LUẬN VĂN: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại potx - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Giải pháp mở rộng hoạt động cho
vay của Ngân hàng Thương mạI

Lời mở đầu

Hệ thống các ngân hàng thương mại là một bộ phận của ngân hàng trung gian, chiếm

NHTM huy động tiền từ các cá nhân, các doanh nghiệp và các hình thức tín dụng
khác và đương nhiên ứng với mỗi loại tiền gửi do các ngân hàng phải chi trả cho một khoản
lãi nhất định. Để đảm bảo khả năng chi trả, ngân hàng sẽ phải sử dụng phần lớn khoản tiền
huy động đưa vào các hoạt động kinh doanh như cho vay, đầu tư … . Trong đó cho vay là
hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM tạo ra lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng. Sở dĩ
cho vay được coi là một trong những loại hình quan trọng nhất không thể thiếu được của các
ngân hàng bởi lẽ chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù đắp mọi chi phí mà các ngân
hàng phải bỏ ra như: Chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh, quản lý, thuế và
các chi phí rủi ro đầu tư…
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của tầng lớp dân cư các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế ngày càng lớn. Do vậy
lượng cho vay của các NHTM càng tăng và kèm theo nó thì các loại hình cho vay ngày càng
được mở rộng và phát triển hết sức đa dạng. ở các nước phát triển hàng đầu thế giới thì nhu
cầu vay dài hạn đã dần thay thế cho nhu cầu ngắn hạn. Trong khi đó thì ở các nước đang
phát triển, hầu hết cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỉ lệ lớn so với cho vay trung và dài hạn.
Điều đó cũng có lẽ bởi các nước này vẫn chưa tìm được biện pháp khắc phục, hạn chế sự
thiếu an toàn cho các khoản vay dài hạn. Họ e sợ cùng với nền kinh tế đất nước còn yếu
kém, lạc hậu mà rủi ro của các khoản vay dài hạn đó xảy ra đồng thời sẽ dấn đến sự sụp đổ,
nợ nần của các NHTM ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng kinh tế.
Nói đến cho vay tức là nói đến rủi ro cao. Đa phần rủi ro tín dụng xẩy ra đều bắt
nguồn từ những khoản cho vay của NHTM. Đối với những khoản cho vay càng lớn thì độ
rủi ro càng cao. Mỗi một khoản rủi ro lớn xẩy ra nó tác động mạnh mẽ đến hoạt động của

ngân hàng. Có thể nói nghiệp vụ cho vay là một nghiệp vụ phức tạp, độ an toàn thấp,rủi ro
cao nhưng lại là hoạt động không thể thiếu được, quyết định và ảnh hưởng rất lớn đến sự
tồn tại và phát triển của NHTM. Nó chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu tổng tài sản của ngân
hàng (trên , dưới 70%).

- Cho vay không có đảm bảo:
Là loại hình cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hay sự bảo lãnh của người
thứ ba mà việc cho vay được thực hiện chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng. Đối với
khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu
quả thì ngân hàng có thể tin tưởng sẵn sàng cấp tín dụng mà không cần một nguồn thu nợ
thứ hai bổ sung. Hình thức cho vay này sẽ đem lại rủi ro rất lớn cho ngân hàng nếu như có
sự nhầm lẫn, sơ ý trong việc đánh giá, phân tích, thẩm định hồ sơ khách hàng. - Cho vay có bảo đảm
Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung ứng nhưng phải đi kèm
theo tài sản thế chấp, cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng thực sự
thiếu tin tưởng đối với khách hàng nên sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có
thêm một nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất nếu như xảy ra một sự cố
nào đó trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.

3- Quy Trình cho vay.

