LUẬN VĂN:
Nguồn và biện pháp tiết kiệm vật tư trong
sản xuất ở các doanh nghiệp ngành thép
Lời nói đầu
Tiết kiệm là một nhân tố quan trọng làm tăng quy mô sản xuất kinh doanh, giảm
giá thành sản phẩm dịch vụ. Vì thế tiết kiệm đã trở thành quốc sách của nhiều nước trên
thế giới. Tiết kiệm phải được thực hành ở mọi khâu của nền kinh tế quốc dân. Trong các
khâu đó thì sản xuất là khâu quan trọng nhất vì sản xuất là nơi sử dụng các yếu tố của quá
trình sản xuất như nguyên, vật liệu, máy móc thiết bị và thời gian lao động của người lao
động. Đối với ngành thép, các doanh nghiệp đã đề ra các phương hướng và biện pháp tiết
Vật tư gồm nhiều thứ, nhiều loại, từ những thứ có tính năng kĩ thuật cao, đến
những thứ, những loại thông thường, từ những thứ có khối lượng và trọng lượng lớn đến
những thứ nhỏ nhẹ kích thước nhỏ bé, từ những thứ đắt tiền đến những thứ rẻ tiền ….Tất
cả chúng đều là sản phẩm của lao động dùng để sản xuất .Toàn bộ vật tư được phân theo
3 tiêu thức cơ bản .
2.1 Theo công dụng trong quá trình sản xuất .
Toàn bộ vật tư được phân làm 2 nhóm lớn :
Nhóm 1: là những loại vật tư dùng làm đối tượng lao động và những vật tư dùng làm tư
liệu lao động .Những vật tư thuộc nhóm thứ nhất có đặc điểm là trong quá trình sử dụng
chúng hoàn toàn dùng trong một lần và giá trị chuyển hết sang giá trị thành phẩm .
Nhóm 2 : sử dụng được nhiều lần và giá trị chuyển dần sang giá trị thành phẩm
Sự phân chia vật tư theo tiêu thức trên có ý nghĩa rất lớn và mặt lí luận và thực
tiễn. Thật vậy, đối với loại vật tư thuộc nhóm 1 vì tiêu dùng hoàn toàn 1 lần nên muốn
lập lại giá trị sản xuất với quy mô nhỏ như trước với những điều kiện khác không đổi thì
đòi hỏi doanh nghiệp phải bảo đảm thường xuyên liên tục và với một lượng vật tư như
trước. Còn đối với những loại vật tư thuộc nhóm 2 thì không nhất thiết phải như vậy,
thậm chí ngay cả trong trường hợp tăng quy mô sản xuất .
2.2 Theo tính chất sử dụng vật tư .
Toàn bộ vật tư chia thành vật tư thông dụng và vật tư chuyên dùng:
Vật tư thông dụng gồm những vật tư dùng phổ biến cho nhiều ngành.
Vật tư chuyên dùng là những loại vật tư dùng cho một ngành nào đó, thậm chí một
doanh nghiệp nào đó .
2.3 Theo tỉ lệ vật tư cấu thành trong sản phẩm .
Vật liệu chính: là vật tư cầu thành nên thực thể chủ yếu của sản phẩm.
Vật liệu phụ: là vật tư bổ trợ vào thực thể chủ yếu của sản phẩm.
3. Vai trò của vật tư trong sản xuất ở doanh nghiệp
Quá trình sản xuất là quá trình con người sử dụng tư liệu lao động để tác động đối
Tiết kiệm các yếu tố vật chất là một nhân tố quan trọng để giảm giá thành sản
phẩm, dịch vụ. Hiện nay trong nền kinh tế nước ta tiêu hao vật chất chiếm 51,69%;
doanh nghiệp nhà nước 61,34%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh 44,81%. Như vậy tiêu
hao các yếu tố vật chất lớn, tỉ lệ chất thải cao, gây ô nhiễm môi trường không nhỏ.Tiết
kiệm trong sản xuất kinh doanh góp phần khắc phục những khuyết tật đó. Với ý nghĩa
kinh tế quốc dân to lớn, tiết kiệm đã trở thành quốc sách của nhiều nước trên thế giới.
II. Nguồn và biện pháp tiết kiệm vật tư
1. Nguồn tiết kiệm vật tư .
Nói đến nguồn tiết kiệm vật tư là nói đến những hướng có thể thực hành tiết kiệm
hay nói một cách khác là chon ra những con đường nào, chỗ nào cần phải chú ý tiết kiệm.
