LUẬN VĂN Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại - Pdf 18


LUẬN VĂN:

Giải pháp mở rộng hoạt động cho
vay của Ngân hàng Thương mạI
Lời mở đầu

Hệ thống các ngân hàng thương mại là một bộ phận của ngân hàng trung gian, chiếm
một vị trí quan trọng nhất về qui mô tài sản và về thành phần các nghiệp vụ. Bởi lẽ nằm
trong hệ thống ngân hàng trung gian cho nên Ngân hàng Thương mại cũng có hoạt động thu

huy động đưa vào các hoạt động kinh doanh như cho vay, đầu tư … . Trong đó cho vay là
hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM tạo ra lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng. Sở dĩ
cho vay được coi là một trong những loại hình quan trọng nhất không thể thiếu được của các
ngân hàng bởi lẽ chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù đắp mọi chi phí mà các ngân
hàng phải bỏ ra như: Chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh, quản lý, thuế và
các chi phí rủi ro đầu tư…
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của tầng lớp dân cư các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế ngày càng lớn. Do vậy
lượng cho vay của các NHTM càng tăng và kèm theo nó thì các loại hình cho vay ngày càng
được mở rộng và phát triển hết sức đa dạng. ở các nước phát triển hàng đầu thế giới thì nhu
cầu vay dài hạn đã dần thay thế cho nhu cầu ngắn hạn. Trong khi đó thì ở các nước đang
phát triển, hầu hết cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỉ lệ lớn so với cho vay trung và dài hạn.
Điều đó cũng có lẽ bởi các nước này vẫn chưa tìm được biện pháp khắc phục, hạn chế sự
thiếu an toàn cho các khoản vay dài hạn. Họ e sợ cùng với nền kinh tế đất nước còn yếu
kém, lạc hậu mà rủi ro của các khoản vay dài hạn đó xảy ra đồng thời sẽ dấn đến sự sụp đổ,
nợ nần của các NHTM ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng kinh tế.
Nói đến cho vay tức là nói đến rủi ro cao. Đa phần rủi ro tín dụng xẩy ra đều bắt
nguồn từ những khoản cho vay của NHTM. Đối với những khoản cho vay càng lớn thì độ
rủi ro càng cao. Mỗi một khoản rủi ro lớn xẩy ra nó tác động mạnh mẽ đến hoạt động của
ngân hàng. Có thể nói nghiệp vụ cho vay là một nghiệp vụ phức tạp, độ an toàn thấp,rủi ro
cao nhưng lại là hoạt động không thể thiếu được, quyết định và ảnh hưởng rất lớn đến sự
tồn tại và phát triển của NHTM. Nó chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu tổng tài sản của ngân
hàng (trên , dưới 70%).

2. Phân loại Ngân hàng cho vay

Nghiệp vụ cho vay có rất nhiều căn cứ để phân loại, như: Căn cứ vào mục đích, căn

thứ hai bổ sung. Hình thức cho vay này sẽ đem lại rủi ro rất lớn cho ngân hàng nếu như có
sự nhầm lẫn, sơ ý trong việc đánh giá, phân tích, thẩm định hồ sơ khách hàng. - Cho vay có bảo đảm
Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung ứng nhưng phải đi kèm
theo tài sản thế chấp, cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng thực sự
thiếu tin tưởng đối với khách hàng nên sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có
thêm một nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất nếu như xảy ra một sự cố
nào đó trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.

3- Quy Trình cho vay.

3.1-Hợp đồng cho vay.
3.1.1-Khái niệm hợp đồng cho vay.
Hợp đồng cho vay là cơ sở pháp lý để xác lập mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng
và khác hàng đồng thời cũng là công cụ để quản lý tiền cho vay và những rủi ro có thể xẩy
ra.
Hợp đồng cho vay thường được viên cố vấn pháp lý của ngân hàng chuẩn bị và được
luật sư của người vay duyệt lại. Các điều khoản trong mỗi hợp đồng sẽ được điều chỉnh thay
đổi ứng với từng tình huống riêng biệt. Hợp đồng cho vay được coi như công cụ pháp lý
quản trị tín dụng. Do vậy, nếu cấu trúc của một hợp đồng cho vay vừa bao quát vừa, vừa chi
tiết và chặt chẽ sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ lợi ích cho chính ngân hàng. Tuy
nhiên trên thực tế, trong hầu hết hợp đồng cho vay hiện nay thiếu những nội dung mà cho
phép ngân hàng giám sát các khoán cho vay tốt hơn, để kịp thời ra tay thực hiện những biện
pháp cần thiết cứu nguy cho các khoản vay có dấu hiệu cảnh báo có thể đưa đến chỗ rủi ro.