3.1-Hợp đồng cho vay.
3.1.1-Khái niệm hợp đồng cho vay.
Hợp đồng cho vay là cơ sở pháp lý để xác lập mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng
và khác hàng đồng thời cũng là công cụ để quản lý tiền cho vay và những rủi ro có thể xẩy
ra.
Hợp đồng cho vay thường được viên cố vấn pháp lý của ngân hàng chuẩn bị và được
luật sư của người vay duyệt lại. Các điều khoản trong mỗi hợp đồng sẽ được điều chỉnh thay
đổi ứng với từng tình huống riêng biệt. Hợp đồng cho vay được coi như công cụ pháp lý
quản trị tín dụng. Do vậy, nếu cấu trúc của một hợp đồng cho vay vừa bao quát vừa, vừa chi
tiết và chặt chẽ sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ lợi ích cho chính ngân hàng. Tuy
cho ngân hàng về khách hàng cần vay vốn. Nếu như trong hợp đồng yêu cầu cung cấp một

khoản tín dụng tuần hoàn theo sau khoản vay định kỳ thì nhân viên yêu cầu người vay phải
cung cấp thêm thông tin trước mỗi lần xuất tiền để ngân hàng có thể xác định rằng những gì
đã trình bày có bảo đảm trước đây vẫn chính xác, không có dấu hiệu nào cho thấy là khách
hàng sẽ không trả được cho họ theo như thoả thuận.
- Mô tả vật thế chấp:
Các khoản vay ngân hàng có thể được đảm bảo hoặc không được đảm bảo. Nếu như
trong trường hợp khoản vay phải có bảo đảm thì hợp đồng phải mô tả chi tiết vật thế chấp
cũng như phải được xử lý như thế nào. Trong nhiều trường hợp thì vật thế chấp được coi
như phòng tuyến cuối cùng bảo vệ lợi ích của ngân hàng. Do vậy trong hợp đồng cần có
điều khoản minh bạch, rõ ràng khi nào, bằng cách nào ngân hàng có thể chấp hữu tài sản thế
chấp để thu hồi khoản vay nếu như khách hàng có nguy cơ không trả được và khi thẩm định
tài sản thế chấp cần chú ý quan tâm đến các đặc điểm sau:
+ Có tính thanh khoản tốt.
+ Không bị mất giá bởi bất cứ nguyên nhân nào.
+Có giá trị cao hơn giá trị khoản vay càng lớn càng tốt.
+ Có quyền sở hữu rõ ràng, hợp pháp.
+ Chưa bị đem sử dụng để đảm bảo cho một khoản vay khác.
- Các cam kết của người vay:
Phần này xác định những cam kết nào đó mà người vay phải thực hiện hoặc không
được thực hiện sau khi đã thoả thuận với ngân hàng. Đây là phần rất quan trọng của hợp
đồng cho vay. Số lượng và chi tiết của các điều cam kết nhiều hay ít tỷ lệ nghịch với sức
mạnh tài chính của người đi vay và chất lượng quản lý của họ. Xét về góc độ quản lý tín
dụng và rủi ro liên quan thì đây là phần tập trung thể hiện sự giám sát của ngân hàng đối với
người vay trong suốt quá trình khoản vay còn hiệu lực, đảm bảo được tính hiệu quả trong
việc sử dụng vốn vay cũng như trả nợ của khách hàng đồng thời căn cứ vào cam kết này

Nếu các địa chỉ nhất định không được đáp ứng thì toàn bộ khoản cho vay lập tức được coi là
đáo hạn. Việc này sẽ tiết kiệm ít phiền hà hơn là chờ cho đến khi mỗi khoản tích góp đáo
hạn mới áp dụng hành động pháp lý.

3.2- Lãi suất cho vay ở các Ngân hàng Thương mại.

3.2.1- Khái niệm lãi suất cho vay.

Lãi suất cho vay là tỉ lệ % giữa số tiền mà người đi vay phải trả thêm cho người cho
vay sau một thời hạn nhất định sử dụng số tiền vay đó. Lãi suất cho vay có thể được tính
theo tháng hoặc theo năm ( ở Việt Nam thường tính theo tháng còn hầu hết các nước khác
đều tính theo năm).
Lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi thông thường biến động cùng chiều: khi lãi suất
tiền gửi được nâng lên thì lãi suất cho vay nâng lên và ngược lại, làm sao dung hoà được hai
yêu cầu: nâng lãi suất huy động để thu hút được nguồn vốn và kiềm chế lạm phát. Hạ lãi
suất tiền gửi để hạ lãi suất cho vay, nâng đỡ sản suất.
Lãi suất cho vay trung bình phải cao hơn lãi suất huy động trung bình. Khoản chênh
lệch chính là “lãi gộp” của ngân hàng để bù đắp chi phí, thuế, phí dự trữ bắt buộc, đề phòng
rủi ro và có lãi. Có thế mới hạn chế được hiện tượng vay ồ ạt mang tính bao cấp do lãi suát
vay quá thấp, buộc người vay phải đảm bảo hài hoà 3 mặt lợi ích của người gửi, người vay
và bản thân ngân hàng.