Để tiết kiệm vật tư, doanh nghiệp có nguồn tiết kiệm về kỹ thuật, công nghệ của
sản xuất, nguồn tiết kiệm về tổ chức quản lí, kinh doanh và nguồn tiết kiệm về người trực
tiếp sử dụng nguyên, nhiên, vật liệu.
1.1 Nguồn tiết kiệm về kỹ thuật, công nghệ của sản xuất.
Doanh nghiệp có thể thực hành tiết kiệm ở khâu kỹ thuật công nghệ của sản xuất.
Quy trình công nghệ kỹ thuật sẽ ảnh hưởng tới tỷ lệ sản phẩm có đạt chất lượng sản
phẩm chính không? Vì thế cải tiến quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất hợp lý cũng góp
phần giảm các tổn thất trong quá trình sản xuất. Khi sử dụng nguyên nhiên vật liệu thay
thế các loại nguyên nhiên vật liệu rẻ tiền, doanh nghiệp chú ý các biện pháp kỹ thuật để
tăng cường chất lượng nguyên vật liệu, vừa đảm bảo yêu cầu của sản phẩm, vừa đảm bảo
chi phí trong giai đoạn dài hạn. Đồng thời, doanh nghiệp phải có kế hoạch phát triển kỹ
thuật mới và các biện pháp cải tiến về trang thiết bị máy móc. Để tiết kiệm vật tư, doanh
nghiệp cần phải nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, chuẩn bị những thiết
bị máy móc tốt nhất có thể có. Vì vậy doanh nghiệp phải chú ý tới khâu kỹ thuật công
nghệ của sản xuất vì đó là một trong những hướng để thực hành tiết kiệm.
1.2 Nguồn tiết kiệm về tổ chức quản lý kinh doanh.
Doanh nghiệp không những thực hành tiết kiệm ở khâu kỹ thuật, công nghệ sản
xuất mà còn có thể thực hành tiết kiệm về tổ chức quản lý kinh doanh. Vì nếu như biện
2.1 Về kĩ thuật công nghệ sản xuất .
Doanh nghiệp có thể áp dụng các biện pháp sau :
2.1.1. Giảm trọng lượng tinh của sản phẩm .
Trọng lượng tuyệt đối của sản phẩm là là phẩm đó cân nặng bao nhiêu kg, tạ, tấn,
…
Trọng lượng tương đối của sản phẩm là tỉ số trọng lượng tuyệt đối so với một đơn
vị công suất (hoặc công dụng chủ yếu của sản phẩm). Trên cơ sở công dụng của sản
phẩm, cần phải cải tiến thiết kế sản phẩm sử dụng các loại vật liệu thay thế có độ bền tốt
hơn để giảm trọng lượng tương đối của sản phẩm. Như vậy, với khối lượng ( trọng lượng
) nguyên, nhiên vật liệu như cũ có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn .
2.1.2. Giảm phế liệu, phế phẩm và các tổn thất trong quá trình sản xuất .
Phế liệu là những thứ phát sinh trong qúa trình sản xuất. Phế liệu có 2 loại: Loại sử dụng
lại được trong quá trình sản xuất sản phẩm đó và loại phế liệu không sử dụng lại được.
Để giảm bớt phế liệu cần phải cải tiến các công cụ lao động, đặc biệt chú ý các công cụ
chuyên dùng, cải tiến quy trình công nghệ và sử dụng tối đa loại phế liệu có thể sử dụng
lại được trong quá trình sản xuất .
Phế phẩm là những sản phẩm không đạt chất lượng sản phẩm chính. Tỉ lệ phế phẩm cao
hay thấp liên quan đến quy trình công nghệ, đến chất lượng nguyên nhiên vật liệu, đến
công nghệ sản xuất, đến tay nghề của công nhân và cả những điều kiện khác như điều
kiện làm việc, cung cấp các yếu tố của sản xuất, điều kiện thời tiết, khí hậu của nơi sản
xuất .
Cải tiến quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất hợp lí cũng góp phần giảm các tổn
thất trong quá trình sản xuất. Các tổn thất trong quá trình sản xuất bao gồm nhiều khâu,
từ khâu thiết kế sản phẩm đến giai đoạn hoàn chỉnh sản phẩm. Mỗi loại sản phẩm có
những tổn thất khác nhau. Cần chú ý đến những khâu tổn hao nhiều để giảm bớt khối
lượng nguyên nhiên vật liệu cho mỗi đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm.
2.1.3.Sử dụng tổng hợp các loại nguyên vật liệu .