đã trình bày có bảo đảm trước đây vẫn chính xác, không có dấu hiệu nào cho thấy là khách
hàng sẽ không trả được cho họ theo như thoả thuận.
- Mô tả vật thế chấp:
Các khoản vay ngân hàng có thể được đảm bảo hoặc không được đảm bảo. Nếu như
trong trường hợp khoản vay phải có bảo đảm thì hợp đồng phải mô tả chi tiết vật thế chấp
cũng như phải được xử lý như thế nào. Trong nhiều trường hợp thì vật thế chấp được coi
như phòng tuyến cuối cùng bảo vệ lợi ích của ngân hàng. Do vậy trong hợp đồng cần có
điều khoản minh bạch, rõ ràng khi nào, bằng cách nào ngân hàng có thể chấp hữu tài sản thế
chấp để thu hồi khoản vay nếu như khách hàng có nguy cơ không trả được và khi thẩm định
tài sản thế chấp cần chú ý quan tâm đến các đặc điểm sau:
+ Có tính thanh khoản tốt.
+ Không bị mất giá bởi bất cứ nguyên nhân nào.
+Có giá trị cao hơn giá trị khoản vay càng lớn càng tốt.
+ Có quyền sở hữu rõ ràng, hợp pháp.
+ Chưa bị đem sử dụng để đảm bảo cho một khoản vay khác.
- Các cam kết của người vay:
Phần này xác định những cam kết nào đó mà người vay phải thực hiện hoặc không
được thực hiện sau khi đã thoả thuận với ngân hàng. Đây là phần rất quan trọng của hợp
đồng cho vay. Số lượng và chi tiết của các điều cam kết nhiều hay ít tỷ lệ nghịch với sức
mạnh tài chính của người đi vay và chất lượng quản lý của họ. Xét về góc độ quản lý tín
dụng và rủi ro liên quan thì đây là phần tập trung thể hiện sự giám sát của ngân hàng đối với
người vay trong suốt quá trình khoản vay còn hiệu lực, đảm bảo được tính hiệu quả trong
việc sử dụng vốn vay cũng như trả nợ của khách hàng đồng thời căn cứ vào cam kết này
ngân hàng có thể can thiệp cần thiết khi một phần hay toàn bộ các thoả thuận không được
tôn trọng làm ảnh hưởng đến lợi ích của ngân hàng. Có hai loại cam kết.
*Cam kết thực hiện là những giao ước áp dụng đối với quản lý, yêu cầu người vay phải thực
hiện một số hành động nào đó, như: Cung cấp các báo cáo tài chính trong phạm vi 60 ngày
Lãi suất cho vay là tỉ lệ % giữa số tiền mà người đi vay phải trả thêm cho người cho
vay sau một thời hạn nhất định sử dụng số tiền vay đó. Lãi suất cho vay có thể được tính
theo tháng hoặc theo năm ( ở Việt Nam thường tính theo tháng còn hầu hết các nước khác
đều tính theo năm).
Lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi thông thường biến động cùng chiều: khi lãi suất
tiền gửi được nâng lên thì lãi suất cho vay nâng lên và ngược lại, làm sao dung hoà được hai
yêu cầu: nâng lãi suất huy động để thu hút được nguồn vốn và kiềm chế lạm phát. Hạ lãi
suất tiền gửi để hạ lãi suất cho vay, nâng đỡ sản suất.
Lãi suất cho vay trung bình phải cao hơn lãi suất huy động trung bình. Khoản chênh
lệch chính là “lãi gộp” của ngân hàng để bù đắp chi phí, thuế, phí dự trữ bắt buộc, đề phòng
rủi ro và có lãi. Có thế mới hạn chế được hiện tượng vay ồ ạt mang tính bao cấp do lãi suát
vay quá thấp, buộc người vay phải đảm bảo hài hoà 3 mặt lợi ích của người gửi, người vay
và bản thân ngân hàng.