3.2.2- Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất cho vay của Ngân hàng Thương mại.
Lãi suất cho vay được đàm phán giữa người vay và ngân hàng cho vay giữa các ngân
hàng khác nhau thì lãi suất cho vay cũng khác nhau. Chúng phản ánh cả dặc tính cá biệt của
khoản cho vay lẫn cung cầu về tín dụng trên thị trường tiênf tệ. Lãi suất cho vay chịu tác
động của nhiều yếu tồ. Nó thay đổi theo sự biến động cuă các yếu tố như: Lãi phải trả cho

a) Hướng dẫn khách hàng làm thủ tục xin vay vốn
Nếu lần đầu xin vay thì khách hàng phải cung cấp cho ngân hàng những tài liệu
chứng minh tính pháp lý của mình. Gửi đơn xin vay, trong đó điền đầy đủ những thông tin
cần thiết . Ngoài ra, người xin vay phải nộp kế hoạch sản xuất kinh doanh để xác định nhu
cầu, cung cấp cho ngân hàng những hợp đồng kinh tế liên quan đến việc thực hiện kế hoạch,
dự án để xác định tính khả thi của dự án. Nộp báo cáo tài chính kinh doanh hiện tại của
khách hàng, kèm theo những tài liệu chứng minh về đảm bảo an toàn tiền vay như : giấy tờ
sở hữu, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh.

b)Ngân hàng tiến hành thu thập thông tin
Căn cứ vào các tài liệu trên thì ngân hàng tiến hành kiểm tra về tính pháp lý của các
tài liệu, uy tín của khách hàng, khả năng sinh lời của dự án, quyền sở hữu tài sản để xem

khách hàng có đảm bảo đủ độ tin cậy hay không . Ngân hàng có thể kiểm tra thông qua các
cách sau:
+Phỏng vấn người xin vay:
Qua phỏng vấn người xin vay, nhân viên tín dụng sẽ biết được lý do vay, biết được
yêu cầu xin vay có đáp ứng được các đòi hỏi khác nhau do các chính sách cho vay của
ngaan hàng ấn định không. Qua phỏng vấn, nhân viên tín dụng có mmột ý niệm nào đó về
tính thật thà và khả năng của người vay và coa thể có ý kiến xem có cần thiết phải có vật thế
chấp hay không. Những thông tin về lịch sử và sự phát triển của ngành kinh doanh, bản chất
của các sản phẩm dịch vụ, nguồn nhiên liệu, thế cạnh tranh và các kế hoạch trong tương lai
có thể có được qua phỏng vấn.
+Kiểm tra qua sổ sách của ngân hàng
Một ngân hàng có thể lưu trữ tập trung của cả người ký thác và người vay, từ đó có
thể nhận được thông tin về tín dụng. Thậm chí, nếu người xin vay chưa từng là khách hàng
của ngân hàng, hồ sơ tập trung cũng có một số thông tin nào đó.