2.2 Về tổ chức quản lí kinh doanh .
Những biện pháp thuộc hướng tổ chức quản lí kinh doanh chỉ góp phần tạo điều
kiện tiền đề và điều kiện cần thiết để các biện pháp kỹ thuật được thực hiện ở những
doanh nghiệp cũng như tránh được những lãng phí xẩy ra trong quá trình sản xuất.
Những biện pháp đó là:
Thứ nhất, Đảm bảo cung ứng cho các nơi làm việc trong doanh nghiệp những
nguyên nhiên vật liệu đầy đủ về chất lượng và chủng loại, kịp thời gian yêu cầu, đồng bộ
để chế tạo sản phẩm hoàn chỉnh. Nếu không đảm bảo những nội dung trên, sẽ gây ra
nhiều lãng phí. Lãng phí cả nguyên nhiên vật liệu sử dụng, lãng phí thời gian sử dụng
thiết bị máy móc và lãng phí sức lao động của công nhân lãng phí do ngừng sản xuất .
Thứ hai, Thực hiện việc sử dụng các loại nguyên nhiên vật liệu theo định mức: sử
dụng theo định mức là cách sử dụng khấu hao. Vì vậy, các loại nguyên vật liệu chính sử
dụng khối lượng lớn xây dựng các định mức và sử dụng theo định mức .
Thứ ba, Thực hiện dự trữ các loại nguyên nhiên vật liệu theo định mức. Dự trữ
theo định mức bảo đảm việc sử dụng liên tục đều đặn trong doanh nghiệp. Những loại
nguyên nhiên vật liệu có nguồn cung ứng khó khăn cần phải có dự trữ: dự trữ thường
xuyên, dự trữ chuẩn bị, dự trữ bảo hiểm. Những loại sử dụng theo thời vụ phải có dự trữ
thời vụ.
Thứ tư, Tổ chức thu hồi tận dụng tất cả các biện pháp phế liệu, phế phẩm, phế
thải trong quá trình sản xuất .
Thứ năm, Tích cực ngăn ngừa và kiên quyết chống mọi hành vi tiêu cực làm thất
thoát nguyên nhiên vật liệu, hoá chất, ….và sản phẩm trong thời gian lưu kho của doanh
nghiệp. Giảm hao hụt, biến chất. Tích cực phòng chống cháy, mưa, bão, lũ lụt gây tổn
thất nguyên vật liệu và sản phẩm .
Thứ sáu, Sử dụng nguyên nhiên vật liệu đúng yêu cầu, đúng định mức, đúng quy
trình công nghệ, đúng đối tượng.
Thứ bảy, Tổ chức hoạch toán, kiểm tra phân tích đánh giá sử dụng nguyên nhiên
Chương II.
Thực trạng của nguồn và biện pháp tiết kiệm vật tư trong sản xuất ở ngành
thép
I. Đặc điểm kinh tế kĩ thuật ảnh hưởng đến việc sử dụng tiết kiệm vật tư ở ngành
thép
1. Đặc điểm cung ứng vật tư cho sản xuất
Kế hoạch mua sắm vật tư là một bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất kĩ
thuật– tài chính doanh nghiệp. Chúng có quan hệ mật thiết với các kế hoạch khác như kế
hoạch tiêu thụ, kế hoạch sản xuất, kế hoạch xây dựng, kế hoạch tài chính…Trong mối
quan hệ này kế hoạch mua sắm vật tư bảo đảm yếu tố vật chất để thực hiện các kế hoạch
khác, còn kế hoạch khác là căn cứ để xây dựng kế hoạch mua sắm vật tư. Chẳng hạn như
trong mối quan hệ với kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch vật tư
không thể xa rời các chỉ tiêu trong các kế hoạch này để xác định nhu cầu vật tư. Nếu xa
rời sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng vật tư, ứ đọng vốn hoặc không bảo đảm vật tư cho sản
xuất gây gián đoạn sản xuất
Mặt khác, cũng phải thấy rõ những đặc điểm riêng biệt của kế hoạch mua sắm vật
tư ở doanh nghiệp để có thể nâng cao chất lượng của kế hoạch xây dựng nhằm phục vụ
tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kế hoạch mua sắm vật tư
ở doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch mua sắm vật tư sẽ dự kiến trực tiếp
thời gian cuả một quá trình sản xuất, sự tiêu dùng trực tiếp các tư liệu sản xuất sẽ phát
sinh trong doanh nghiệp.