3.2.2- Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất cho vay của Ngân hàng Thương mại.
Lãi suất cho vay được đàm phán giữa người vay và ngân hàng cho vay giữa các ngân
hàng khác nhau thì lãi suất cho vay cũng khác nhau. Chúng phản ánh cả dặc tính cá biệt của
khoản cho vay lẫn cung cầu về tín dụng trên thị trường tiênf tệ. Lãi suất cho vay chịu tác
động của nhiều yếu tồ. Nó thay đổi theo sự biến động cuă các yếu tố như: Lãi phải trả cho
người gửi, chi phí ngân hàng, rủi ro tín dụng, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng số dư tiền
gửi của người vay và các chứng khoán ….Lãi suất cho vay luôn luôn phải lớn hơn lãi suất
tiền gửi, có như vậy mới bảo đảm được hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng, mới
bù đắp được những chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra trước đó. Hay cạnh tranh giữa các ngân
hàng, đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lãi suất. Để đảm bảo thu hút được khách
hàng về phía mình các ngân hàng luôn luôn phải cân nhắc, giảm lãi suất cho vay đến một
mức độ nhất định hòng giành khách hàng với các ngân hàng khác. Nói chung khả năng cho
vay của ngân hàng tuỳ thuộc vào mức dự trữ thặng dư trong hệ thống Ngân hàng. Nếu nhu
cầu về tín dụng ngân hàng tương đối ổn định, các khoản dự trữ thặng dư gia tăng, lãi suất

Căn cứ vào các tài liệu trên thì ngân hàng tiến hành kiểm tra về tính pháp lý của các
tài liệu, uy tín của khách hàng, khả năng sinh lời của dự án, quyền sở hữu tài sản để xem
khách hàng có đảm bảo đủ độ tin cậy hay không . Ngân hàng có thể kiểm tra thông qua các
cách sau:
+Phỏng vấn người xin vay:
Qua phỏng vấn người xin vay, nhân viên tín dụng sẽ biết được lý do vay, biết được
yêu cầu xin vay có đáp ứng được các đòi hỏi khác nhau do các chính sách cho vay của
ngaan hàng ấn định không. Qua phỏng vấn, nhân viên tín dụng có mmột ý niệm nào đó về
tính thật thà và khả năng của người vay và coa thể có ý kiến xem có cần thiết phải có vật thế
chấp hay không. Những thông tin về lịch sử và sự phát triển của ngành kinh doanh, bản chất
của các sản phẩm dịch vụ, nguồn nhiên liệu, thế cạnh tranh và các kế hoạch trong tương lai
có thể có được qua phỏng vấn.
+Kiểm tra qua sổ sách của ngân hàng
Một ngân hàng có thể lưu trữ tập trung của cả người ký thác và người vay, từ đó có
thể nhận được thông tin về tín dụng. Thậm chí, nếu người xin vay chưa từng là khách hàng
của ngân hàng, hồ sơ tập trung cũng có một số thông tin nào đó.
+ Điều tra nơi hoạt động sản xuất kinh doanh của người vay
Người xin vay phải cho phép một nhân viên tín dụng đến tham quan nơi kinh doanh
của mình. Một nhân viên tín dụng có kinh nghiệm sẽ biết được một cách đáng kể về mức độ
phát triển hiện nay trong kinh doanh của người vay cũng như trình độ quản lý thông qua
tham quan các tiện nghi của nó.
+ ĐIều tra qua việc thẩm định các báo cáo tài chính
Việc đánh giá chính xác thông tin phản ánh trong những báo cáo tài chính là rất
quan trọng trong phân tích tín dụng. Ngân hàng dựa trên báo cáo tài chính để đánh giá các
khoản mục tài sản, tài sản và vốn tự có, đánh giá báo cáo lãi lỗ, những thay đổi tình hình tài
chính.
Nếu không chấp nhận thì gửi giấy báo từ chối trong vòng 10 ngày. Chấp nhận thì ra quyết

hàng có quy mô lớn có thể phát ra một khối lượng tín dụng lớn với kỳ hạn dài hơn nhưng đi
kèm theo đó là rủi ro cũng nhiều hơn.
Mục đích lớn nhất của ngân hàng là lợi nhuận. Do vậy, tất cả các ngân hàng đều xem
xét đến yếu tố quan trọng này,các chính sách tín dụng thường tìm cách nâng cao tỉ phần sinh
lợi của tài sản,đặc biệt là nâng cao khả năng cung cấp tín dụng. Các ngân hàng có nhu cầu
lớn hơn về lợi nhuận thường áp dụng chính sách cho vay năng động hơn so với các ngân
hàng không xem lợi nhuận là quan trọng nhất. Chẳng hạn như các ngân hàng này sẽ cho vay
vốn với khối lượng lớn hơn, mức lãi suất cao hơn so với cho vay ngắn hạn mặc dù biết là
mình có nguy cơ gặp phải rủi ro nhiều hơn.