dõi hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Ngân hàng cần kiểm tra xem người vay
có sử dụng tiền đúng mục đích như đã cam kết hay không? kinh doanh có hiệu quả không?
Nếu có dấu hiệu của thua lỗ, khó có thể vớt vát được thì lập tức còn rút vốn về nhằm hạn
chế những tổn thất có thể xảy ra, và có những hình phạt thích đáng đối với những cá nhân vì
lợi ích của bản thân mà đang tâm lừa đảo chiếm đoạt. 4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại.
4.1 Nguồn vốn
Vốn kinh doanh của một ngân hàng thực chất là tiền gửi của người ký thác. Quy mô
nguồn vốn của một NHTM quyết định đến quy mô của khối lượng tín dụng mà ngân hàng
đó có thể phát ra, ảnh hưởng đến số lượng rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận. Một ngân
hàng có quy mô lớn có thể phát ra một khối lượng tín dụng lớn với kỳ hạn dài hơn nhưng đi
kèm theo đó là rủi ro cũng nhiều hơn.
Mục đích lớn nhất của ngân hàng là lợi nhuận. Do vậy, tất cả các ngân hàng đều xem
xét đến yếu tố quan trọng này,các chính sách tín dụng thường tìm cách nâng cao tỉ phần sinh
lợi của tài sản,đặc biệt là nâng cao khả năng cung cấp tín dụng. Các ngân hàng có nhu cầu

lớn hơn về lợi nhuận thường áp dụng chính sách cho vay năng động hơn so với các ngân
hàng không xem lợi nhuận là quan trọng nhất. Chẳng hạn như các ngân hàng này sẽ cho vay
vốn với khối lượng lớn hơn, mức lãi suất cao hơn so với cho vay ngắn hạn mặc dù biết là
mình có nguy cơ gặp phải rủi ro nhiều hơn.

4.2 Tính ổn định của các khoản ký thác
Ngân hàng luôn xem xét sự biến động của các khoản ký thác khi quyết định chính
sách cho vay. Khi các khoản ký thác ổn định ngân hàng có thể hoạch định chính sách tín
dụng mà ở đó quy mô thơì hạn tín dụng được ổn định, tỉ phần sinh lợi của tài sản co cũng có

chuyên môn, khả năng quản lý của nhân viên mà các NHTM mở rộng tín dụng vào những
phạm vi mà nhân viên của mình có thể quản lý được. Bởi lẽ, cho vay luôn đi liền với những
rủi ro nếu như các nhân viên không đủ trình độ, khả năng đánh giá sự trung thực của các hồ
sơ khách hàng, tính khả thi của các dự án xin vay thi sẽ đem lại rủi ro rất lớn cho hoạt động
của ngân hàng.

4.6 Nhu cầu của khu vực phục vụ
Các ngân hàng muốn đực cấp giáy phép hoạt động thì cần phải đáp ứng phục vụ
được nhu cầu tín dụng của cộng đồng. Tại khu vực mà nền kinh tế chủ yếu là trồng trọt,
chăn nuôi thì đương nhiên ngân hàng không thể từ chối những khoản xin vay như vậy mà
trái lại phải điều chỉnh hoạt động, đIều chỉnh các chính sách để đáp ứng được nhu cầu hoạt
động của khu vực kinh tế này. Do vậy, trong mỗi một môi trường sông khác nhau, các ngân
hàng luôn phải cố gắng tìm hiểu nhu cầu, điều kiện sống của dân chúng và nền kinh tế của
địa phương mà có chính sách phục vụ cho phù hợp. Có như vậy thì ngân hàng mới có thể
tồn tại và phát triển được.

4.7 Rủi ro và khả năng sinh lợi của các khoản cho vay khác nhau
Thông thường một khoản tín dụng có khả năng cho vay sinh lợi cao thì độ rủi ro
cũng cao và ngược lại. Chẳng hạn như đối với những khoản cho vay dài hạn, với một khối
lượng tiền lớn, đi kèm theo một độ rủi ro cao do vậy các ngân hàng thương mại thường đặt
ra một mức lãi suất cho vay cao đối với các khoản vay dài hạn. Hay cho vay nông nghiệp
cũng là hình thức cho vay gặp rủi ro rất lớn. Rủi ro xảy ra cho nông nghiệp thường không

dự tính trước được bởi lẽ nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào thời tiết và khí hậu. Thiên tai
dịch bệnh bất ngờ xảy ra có thể mất trắng toàn bộ….
Trong hoạt động cho vay thường gặp rủi ro thông tin không cân xứng. Thông thường
các ngân hàng muốn có những thông tin về khách hàng của mình nhưng những thông tin