Thứ hai, kế hoạch mua sắm vật tư của doanh nghiệp rất phức tạp. Tính chất phức
tạp của nó thể hiện ở chỗ trong kế hoạch có rất nhiều loại vật tư với quy cách chủng loại
rất khác nhau với khối lượng mua sắm rất khác nhau đơn vị khác nhau.
trình độ tiếp cận thiết bị hiện đại là rất hạn chế. Hiện rất thiếu lao động có tay nghề cao
như thợ cả, kỹ sư trưởng… do cơ chế đãi ngộ chưa xứng đáng nên các doanh nghiệp
trong nước ít thu hút và giữ được các lao động có tay nghề tốt. Khả năng tự đào tạo của
các doanh nghiệp rất yếu nên không nâng cao được chất lượng lao động .
Ngành thép có nhiều liên doanh liên kết với công ty nước ngoài nên học được ở
các đối tác phương pháp quản lý hiện đại và cách vận hành các dây chuyền hiện đại.
Nhưng đa phần trình độ chuyên môn của đội ngũ kỹ thuật còn nhiều hạn chế, nhiều cán
bộ không cập nhật những tiến bộ kỹ thuật mới trong ngành nên còn hạn chế trong việc
cải tiến công nghệ cũng như trong nghiên cứu phát triển công nghệ mới. Trình độ tin học,
ngoại ngữ còn yếu nên hạn chế việc tiếp thu các thông tin về đổi mới công nghệ trên thế
giới. Độ tuổi cán bộ công nhân viên chức nhất là cán bộ kỹ thuật tương đối cao
Trong cạnh tranh lao động hiện nay, lượng cán bộ kỹ thuật có tay nghề cao và tuổi
trẻ thường tập trung ở doanh nghiệp lớn, các công ty nước ngoài, nơi có thu nhập cao và
có môi trường làm việc hiện đại, các doanh nghiệp nhỏ thu nhập thấp thường rất thiếu
cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề. Trong những năm tới tình hình này cũng rất khó
được cải thiện vì nguồn nhân lực được đào tạo trong các trường của nước ta còn hạn chế
mà nhu cầu lại rất cao.
Trình độ học vấn của đội ngũ công nhân, của các đơn vị đa phần ở mức rất thấp,
chỉ ở trình độ sơ cấp, trình độ bậc thợ thuộc loại thấp và rất thấp còn khá cao. Điều này
phản ánh tính không chuyên nghiệp của đội ngũ công nhân và có thể ảnh hưởng đến chất
lượng công việc. Tính kỷ luật và tính hợp tác trong đội ngũ công nhân lao động trong
ngành còn kém, ý thức và tác phong lao động của người lao động không bài bản và chặt
chẽ như công ty nước ngoài. Đội ngũ cán bộ quản lý hầu như chưa được đào tạo một
cách có hệ thống về làm việc quản lý nên trong quản lý doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó
khăn .
2.3 Thành phần thông tin (I)
Qua nghiên cứu, trình độ thông tin của các doanh nghiệp được đánh giá chỉ nằm ở
giai đoạn làm quen, thu thập và phân lọai các giai đoạn cao hơn như kết nhập, phân tích,
tổng hợp để đề xuất chiến lược chưa triển khai được, lượng thông nghèo khai thác trong
mà hiện nay chúng ta vẫn còn rất yếu .
3. Đặc điểm quản lý vật tư ở doanh nghiệp
3.1. Tổ chức chuyển vật tư hàng hóa về doanh nghiệp
Trong công tác nghiệp vụ của phòng kinh doanh việc tổ chức vận chuyển vật tư
hàng hóa về doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng. Đây là một trong những giai
đoạn kết thúc công tác nghiệp vụ thực hiện kế hoạch mua sắm các yếu tố vật chất cho sản
xuất. Quản lý và tổ chức việc vận chuyển tiếp nhận hàng hóa sẽ tạo điều cung ứng vật tư
kịp thời và đồng bộ cho sản xuất của doanh nghiệp, giữ gìn tốt số lượng và chất lượng vật
tư hàng hóa đồng thời bảo đảm sử dụng có hiệu quả vốn lưu động và giảm được chi phí
kinh doanh.
Chuyển vật tư hàng hóa được thực hiện theo hai phương thức:
Theo mức độ yêu cầu của sản xuất: áp dụng với doanh nghiệp sản xuất nhỏ, kế hoạch
kinh doanh thường thay đổi, không xác định cụ thể được từng loại vật tư vào thời gian
doanh nghiệp cần.
Phương pháp vận chuyển tập trung: áp dụng với doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn,
khối lượng vật tư tiêu dùng ít thay đổi.
