LUẬN VĂN:
Hoàn thiện công nghệ marketing nhập khẩu
nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công
xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam
Lời nói đầu
Hội nhập là xu thế tất yếu của thời đại, quá trình này diễn ra dưới nhiều lĩnh vực và
dưới nhiều hình thức – quốc tế hoá về thương mại, về vốn, về sản xuất và dưới dạng tham
mà trong nước có thể đáp ứng được, Công ty sẽ mua ngay trong nước, phần còn lại sẽ
được nhập khẩu ở nước ngoài.
Qua quá trình học tập tại trường Đại học Thương Mại và thời gian thực tập tại Công
ty Da – Giầy Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của việc hoàn thiện công nghệ
marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu, được sự
hướng dẫn tận tình của thầy Lê Hữu Châu cùng toàn thể các cô, các chú cán bộ, nhân viên
tại Công ty Da – Giầy Việt Nam, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Hoàn thiện công nghệ
marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của
Công ty Da – Giầy Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp.
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá công nghệ marketing nhập
khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt
Nam, từ đó chỉ ra những ưu, nhược điểm của hoạt động nhập khẩu của Công ty. Trên cơ sở
đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công nghệ nhập khẩu của Công ty.
- Phạm vi, nội dung nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận môn
học marketing thương mại và marketing thương mại quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu: trong bài luận văn tốt nghiệp này em sử dụng phương
pháp duy vật biện chứng. Ngoài ra, em còn sử dụng phương pháp quan sát, phân tích,
thống kê, so sánh…
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cầu của bài luận văn
được chia làm ba phần:
Chương I: cơ sở lý luận về công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản
xuất hàng gia công xuất khẩu của công ty kinh doanh trong xu thế hội nhập.
Chương II: phân tích tình hình xác lập, thực hiện công nghệ marketing nhập khẩu
nguyên vật liệu phụ sản xuất tại Công ty Da – Giầy Việt Nam.
Chương III: đề xuất hoàn thiện công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ
sản xuất hàng gia công xuất khẩu của Công ty Da – Giầy Việt Nam.
Chương I
cơ sở lý luận về công nghệ marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng
gia công xuất khẩu của công ty kinh doanh trong xu thế hội nhập.
mạnh: Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối
đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc dân tộc và bảo vệ
môi trường.
Như vậy, chủ trương hội nhập kinh tế của Việt Nam từng bước được hình thành cùng
với sự phát triển của đất nước.
1.2. Các bước đi trong quá trình hội nhập
Về các bước đi trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, chúng ta cần
xem xét đến hai mặt.
Đối với bên ngoài: Chúng ta đã thực hiện lần lượt các bước đi cụ thể. Đó là:
+ Năm 1993 đã khai thông quan hệ với Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới
(WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB).
+ Tháng 1/1995 gửi đơn xin gia nhập WTO. Chúng ta đã tiến hành được 10 phiên
đàm phán đa phương và kết thúc đàm phán với 20 đối tác song phương. Tiến trình đàm
phán gia nhập WTO của Việt Nam đã bước vào giai đoạn cuối cùng. Phiên đàm phán đa
phương thứ 10 về việc Việt Nam gia nhập WTO được tiến hành vào ngày 15/9, là phiên rất
quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với quá trình đàm phán của Việt Nam với các đối
tác đa phương. Việc đạt được thoả thuận sớm với các nước EU, một đối tác thương mại lớn
có 25 nước thành viên, đã tác động tích cực đối với quá trình đàm phán của Việt Nam.
Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương
mại thế giới.
+ Ngày 25/7/1995 đã chính thức gia nhập hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN),
đồng thời tham gia vào AFTA và chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT)
+ Tháng 3/1996 tham gia diễn đàn á- âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập.
+ Ngày 15/6/1996 gửi đơn xin gia nhập APEC. 11/1998 được công nhận là thành viên
của APEC
+ Năm 2000 ký hiệp định thương mại song phương Việt- Mỹ
Đối với trong nước chúng ta đã làm được 3 việc cơ bản: Quốc hội đã thông qua nhiều
đạo luật, văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý phù hợp cho hội nhập. Thực hiện sự
chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách và hệ thống kinh tế vĩ mô và cố gắng cải
ngành kinh tế mới đã xuất hiện dựa trên cơ sở tăng cao hàm lượng chất xám trong sản
xuất- kinh doanh. Các ngành cơ khí chế tạo, đóng tàu, từng bước được nâng lên tầm cao
mới, sản phẩm ngày càng tạo được uy tín trên thị trường trong và ngoài nước. Cơ cầu kinh
tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Giữ vững ổn định về kinh tế. Điều này thể hiện ở nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng
liên tục khá cao và tương đối ổn định. Từ năm 1991 đến năm 2000, GDP tăng liên tục qua
các năm với nhịp tăng bình quân hàng năm 7,5 %. So với năm 1990, năm 2000 GDP tăng
gấp 2,07 lần. Tuy xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực năm 1997, nhưng từ năm
2001 đến năm 2004, GDP của Việt Nam vẫn có nhịp tăng trưởng bình quân hàng năm
7,25$. Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng GDP quý I đạt 7,23%, 6 tháng đầu năm đạt
7,63%. Đặc biệt, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam giảm mạnh, từ 58% ( năm 1993) xuống
24,1% (năm 2001) ( theo chuẩn nghèo 1USD/ngày).