5.1.1 Sàng lọc
Bởi lẽ ngân hàng luôn phải đối đầu với những thông tin bất đối xứng, do vậy ngân
hàng phải tiến hành sàng lọc những khách hàng có nhu cầu vay vốn để cho ra những khách
hàng có đủ độ tin cậy để cho vay. Để sàng lọc thì ngân hàng phải tổ chức, thu thập nắm giữ
những thông tin từ tất cả các khách hàng có nhu cầu vay vốn ( tài sản thế chấp, cầm cố,
thuyết trình tỷ lệ nợ của khách hàng, bản báo cáo tài chính…). Sau đó ngân hàng tiến hành
sàng lọc bằng cách phân tích, thẩm định đánh giá độ chính xác của các hồ sơ. Đối với những
hồ sơ thoả mãn tiêu chuẩn của ngân hàng thì người có trách nhiệm đối với khoản tín dụng sẽ
ký quyết định cho khách hàng vay và vay bao nhiêu.

5.1.2 Giám sát
Chỉ sàng lọc không thôi cũng chưa đảm bảo rằng ngân hàng sẽ không gặp phải một
rủi ro nào khác nữa sau khi tiền được xuất ra khỏi ngân hàng, bởi lẽ ngân hàng còn gặp phải
rủi ro về đạo đức. Để giảm bớt những rủi ro về đạo đức, các ngân hàng phải viết ra những
điều khoản cam kết trong các hợp đồng cho vay để nhằm hạn chế người vay không được
thực hiện những hoạt động làm phát sinh rủi ro cho ngân hàng. Ngân hàng tiến hành kiểm
tra, phân tích, theo dõi khách hàng trước và sau khi cho vay, kiểm tra xem liệu người vay có
thi hành đúng những quy định trong hợp đồng không và sẽ có những biện pháp cưỡng chế
đối với cá nhân vì lợi ích bản thân mà cố tình vi phạm cam kết.

5.2- Thế chấp tài sản và số chi bù
Vật thế chấp là vật sở hữu được hứa cho người cho vay nếu người vay vỡ nợ, làm
giảm bớt hậu quả của lựa chọn đối nghịch bởi vì nó giảm các tổn thất của người cho vay
trong trường hợp xẩy ra vỡ nợ. Sự bắt buộc về vật chất tài sản đối với khoản tiền vay là một
trong những công cụ quan trọng để hạn chế rủi ro. Nếu người vay vỡ nợ, không đủ khả năng
để hoàn trả lại ngân hàng thì ngân hàng có thể bán tài sản thế chấp và dùng tiền thu được để

chắc như thế nào, vào lúc nào trong năm người đó rất cần tiền mặt, ai đã cung cấp tiền vay
cho khách hàng này và những ghi chép khác liên quan đến khách hàng.
Mặt khác do người vay này trước đây đã vay tiền ở ngân hàng cho nên ngân hàng đã
có sẵn phương thức giám sát khách hàng. Do vậy mà chi phí sẽ giảm thấp hơn so với những
khách hàng mới. Đồng thời quan hệ lâu dài này cũng mang lại lợi ích cho cả hai bên khách
hàng lẫn ngân hàng. Đối với khách hàng thì do quan hệ cũ nên dễ được vay ở lãi suất thấp,
thời gian quy định cho vay nhanh hơn. Còn đối với ngân hàng thì có thêm một lợi ích nữa là
việc khách hàng biết rằng với quan hệ lâu dài thì có thể được giảm lãi suất . Do đó anh ta sẽ
cố gắng giảm thiểu những rủi ro của mình để gây được niềm tin trong ngân hàng. Nhờ vậy
mà ngân hàng có thể đối phó được với những rủi ro đạo đức bất ngờ xảy ra ngay cả khi ngân
hàng cũng không lường trước được lúc ban đầu.
Các ngân hàng cũng xây dựng mối quan hệ lâu dài và tập hợp thông tin bằng cách
đưa ra một mức tín dụng cho khách hàng Thương mại. NHTM cam kết (trong một khoảng
thời gian nhất định) cung cấp cho khách hàng các món vay tới một mức nhất định với một
lãi suất gắn với một lãi suất thị trường nào đó. Lợi ích của việc này đối với ngân hàng là ở
chỗ hạn mức tín dụng sẽ đưa đến một mối quan hệ lâu dài và tạo điều kiện dễ dàng cho việc
tập hợp thông tin. Thoả ước tín dụng là phương pháp hữu hiệu để giảm chi phí cho việc
sàng lọc và tập hợp thông tin.