3.2. Tiếp nhận hàng về số lượng và chất lượng
Khi hàng về đến doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác tiếp nhận và bảo quản
hàng hóa. Mục đích của khâu công tác này là kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng mua
bán vật tư, hàng hóa phải nguyên vẹn đảm bảo số lượng và chất lượng hay không? Sau
khi tiếp nhận hàng hóa phòng kinh doanh của doanh nghiệp phải tổ chức quản lý và bảo
quản hàng ở kho. Vật tư được bảo quản cũng tùy thuộc vào tính chất lí hóa mà bố trí sắp
xếp theo từng loai kho. Trang bị kho và tổ chức bảo quản kho phải bảo đảm giữ gìn tốt số
lượng, chất lượng hàng đồng thời phải tuân thủ yêu cầu dễ thấy dễ lấy, dễ kiểm tra và mỹ
thuật kho hàng
3.3 Cấp phát vật tư cho phân xưởng
Đây là khâu công tác hết sức quan trọng của phòng kinh doanh. Tổ chức tốt công
của vật tư với yêu cầu sản xuất.
Thanh lý vật tư: sau quá trình sử dụng vật tư ở các đơn vị sản xuất thường có một
số lượng vật tư dôi dư hoặc không còn phù hợp với yêu cầu của sản xuất ở doanh nghiệp.
Khi đó doanh nghiệp tiến hành hoạt động thanh lý số lượng vật tư này nhằm mục đích
giải phóng diện tích kho và thu hồi vốn cho doanh nghiệp.
Quyết toán vật tư: đây là hoạt động cuối cùng kết thúc toàn bộ quá trình đảm bảo
vật tư cho sản xuất ở doanh nghiệp. Hoạt động này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu
quả của công tác đảm bảo vật tư cho sản xuất ở doanh nghiệp. Từ đó giúp cho doanh
nghiệp có định hướng và biện pháp để điều chỉnh hoạt động đảm bảo vật tư ở kỳ sản xuất
tiếp theo
4. Đặc điểm tay nghề và ý thức của người lao động trong ngành thép
Yêu cầu về lao động của ngành thép hiện nay không chỉ có kinh nghiệm mà cần
phải có kiến thức. Xét về mặt kiến thức chuyên môn, lực lượng lao động trong ngành
thép còn khá thấp. Đây là một trong nhữngcản trở quan trọng đối với quá trình đổi mới
công nghệ và nâng cao khả năng cạnh tranh. Tỷ trọng cán bộ chuyên môn có trình độ cao
còn thấp. Phần lớn các cán bộ chuyên môn ở các công ty thép Việt Nam chưa được tiếp
xúc với công nghệ tiên tiến, mà đang làm việc ở các nhà máy có công nghệ lạc hậu. Hiện
nay, ngành thép có khoảng 27500 lao động, trong đó tổng công ty thép Việt Nam có
khoảng 18775 lao động. Riêng công ty thép Thái Nguyên là: 11411 người. Công ty thép
Miền Nam 3867 lao động. Rõ ràng cùng với công nghệ lạc hậu cộng thêm lực lượng lao
động lớn do lịch sử để lại trình độ chuyên môn thấp đang là bài toán khó với tổng công ty
thép Việt Nam trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh. Vấn đề đầu tư công nghệ thiết bị
hiện đại chắc chắn sẽ làm dôi dư một lực lượng lao động khá lớn. Nhà nước cần hỗ trợ
cho tổng công ty thép Việt Nam giải quyết vấn đề lao động của ngành. Lực lượng cán bộ
nghiên cứu trong lĩnh vực thép tại Việt Nam còn khá mỏng. Xét về mức độ lành nghề,
lực lượng thợ lành nghề ở Việt Nam không nhiều.
Theo các nhà quản lý tại công ty liên doanh, lực lượng lao động Việt Nam được
II. Thực trạng của việc tiết kiệm vật tư ở ngành thép
1.Thực trạng của việc tạo nguồn vật tư ở ngành thép
Ngành thép tiếp tục triển khai đầu tư chiều sâu các cơ sở luyện kim và cán thép
hiện có. Đầu tư xây dựng mới 1-2 cơ sở sản xuất phôi thép, năng lực sản xuất phôi thép
từ 40 vạn tấn năm 2000 lên 1 - 1.4 triệu tấn năm 2005. Xây dựng nhà máy cán thép nguội
và nhà máy cán thép nóng để sản xuất thép tấm, thép lá. Nghiên cứu và chuẩn bị xây
dựng cơ sở luyện thép liên hợp từ quặng trong nước và nhập khẩu.
