quản trị điều hành đúng đắn, chiến lược phát triển phù hợp với thực tế
hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong từng giai đoạn.
- Hệ thống trang thiết bị, công nghệ hiện đại hỗ trợ cho công tác nghiệp vụ một cách
thuận lợi, hiệu quả.
- Đội ngũ cán bộ nghiệp vụ có trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp, đây là yếu tố
cuối cùng và quan trọng nhất trong mọi hoạt động của ngân hàng.
- Quy trình nghiệp vụ tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế, đảm bảo quản lý chặt
chẽ quá trình cấp tín dụng, vừa thuận tiện với khách hàng, vừa đảm bảo tín dụng cho ngân
hàng.
- Uy tín mà ngân hàng đã tạo dựng được trong nền kinh tế và các mối quan hệ với các
khách hàng truyền thống.

Ngoài ra còn có các chỉ tiêu thuộc về khách hàng, bao gồm các chỉ tiêu phản ánh tình
hình tài chính, khả năng trả nợ, các thành quả sản xuất kinh doanh mà khách hàng đạt
được sau khi được cung cấp tín dụng ngân hàng.
1.8/ Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất
của ngân hàng thương mại
1.8.1/ Các yếu tố thuộc về Ngân hàng:
Hiệu quả hoạt động cho vay phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế hoạt động của bản thân
các ngân hàng. Xây dựng một cơ chế hoạt động hợp lý nhịp nhàng với sự ăn khớp giữa các
phòng ban, sự chỉ đạo tốt của lãnh đạo sẽ tạo tính hiệu quả cho hoạt động ngân hàng nói
chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực cũng rất quan trọng. Sự hạn chế về năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của nhân viên ngân hàng sẽ kéo theo một loạt các

Môi trường tự nhiên là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của ngân hàng,
đặc biệt là những ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, xuất
nhập khẩu Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mặc dù điều kiện thời
tiết thuận lợi cho sản xuất nhưng lại hay xảy ra hiện tượng như hạn hán, lũ lụt gây thiệt
hại về người và tài sản. Do đó việc đầu tư của khách hàng nếu gặp rủi ro sẽ làm giảm hiệu
quả hoạt động tín dụng của ngân hàng.
1.8.4/ Môi trường pháp lý:
Môi trường pháp lý tạo hành lang, là cơ sở cho các thành phần kinh tế hoạt động
một cách hợp pháp và có hiệu quả. Hệ thống các quy phạm pháp luật chi phối các hoạt
động kinh tế, đưa các doanh nghiệp vào hoạt động theo khung pháp lý đã được quy định.
Vì vậy phải có sự đồng bộ, thống nhất giữa các bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật
nhằm tạo ra sự chặt chẽ và hiệu lực của pháp luật. Hiệu quả hoạt động tín dụng chịu tác
động lớn của môi trường pháp lý, một khi có môi trường pháp lý phù hợp sẽ nâng cao
hiệu quả hoạt động cho vay và ngược lại nếu môi trường pháp lý không phù hợp, thủ tục
rườm rà sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động cho vay. Hiện nay môi trường pháp lý cho ngành
ngân hàng còn nhiều bất cập đang được tranh cãi nhất là vấn đề sở hữu và xử lý tài sản thế
chấp. Chính những bất cập này là nguyên nhân chủ ý gây nên các khoản nợ khó đòi, tạo kẽ
hở cho khách hàng khi vay vốn, làm giảm hiệu quả hoạt động cho vay.
1.8.5/ Môi trường kinh tế :
Các thành phần kinh tế đều hoạt động và kinh doanh trong môi trường kinh tế, luôn
chịu sự chi phối của các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước và các quy luật trên thị
trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị Do vậy, việc tạo lập môi trường kinh tế

lành mạnh cho hoạt động của các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh của họ cũng như sự ổn định sẽ kiềm chế lạm phát là những yếu tố tích cực
cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng.


3. Chi nhánh quận Lê Chân
Số 331 Tô Hiệu- Hải Phòng
4. Chi nhánh quận Hồng Bàng
Số 88 Trần Quang Khải- Hải Phòng
5. Chi nhánh quận Kiến An
Số 95 Trần Thành Ngọ- Hải Phòng
6. Chi nhánh Huyện An Hải
Thị trấn An Dương- Hải Phòng
7. Chi nhánh Thuỷ Nguyên
Thị trấn Núi Đèo – Thuỷ Nguyên- Hải Phòng
8. Chi nhánh huyện Kiến Thuỵ
Thi trấn Núi Đối- Kiến Thuỵ – Hải Phòng
9. Chi nhánh huyện Tiên Lãng
Thị trấn Tiên Lãng – Hải Phòng
10. Chi nhánh huyện An Lão
Thị trấn An Lão- Hải Phòng
11. Chi nhánh huyện Vĩnh Bảo
Số 19 đường 20/8 thị trấn Vĩnh Bảo- Hải Phòng
12. Chi nhánh thị xã Đồ Sơn
Số 231 Lý Thánh Tông- Hải Phòng
13. Chi nhánh khu vực Cát Bà
Thị trấn Cát Bà - Hải Phòng
14. Chi nhánh khu vực Cát Hải
Thị trấn Cát Hải- Hải Phòng
15. Chi nhánh An Hưng
Km 14 + 500 đường Hải Phòng- Hà Nội
Thực hiện nghiệp vụ “ Đi vay để cho vay”, Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện
Tiên Lãng đã triển khai nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động nhân dân gửi tiền tiết

Trích đoạn Thực trạng cho vay hộ sản xuất của Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Với chính quyền địa phương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status