Diễn biến thị phần cho vay của các khối ngân hàng trên
địa bàn TP HCM. Khối ngân hàng 12/ 96 12/ 97 12/ 98 12/ 99 12/ 00
NHTMQD 39,6 37,9 46,2 45,9 49,3
NHTM ngoàiQD

Trong đó:
NHTM CP
NHNg & NHLD
60,434,4
26,0
62,128,6
33,5
53,824,4
29,4

NHNg & NHLD
63,219,4
43,7
67,017,0
50.0
65,817,1
48,6
68,015,3
52,7

Chú thích: Ngân hàng thương mại cổ phần:NHTHCP
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: NHNg
Ngân hàng liên doanh: NHLD

NHTMQD mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn bị NHTM ngoài QD chén ép, chưa giành
giật được ưu thế cạnh tranh về phía mình. ở TP HCM năm 2000, các NHTMQD đã vươn lên
xấp xỉ gần 50% thị phần cho vay. Trong khi đó ở TP Hà Nội, 4 năm liên tiếp chưa lần nào
vượt quá 40%.

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong những NHTM lớn hiện nay. Ta đi xem xét
tình hình cho vay của ngân hàng này trong những năm 1999 và 2001.
 Cho vay ngắn hạn
Năm 1999: đến hết ngày 31/12/1999, dư nợ cho vay của ngân hàng đạt 1106 tỷ đồng, tăng
27% so với cuối năm 1998 và chiếm 68% tổng dư nợ cho vay ( dư nợ cho vay tăng chủ yếu ở

phần cho vay bằng ngoạI tệ với dư nợ đạt 37 triệu USD, tăng 17 triệu USD so với cuối năm
1998).
Năm 2001:dến 31/12/2001, dư nợ cho vay của ngân hàng đạt 1513 tỷ Việt Nam đồng tăng
102 tỷ( 7,23%) so với cùng kỳ năm trước); trong đó dư nợ nội tệ là 1077 tỷ đồng tăng 328 tỷ
đồng(44%),dư nợ ngoạI tệ là 29 triệu USD, giảm 17 triệu USD. So với năm 2000, doanh số
cho vay năm 2001 tăng 14,6% đạt 3900 tỷ đồng, doanh số thu nợ tăng 15,6% đạt 3717 tỷ
đồng.
 Cho vay trung dài hạn.
Năm 1999: dư nợ cho vay trung dài hạn tính đến 31/12/1999 chỉ bằng 41% năm
1998.
Năm 2001: dư nợ cho vay trung dàI hạn quy VND tạI thời đIúm 31/12/2000 chỉ có 767 tỷ
đồng. Sang năm 2001 số dư nợ tăng đều qua các tháng ,đến tháng 7 năm 2001 thì đạt 1000 tỷ
đồng và trong quý 3 dao động ở mức 1100 tỷ đồng và tăng mạnh trong quý 4 đạt 1596 tỷ
đồng vào ngày 31/12/2001.
 Nợ quá hạn.
Năm 1999: tổng số nợ quá hạn đến 31/12/1999 là 76569 triệu đồng, giảm 4,82% so
với năm trước và chiếm 4,69% tổng số dư nợ cho vay.
Tình hình xử lý: tổng nợ quá hạn, khó đòi đã thu được từ con nợ là 522.000 USD,
bán tàI sản thế chấp thu được 4 tỷ đồng.
Năm 2001: trong năm 2001 nợ quá hạn là 89.000 USD.
Giải quyết nợ tồn đọng: trong năm 2001 đã thu hồi được 71 tỷ đồng và 415.000USD