4.2 Tính ổn định của các khoản ký thác
Ngân hàng luôn xem xét sự biến động của các khoản ký thác khi quyết định chính
sách cho vay. Khi các khoản ký thác ổn định ngân hàng có thể hoạch định chính sách tín
dụng mà ở đó quy mô thơì hạn tín dụng được ổn định, tỉ phần sinh lợi của tài sản co cũng có
thể được hoạch định cao hơn. Tuy nhiên nếu sự ký thác không ổn định thì buộc các ngân
hàng phải xem xét đến tính sử dụng của các khoản ký thác,luôn luôn phải dự trữ hiện kim và
dự trữ thứ cấp để đảm bảo thanh toán khi cần thiết.

4.3 Điều kiện kinh tế
Điều kiện kinh tế được coi là một yếu tố khách quan thể hiện sự tăng trưởng hay trì
trệ của nền kinh tế. Một nền kinh tế đang ở trong một hoàn cảnh ổn định thuận lợi , sức mua
cao, xuất khẩu dễ dàng cho phép các NHTM bành chướng tín dụng, thực hiện một chính
sách cho vay tự do. Ngược lại, với một nền kinh tế bị trì trệ lệ thuộc vào các biến động thời
vụ và chu kỳ thì tín dụng sẽ bị co hẹp lại. Các khoản ký thác trong nền kinh tế không ổn
định thường chao đảo , biến động mạnh so với các khoản ký thác trong một nền kinh tế ổn
định, điều kiện kinh tế có thể thể hiện qua toàn bộ hoạt động kinh tế cũng có thể thể hiện ở
các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế.

tồn tại và phát triển được.

4.7 Rủi ro và khả năng sinh lợi của các khoản cho vay khác nhau
Thông thường một khoản tín dụng có khả năng cho vay sinh lợi cao thì độ rủi ro
cũng cao và ngược lại. Chẳng hạn như đối với những khoản cho vay dài hạn, với một khối
lượng tiền lớn, đi kèm theo một độ rủi ro cao do vậy các ngân hàng thương mại thường đặt
ra một mức lãi suất cho vay cao đối với các khoản vay dài hạn. Hay cho vay nông nghiệp
cũng là hình thức cho vay gặp rủi ro rất lớn. Rủi ro xảy ra cho nông nghiệp thường không
dự tính trước được bởi lẽ nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào thời tiết và khí hậu. Thiên tai
dịch bệnh bất ngờ xảy ra có thể mất trắng toàn bộ….
Trong hoạt động cho vay thường gặp rủi ro thông tin không cân xứng. Thông thường
các ngân hàng muốn có những thông tin về khách hàng của mình nhưng những thông tin
này thường không đầy đủ và không chính xác
Có hai loại rủi ro thường gặp: Thứ nhất là rủi ro do lựa chọn sai đối nghịch tức là
chọn sai khách hàng cần cho vay, có độ rủi ro cao thường không thu hồi được vốn. Loại thứ
hai là rủi ro đạo đức: là rủi ro xảy cho những người có vốn cho vay do đạo đức của những
người vay vốn gây ra. Họ cố tình cung cấp những thông tin không chính xác, những thông
tin giả để thuyết phục những người có vốn cho vay và chiếm dụng luôn số vốn vay đó hoặc
sử dụng sai mục đích với những cam kết ban đầu nên không thu hồi được vốn để trả nợ cho
ngân hàng.
Rủi ro là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay của ngân hàng, đến sự tồn
tại, phát triển của ngân hàng. Do vậy, các ngân hàng thường xuyên phải tìm kiếm các giải
pháp để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động của rủi ro nhằm bảo đảm an toàn cho
các khoản vốn cho vay của mình.