Do yêu cầu đổi mới đến năm 1992, nhà máy luyện thép Lưu Xá đã đầu tư lắp đặt 1
lò điện hồ quang luyện thép 30T/mẻ với công suất 92000T/năm (thiết bị Trung Quốc)
thay thế cho công nghệ luyện thép Martin. Sau đó nhà máy tiếp tục lắp đặt thêm một máy
đúc liên tục 4 dòng của Ấn Độ có bán kính cong 4m, công suất 1200000T/năm đưa vào
sử dụng từ tháng 6/1996 thay thế cho công nghệ đúc phôi xi phông. Trong dự án đầu tư
cải tạo mở rộng sản xuất công ty gang thép Thái Nguyên, nhà máy luyện thép Lưu Xá
được đầu tư lắp đặt mới một lò điện siêu cao, công suất mở đáy 30T/mẻ, lò thùng tinh
luyện 40T/mẻ
Công ty thép Việt Hàn đã đề ra và thực hiện phương châm “mọi hoạt động đều
hướng tới chất lượng và khách hàng” với mong muốn cung cấp cho khách hàng các sản
phẩm tốt nhất, đáp ứng mọi yêu cầu của thị trường VSP đã không ngừng chú trọng đầu tư
nâng cấp dây chuyền, thiết bị sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa phương
thức phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Các sản phẩm của VPS đều được
sản xuất theo các tiêu chuẩn của Nhật Bản (JIC) Anh (BS), Hoa Kỳ (ASTM) và Việt
Nam (TCVN). Quá trình sản xuất từ khâu mua nguyên liệu đầu vào đến xuất hàng đều
được kiểm sóat nghiêm ngặt để loại bỏ các sản phẩm không phù hợp đảm bảo chất lượng
sản phẩm luôn ổn định.
Công ty thép tấm lá Phú Mỹ với mong muốn mang tới kế hoạch sản phẩm hoàn
hảo và chất lượng, PFS đã đầu tư xây dựng những khu nhà xưởng với hệ thống các dây
chuyền sản xuất khá hiện đại theo công nghệ cán 4 trục của các nước có nền công nghiệp
70 nghìn tấn gang các lọai đồng thời chú trọng đến công tác tiêu thụ sản phẩm. Nhờ thực
hiện tốt việc cung ứng vật tư nên trong công ty đã nâng cao được sản lượng nấu luyện tự
cung cấp 50% lượng phôi cho sản xuất cán.
Theo tổng công ty thép Việt Nam, toàn ngành đến nay đã sản xuất được khoảng
400000 tấn phôi / năm. So với nhu cầu của nền kinh tế đang cần khoảng 2,4 triệu tấn thép
/năm, thì lượng phôi sản xuất được còn quá nhỏ. Ngành thép vẫn đang phải nhập khẩu
phôi thép để cán ra thép thương phẩm phục vụ nhu cầu thị trường. Điểm yếu của ngành
luyện thép Việt Nam là nguồn nguyên liệu. Do điều kiện khai thác quặng sắt ở nước ta
còn nhiều khó khăn ngành thép lại phát triển chủ yếu công nghệ lò điện và sử dụng
nguyên liệu là sắt thép phế liệu để sản xuất thép phôi, nên phụ thuộc nhiều vào nguồn
nguyên liệu thép phế. Ở nước ta 75% thép phôi có nguồn gốc từ thép phế liệu. Công
nghiệp của Việt Nam mới phát triển nên chỉ tạo ra lượng thép phế liệu khoảng 300.000
tấn /năm, không đủ cho nhu cầu.
Thống kê của Tổng cục hải quan cho biết, năm 1998 Việt Nam, mới nhập khẩu
hơn 50.000 tấn thép phế liệu; năm 2000 đã nhập khẩu trên 170.000 tấn; và năm 2002là
261.389 tấn nhưng thép vụn cho lò điện không đáng kể . Từ năm 2005 khi hàng loạt lò
luyện kim cuả các nhà máy: Phú Mỹ, Cái Lân, Cửu Long, Hưng Yên…đồng loạt hoạt
động ngành thép khi đó đạt công suất trên 2 triệu tấn phôi thép /năm, thì nhu cầu thép phế
liệu cho ngành luyện kim sẽ rất lớn.