xã hội của mình, gián tiếp làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng,
nhiều ngàng nghề sản xuát được củng cố, ổn định, được cải tạo và phát triển, làm tăng GDP
trong nền kinh tế, mức sống của dân cư được cải thiện rõ rệt.
Chính quá trình phân phối lại vốn tiền tệ của Ngân hàng Thương mại thông qua hoạt
động cho vay đã góp phần bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận trong toàn bộ nền kinh tế, tạo nên
sự chuyển dịch vốn từ ngành có lợi nhuận thấp sang nghành có lợi nhuận cao.
Do tính chuyên môn hoá trong kinh doanh, hoạt động cho vay của NHTM đã phát huy
được vai trò quan trọng của mình đối với lĩnh vực sản xuất lưu thông hàng hoá, trong việc
đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng quá trình tái sản xuất, được sử dụng như một
công cụ tài trợ cho những ngành kinh tế kém phát triển, và các ngành kinh tế mũi nhọn theo
yêu cầu phát triển kinh tế của Nhà Nước. Đối với lưu thông tiền, thông qua hoạt động cho

vay của hệ thống NHTM,Ngân hàng Nhà Nước sẽ kiểm soát được lượng tiền cung ứng bằng
việc thực thi các công cụ của chín sách tiền tệ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn,
hạn mức tín dụng…Những công cụ này tác động trực tiếp đến hoạt động tín dụng của
NHTM làm ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng cho lưu thông.

2.2 Hạn chế
Mặc dù có nhiều mặt tích cực nhưng bản thân ngân hàng vẫn còn tốn tại nhiều hạn
chế làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động cho vay đối với nền kinh tế.
Thứ nhất: Giữa cung và cầu vẫn chưa có sự ăn khớp. Sau khi luật doanh nghiệp ra
đời, thực sự có hiệu lực thì hàng nghìn doanh nghiệp được thành lập, hoạt động với quy mô
vừa và nhỏ. Do mới đựoc thành lập nên các doanh nghiệp luôn ở trong trình trạng thiếu vốn
cho sản xuất kinh doanh nhưng họ không được vay vốn từ các ngân hàng. Bởi lẽ họ chưa
thể khẳng định uy tín, tín nhiệm của mình đối với ngân hàng trong quan hệ tín dụng vay vốn
nên không được ngân hàng cho vay mà không có tàI sản bảo đảm, nhưng họ cũng chưa có
đủ tài sản để đảm bảo làm vật thế chấp cho Ngân hàng. Không chỉ các doanh nghiệp mà các

những khách hàng đã quen biết, những khách hàng lâu năm thì được nhân viên phục vụ hết
sức nhiệt tình, chu đáo đến nơi đến chốn. Nhưng những khách hàng mới đến giao dịch tại
ngân hàng thì không được quan tâm là mấy, nhiều khi khách hàng mới phải chờ đợi cho đến
khi giải quyết hết lượt cho khách hàng quen biết và khách hàng lâu năm, khách hàng ưu tiên
rồi mới đến lượt mình. Điều đó gây ra tâm lý bực tức vì mất công bằng giữa khách hàng.
Đây được coi là một trong nhưng lý do gây mất khách hàng của nhiều NHTM.
Thứ năm: Các hình thức cho vay còn đơn điệu, kém linh hoạt, chưa tạo ra đươc sự
phong phú về chủng loại. Trong khi đó thị trường mỗi lúc một thay đổi, nhu cầu của người
vay vốn càng tăng, các NHTM còn chưa thực sự năng động, linh hoạt với những thay đổi đó
nên đã làm giảm khả năng vay vốn của khách hàng.
Thứ sáu: Nợ quá hạn còn nhiều mà vẫn chưa thực sự có những biện pháp đẻ xử lý
cho có kết quả. Tài sản thế chấp là một công cụ để đảm bảo thu hồi nợ vay khi khách hàng
thực sự không có khả năng trả nợ. Tuy nhiên khả năng thu nợ bằng tiền thực sự từ phát mại
tài sản thế chấp lại là vấn đề hết sức khó khăn.
Trước những hạn chế của các NHTM, ta có thể xem xét một số nguyên nhân sau:
- Các nhân viên tín dụng không dám mạo hiểm khẳng định các dự án xin vay vốn là có khả
thi, mà cho phép các doanh nghiệp vay vốn không có tài sản đảm bảo. Bởi lẽ chỉ một thiếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status