5. Nguyên tắc quản lý tiền cho vay


thực hiện những hoạt động làm phát sinh rủi ro cho ngân hàng. Ngân hàng tiến hành kiểm
tra, phân tích, theo dõi khách hàng trước và sau khi cho vay, kiểm tra xem liệu người vay có
thi hành đúng những quy định trong hợp đồng không và sẽ có những biện pháp cưỡng chế
đối với cá nhân vì lợi ích bản thân mà cố tình vi phạm cam kết.

5.2- Thế chấp tài sản và số chi bù
Vật thế chấp là vật sở hữu được hứa cho người cho vay nếu người vay vỡ nợ, làm
giảm bớt hậu quả của lựa chọn đối nghịch bởi vì nó giảm các tổn thất của người cho vay
trong trường hợp xẩy ra vỡ nợ. Sự bắt buộc về vật chất tài sản đối với khoản tiền vay là một
trong những công cụ quan trọng để hạn chế rủi ro. Nếu người vay vỡ nợ, không đủ khả năng
để hoàn trả lại ngân hàng thì ngân hàng có thể bán tài sản thế chấp và dùng tiền thu được để
bù đắp lại những tổn thất của mình do món cho vay đó gây ra. Thông thường đảm bảo bằng
tài sản thế chầp thì mức cho vay của ngân hàng thấp hơn bởi tính lỏng của loại tài sản cố
định rất thấp. Họ chỉ xem xét cho vay 70% giá trị của tài sản thế chấp tại thời điểm cho vay.
Khi người vay nhận được tiền vay, NHTM yêu cầu người vay phải giữ một số tối
thiểu bắt buộc trong các tài khoản ở ngân hàng gọi là “số dư bù”. Đây là một dạng riêng của
vật thế chấp bắt buộc khi một ngân hàng cho vay thương mại. Nếu khách hàng không trả
được nợ thì Ngân hàng sẽ thu nợ từ “số dư bù”. Cho vay “số dư bù” thì người vay phải có
tài khoản tại ngân hàng cho vay. Do vậy có lợi cho ngân hàng là có thể giám sát được khách
hàng vay thông qua hoạt động tài khoản của họ. Bất kỳ thay đổi quan trọng nào trong các
thủ tục thanh toán của người vay đều là một tín hiệu báo cho Ngân hàng vay phải tiến hành
điều tra.

5.3- Hạn chế tín dụng
Đây là một phương pháp cũng giúp cho ngân hàng đối phó với lựa chọn đối nghịch
về rủi ro đạo đức. Hạn chế tín dụng có hai dạng: Dạng thứ nhất là ngân hàng hoàn toàn từ
chối một khoản cho vay nếu qua sàng lọc kiểm tra thấy độ rủi ro cao, khách hàng không

chỗ hạn mức tín dụng sẽ đưa đến một mối quan hệ lâu dài và tạo điều kiện dễ dàng cho việc
tập hợp thông tin. Thoả ước tín dụng là phương pháp hữu hiệu để giảm chi phí cho việc
sàng lọc và tập hợp thông tin. Chương hai

Thực trạng hoạt động cho vay
ở các ngân hàng thương mạI hiện nay

1-Thực trạng hoạt động cho vay ở các ngân hàng thương mại
Tham gia vào thị trường cho vay vốn, ngoài hệ thống các tổ chức tín dụng còn có hệ thống kho
bạc Nhà nước, Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển của các địa phương…
Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các tổ chức này đều có nguồn vôn cho vay từ nguồn Ngân sách
Nhà nước, có cơ chế riêng. Các tổ chức khác chiếm thị phần rất nhỏ bé. Do đó thị trường cho
vay chủ yếu vẫn là hoạt động của các tổ chức tín dụng, hệ thống ngân hàng. Đây là lực lượng
chủ lực trên thị trường vốn. Cho nên, hoạt động cho vay của các Ngân hàng Thương mạI hiện
nay thực sự có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế. Nhìn chung, tình hình cho vay của

28,6
33,5
53,8

24,4
29,4
54,1

22,5
31,6
50,7

23,3
27,4 Diễn biến thị phần cho vay của các khối Ngân hàng trên địa bàn TP Hà Nội

Khối ngân hàng 12/ 96 12/ 97 12/ 98 12/ 99
NHTMQD 36,8 33,0 34,2 32,0
NHTM ngoàiQD
Trong đó:
NHTM CP
NHNg & NHLD
63,2