Sắt thép phế liệu là một loại nguyên liệu vô cùng quan trọng trong ngành công
nghiệp thép, chiếm tỷ trọng 37-38% trong toàn bộ nguyên liệu để sản xuất thép. Chúng ta
cần nhớ rằng, để sản xuất được trên 500 triệu tấn gang một năm nhân loại phải bỏ ra rât
nhiều tiền của, công sức trí tuệ và phải chịu những hậu quả to lớn về môi trường trong
việc thăm dò, khai thác và chế biến quặng sắt than mỡ, luyện cốc và luyện gang. Nguồn
thép phế liệu được tạo ra chủ yếu từ các nước có nền công nghiệp phát triển. Những nước
nay là những nước đang phát triện ngành công nghiệp thép từ lâu nên sử dụng công nghệ
chủ yếu là Lò cao-Luyện chuyển –tinh luyện – Đúc liên tục –Cán. Vì vậy những nước
cốc, luyện gang, cán thép thành phần với chi phí hợp lý. Các mỏ than, mỏ sắt đã sắp xếp
lại sản xuất, tranh thủ thời tiết thuận lợi, tăng năng suất khai thác ngay từ đầu năm để đạt
sản lượng cả năm trên 10,7 vạ tấn than mỡ, 47,8 vạn tấn quặng sắt; mua gom 14 vạn tấn
thép phế ở trong nước và tổ chức nhập khẩu 5 vạn tấn thép phế liệu phục vụ sản xuất
phôi thép.
3. Thực trạng của việc sử dụng vật tư ở ngành thép
Khi sử dụng công nghệ luyện thép lò điện quang người ta thường áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật như sau:
Cường hóa quá trình luyện thép bằng oxi và phun nhiên liệu phụ.
Tinh luyện ngoài lò trong môi trường chân không hoặc khí bảo vệ để tăng năng suất và
tăng chất lượng thép.
Tăng công suất bìến thế.
Tăng cường trang bị hệ thống làm nguội tường và đỉnh lò.
Tận thu thừa của khí thải để đun nóng trước nguyên liệu.
Áp dụng dây chuyền công nghệ sản xuất thép bằng máy đúc liên tục bằng cán thép,
trang bị hệ thống điều khiển quá trình tự động nhằm thực hiện quá trình sản xuât liên tục
mẻ tiếp mẻ.
Áp dụng các tiến bộ kĩ thuật như: lò điện hồ quang ngọn lửa dài, lò hồ quang chân
không, lò điện sử dụng dòng điện một chiều, lò điện có tháo thép ở đáy lệch tâm, lò 2
thân, sử dụng một phần nguyên liệu gang lỏng thay thế cho thép phế, chạy lò với chế độ
bọt xỉ…
Trong cán thép ngày nay đã có những bước dài trong đổi mới công nghệ, tập
trung vào việc điều khiển tự động hóa quá trình cán thép . Để nâng cao năng suất máy
trong cán thép áp dụng công nghệ tách phôi ban đầu thành nhiều dây.
Công ty thép Thái Nguyên có dây chuyền luyện kim khép kín với thiết bị và công
nghệ của Trung Quốc. Riêng nhà máy luyện cán thép Gia Sang do Cộng hòa dân chủ
Đức (cũ) giúp xây dựng. Các thiết bị công nghệ của công ty thép miền nam vốn do tư
nhân quản lý được quốc hữu hóa sau năm 1995, hầu hết thiết bị xuất xứ từ Đài Loan.
với mức trung bình và gấp 2 lần so với mức tiên tiến của thế giới; tiêu hao điện năng và
tiêu hao dầu trong cán thép với mức chênh lệch so với thế giới cũng tương tự như đối với
luyện thép.
Năm 2005 công ty đã cắt giảm được 59,446 tỷ đồng khấu hao cơ bản; giảm 32,277
tỷ đồng chi phí sửa chữa lớn giảm 28,576 tỷ đồng chi phí tiền lương so vơi năm 2004 (
chỉ tính bằng 95% đơn giá tiền lương năm 2004). Năm 2005 đã giảm được giá thành trên
68,953 tỷ đồng, trong đó tiết kiệm vật tư 21,792 tỷ đồng. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt
1.729,4 tỷ đồng tăng 8% so với năm 2004; sản lượng thép cán đạt 440.962 tấn, tăng 10%;
doanh thu đạt 3.130 tỷ đồng, tăng 3,6%; lợi nhuận đạt 15 tỷ đồng, thu nhập bình
quân1,85 triệu đồng/người/tháng.