19,4
43,7
67,0


Việc xây dựng lãi suất cho vay của từng ngân hàng phụ thuộc vào khả năng của mỗi ngân
hàng đó. Ngân hàng nhỏ tiềm lực không lớn nên khả năng cạnh tranh gặp nhiều khó khăn.
Đối với ngân hàng lớn khả năng cạnh tranh cao hơn. Do đó, rất dễ xẩy ra việc phân chia đối
tượng khách hàng, địa bàn hoạt động giữa các ngân hàng. Hiện nay, nhiều ngân hàng hạ lãi
suất cho vay trong nỗ lực cạnh tranh khách hàng. Ví dụ: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
đã chào lãi suất cho vay nhưng khách hàng uy tín chỉ từ 0,47% - 0,55%/tháng cho các khoản
vay dài hạn, từ 0,56% - 0,58%/tháng cho các khoản vay trung và dài hạn. Mức lãi suất này
ngang bằng với mức lãi suất cho vay ưu đãi của Chính phủ.
-Về tỷ lệ nợ quá hạn.
Năm 1998, tổng dư nợ của toàn bộ hệ thống NHTM lên tới con số 100.000 tỷ Việt Nam
đồng. Trong đó, nợ quá hạn chiếm khoảng 10% và tính riêng số nợ khó đòi khoảng gần 6,8%
so với tổng dư nợ. Xét 2 thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh ta có số liệu cụ thể sau:
+ TP HCM: nợ quá hạn cho vay của các NHTM trên địa bàn ở mức khá cao chiếm khoảng
gần 20% khoản dư nợ. Năm 1999, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ chờ xử lý/tổng dư nợ là 25,03%.
+ TP HN: Tỷ lệ nợ quá hạn của các NHTM chiếm 5% tổng dư nợ (30/9/1998) trong đó nợ
quá hạn khó đòi chiếm khoảng 50%.
Đây quả là vấn đề đáng báo động đối với các NHTM hiện nay.

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một trong những NHTM lớn hiện nay. Ta đi xem xét
tình hình cho vay của ngân hàng này trong những năm 1999 và 2001.
 Cho vay ngắn hạn
Năm 1999: đến hết ngày 31/12/1999, dư nợ cho vay của ngân hàng đạt 1106 tỷ đồng, tăng
27% so với cuối năm 1998 và chiếm 68% tổng dư nợ cho vay ( dư nợ cho vay tăng chủ yếu ở
phần cho vay bằng ngoạI tệ với dư nợ đạt 37 triệu USD, tăng 17 triệu USD so với cuối năm
1998).
Năm 2001:dến 31/12/2001, dư nợ cho vay của ngân hàng đạt 1513 tỷ Việt Nam đồng tăng
102 tỷ( 7,23%) so với cùng kỳ năm trước); trong đó dư nợ nội tệ là 1077 tỷ đồng tăng 328 tỷ

doanh của các cá nhân, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế ngày càng lớn. Vậy họ sẽ lấy vốn
ở đâu ra để thực hiện? Ngoài vốn tự có của bản thân, vay mượn của bạn bè, đóng góp của
các thành viên thì nhiều cá nhân doanh nghiệp đã đi từ các NHTM. Với tư cách là người cho
vay, các ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân
khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu
dùng. Các NHTM đã sử dụng nghiệp vụ cho vay kết hợp hài hoà với nghiệp vụ huy động
tiền gửi để tạo nên một dòng luân chuyển vốn từ những người tạm thời có vốn nhàn rỗi
trong xã hội đến những người có nhu cầu vay vốn. Doanh nghiệp cần vốn để khởi đầu, để
duy trì và mở mạng hoạt động. Tuy nhiên ngay trong bản thân các doanh nghiệp đã xảy ra
tình trạng mất cân bằng các luồng ngân quỹ, họ cần bỏ ra các khoản chi phí trước khi có thu
nhập tạo ra từ việc bán các sản phẩm và dịch vụ. Việc mua sắm các trang thiết bị phục vụ
sản xuất, thuê mướn nhân công, đào tạo nhân lực, phát triển địa điểm kinh doanh mới, tạo ra
các sản phẩm mới …sẽ không khả thi nếu không được sự hỗ trợ kịp thời của các khoản cho
vay kinh doanh. Hay những người nông dân nhỏ vay vốn để có khả năng mua hạt giống,
thức ăn, phân bón và nhiều nhu cầu cần thiết khác cho trồng trọt chăn nuôi, thu hoạch trên
đồng ruộng của mình. Bằng nghiệp vụ cho vay, các NHTM đã và đang thực hiện chức năng
xã hội của mình, gián tiếp làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng,
nhiều ngàng nghề sản xuát được củng cố, ổn định, được cải tạo và phát triển, làm tăng GDP
trong nền kinh tế, mức sống của dân cư được cải thiện rõ rệt.
Chính quá trình phân phối lại vốn tiền tệ của Ngân hàng Thương mại thông qua hoạt
động cho vay đã góp phần bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận trong toàn bộ nền kinh tế, tạo nên
sự chuyển dịch vốn từ ngành có lợi nhuận thấp sang nghành có lợi nhuận cao.
Do tính chuyên môn hoá trong kinh doanh, hoạt động cho vay của NHTM đã phát huy
được vai trò quan trọng của mình đối với lĩnh vực sản xuất lưu thông hàng hoá, trong việc
đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng quá trình tái sản xuất, được sử dụng như một
công cụ tài trợ cho những ngành kinh tế kém phát triển, và các ngành kinh tế mũi nhọn theo
yêu cầu phát triển kinh tế của Nhà Nước. Đối với lưu thông tiền, thông qua hoạt động cho
lãi suất cao của tư nhân nhưng không bị lỡ kế hoạch còn hơn là đến ngân hàng. Như vậy là
ngân hàng đã tự mình đánh mất khách hàng từ lúc nào.
Thứ ba: Thái độ của nhân viên ngân hàng. Các nhân viên ngân hàng được coi là bộ
mặt của ngân hàng. Quan hệ giữa nhân viên và khách hàng được thông qua sự giao dịch trực
tiếp giữa khách hàng và nhân viên ngân hàng. Nhưng hiện nay ở nhiều ngân hàng vẫn còn
tồn tại nhiều nhân viên có những thái độ bất lịch sự, tự tôn cá nhân mà hách dịch, cửa quyền
thiếu tôn trọng khách hàng. Chính những hành vi, thái độ vô văn hoá đó đã gây ra sự ác
cảm, khó chịu của khách hàng. Chẳng ai muốn trở lại cái Ngân hàng, nơi mà mình không
được coi trọng. Những hành động đáng lên án đó của một số nhân viên ngân hàng đã trực
tiếp làm ảnh hưởng đến uy tín của bản thân ngân hàng.
Thứ tư: Có sự phân biêt đối sử giữa các đối tượng khách hàng.
ở nhiều ngân hàng hiện nay có sự phân biệt giữa khách hàng quen và khách hàng lạ. Đối với
những khách hàng đã quen biết, những khách hàng lâu năm thì được nhân viên phục vụ hết
sức nhiệt tình, chu đáo đến nơi đến chốn. Nhưng những khách hàng mới đến giao dịch tại
ngân hàng thì không được quan tâm là mấy, nhiều khi khách hàng mới phải chờ đợi cho đến
khi giải quyết hết lượt cho khách hàng quen biết và khách hàng lâu năm, khách hàng ưu tiên
rồi mới đến lượt mình. Điều đó gây ra tâm lý bực tức vì mất công bằng giữa khách hàng.
Đây được coi là một trong nhưng lý do gây mất khách hàng của nhiều NHTM.
Thứ năm: Các hình thức cho vay còn đơn điệu, kém linh hoạt, chưa tạo ra đươc sự
phong phú về chủng loại. Trong khi đó thị trường mỗi lúc một thay đổi, nhu cầu của người
vay vốn càng tăng, các NHTM còn chưa thực sự năng động, linh hoạt với những thay đổi đó
nên đã làm giảm khả năng vay vốn của khách hàng.
Thứ sáu: Nợ quá hạn còn nhiều mà vẫn chưa thực sự có những biện pháp đẻ xử lý
cho có kết quả. Tài sản thế chấp là một công cụ để đảm bảo thu hồi nợ vay khi khách hàng
thực sự không có khả năng trả nợ. Tuy nhiên khả năng thu nợ bằng tiền thực sự từ phát mại
tài sản thế chấp lại là vấn đề hết sức khó khăn.
Trước những hạn chế của các NHTM, ta có thể xem xét một số nguyên nhân sau:
- Các nhân viên tín dụng không dám mạo hiểm khẳng định các dự án xin vay vốn là có khả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status