Trong thời gian qua, các nhà máy sản xuất thép Việt Nam lại hoạt động trong tình
trạng dư thừa sức công suất. Phần lớn các cơ sở sản xuất thép ở Việt Nam chỉ hoạt động
ở mức khoảng 60% công suất thiết kế. Chính vì vậy, nâng cao hệ số sử dụng công suất ở
các nhà máy cũng có thể cho phép nâng cao hiệu quả kinh doanh và giảm giá thành sản
xuất. Trong tương lai gần, công suất các nhà máy thép ở Việt Nam tiếp tục dư thừa. Sự
dư thừa công suất sẽ dẫn tới chi phí cố định cao, cản trở việc đầu tư công nghệ mới.
Các công ty thép Miền Nam, Gang thép Thái Nguyên đã duy trì tốt việc sử dụng
gang Mg-L xây tường lò điện, sản xuất nhiều mác thép chất lượng cao cung cấp cho thị
trường. Các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật trong khâu luyện thép khá ổn định. Lò luyện 15 tấn
của công ty thép Đà Nẵng đã đi vào hoạt động tốt, các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật đạt được
yêu cầu đề ra.
Công ty thép Miền Nam đưa kết quả đã đạt được ở Nhà máy thép Biên Hòa để áp dụng
cho các nhà máy khác và phát huy ưu thế sử dụng các máy đúc thép liên tục trong sản
xuất phôi thép cho nên đã mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất. Cụ thể năm 1999
Công ty đã giảm chỉ tiêu tiêu hao điện năng trong sản xuất thép lò điện xuống bình quân
dưới 740kwh/T phôi so với trước đây là 850-900 Kwh/T thép thỏi. Các nhà máy cán thép
của công ty thép Miền Nam cũng đạt được các chỉ số về tiêu hao điện năng và dầu nặng
được của các tiến bộ kỹ thuật là giảm tiêu hao nguyên liệu và năng lượng.
Thứ hai, Công ty gang thép Thái Nguyên với mục tiêu là đưa năng lực sản xuất
phôi tại chỗ bằng nguyên liệu trong nước theo công nghệ luyện kim truyền thống
thêm500.000 tấn/năm. Sau khi đầu tư xong năng lực tạo phôi của công ty sẽ đạt từ
900.000 tấn đến 1.000.000 tấn/năm. Đồng thời vẫn tiếp tục cải tạo các dây chuyền cán cũ
để giảm các tiêu hao vật tư năng lượng và nâng cao năng suất lao động. Chuẩn bị sẵn
sàng cho việc chuyển đổi mô hình quản lý sang công ty mẹ - con theo kế hoạch chung
của TCT thép Việt Nam. Trước mắt công ty phấn đấu hoàn thành toàn diện vượt mức các
chỉ tiêu kế hoạch đề ra, lấy tiêu chí là “năm tiêu thụ”
Để đẩy mạnh tiêu thụ cán thép, tiếp tục củng cố và nâng cao uy tín thương hiệu thép
TISCO trên thị trường giữ vững quy mô là nhà sản xuất thép hàng đầu của Việt Nam
Thứ ba, Dựa vào các thành tựu về tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất thép trên thế
giới, ngành thép Việt Nam trong những năm tới sẽ cố gắng phấn đấu để có thể áp dụng
chúng nhằm cải thiện hơn nữa các chỉ tiêu kĩ thuật các thiết bị đang sử dụng. Mục tiêu
chính cần đạt là:
.Tiêu hao điện năng trong sản xuât thép là điện đạt tới :600 kwh/ tấn sản phẩm
.Tiêu hao dầu trong sản xuât thép cán đạt tới: 40lit/tấn sản phẩm
Thứ tư, Mục tiêu đáp ứng đầy đủ nhu cầu thép xây dựng cho cả nước, góp phần ổn
định thị trường thép trong nước, đồng thời khuyến khích đầu tư xây dựng các nhà máy
mới, sản xuất phôi thép, giảm bớt lượng phôi phải nhập khẩu để tiết kiệm ngoại tệ, xúc
tiến đầu tư các nhà máy sản xuất thép tấm, lá, thép chế tạo là những sản phẩm hiện nay
phải nhập khẩu gần như 100%
Thứ năm, Phát triển ngành thép Việt Nam nhanh chóng trở thành một ngành phát
triển hoàn chỉnh theo công nghệ truyền thống, sử dụng tối đa nguồn quặng sắt sẵn có
trong nước, trên cơ sở xây dựng khu liên hợp luyện kim công suất 4-5 triệu tấn thép/năm,
sử dụng tối đa và có hiệu quả nguồn nguyên liệu khoáng trong nước, áp dụng các công
nghệ mới hiện đại đang được sử dụng trên thế giới, cố gắng thỏa mãn tối đa nhu cầu