Bước đầu chúng ta đã đạt được kết quả đáng khích lệ, nhưng vẫn còn những mặt hạn
chế, yếu kém nhất định. Cụ thể là: nhận thức về hội nhập của cán bộ và nhân dân chưa
được nhất trí cao. Chưa có một kế hoạch tổng thể và dài hạn để hội nhập kinh tế quốc tế;
hệ thống chính sách, luật pháp quản lý kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh, còn có những
chính sách, luật chưa phù hợp với những thông lệ quốc tế; lực lượng sản xuất có nguy cơ
tụt hậu so với trình độ phát triển chung của thế giới, do đó sức cạnh tranh hàng hoá kém,
hiệu quả đầu tư thấp. Trước xu thế nhập khẩu và sức cạnh tranh chưa đủ mạnh có thể dẫn
đến khả năng mất thị trường trong và ngoài nước. Trong thời gian qua, mục tiêu phát triển
kinh tế của nước ta là hướng về xuất khẩu, nhưng thực tế lại có xu hướng thực hiện theo
mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu. Nền kinh tế đang ở trình độ phát triển chậm,
còn chênh lệch khá nhiều so với các nước trong khu vực; đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế
còn thiếu, yếu, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại; bản sắc văn
hoá đang bị đe doạ, đặt biệt là lối sống của lớp trẻ.
Với những thành công bước đầu về hội nhập kinh tế mà Đảng và nhà nước ta đã xác
định trong thời gian qua, chúng ta tin tưởng rằng đến năm 2020, nước ta cơ bản sẽ trở
thành một nước công nghiệp, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
nghiệm các nước trong thời kỳ đầu phát triển: đầu tư vào công nghiệp nhẹ, công nghiệp
chế biến để nhận gia công cho nước ngoài cũng là một cách tăng thu ngoại tệ, đồng thời
giải quyết được nạn thất nghiệp trong nước.
ở Việt Nam,việc nhận gia công cho nước ngoài đã có từ lâu với các mặt hàng truyền
thống như may mặc, giầy dép, hàng thủ công mỹ nghệ…với khách hàng chủ yếu là Liên
Xô (cũ) và các nước Đông Âu.
Hiện nay, chính sách mở cửa kinh tế và sự biến động trong nhận thức của người lao
động Việt Nam, đã giúp cho gia công quốc tế ngày càng phát huy tác dụng của nó; trong
đó gia công hàng dệt - da - may mặc góp một phần không nhỏ trong việc thúc đẩy ngoại
thương Việt Nam phát triển, gia tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần cải thiện
cán cân thanh toán. Hơn nữa, những mặt hàng nhận gia công lại cần một số lượng lao động
lớn, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp của Việt Nam.
2.2. Các loại gia công quốc tế
* Nếu xét theo nguồn cung cấp các yếu tố vật chất sản xuất: có 4 hình thức:
- Bên nhận gia công có sẵn thiết bị; bên kia cung cấp 100% nguyên phụ liệu:
+ Bên đặt gia công cung cấp toàn bộ số nguyên phụ liệu cần thiết để hoàn thành sản
phẩm cho bên đặt gia công.
+ Bên nhận gia công có trách nhiệm tổ chức quy trình sản xuất theo đúng điều kiện
hợp đồng và tái xuất thành phẩm cho bên đặt gia công.
+ Mỗi lần giao hàng cả hai bên đều phải ký xác nhận trên bảng kê chi tiết số lượng
nguyên phụ liệu đã sử dụng.
- Bên nhận gia công có sẵn thiết bị; bên đặt gia công hoàn toàn không cung cấp
nguyên phụ liệu:
Bên đặt gia công giao phần ngoại tệ tạm tính cho bên nhận gia công để họ tự tìm và
mua nguyên phụ liệu trên thị trường theo giá quy định do hai bên thoả thuận trước.
- Bên đặt gia công cung cấp nguyên phụ liệu chính theo định mức hợp đồng: phần
phụ liệu còn thiếu sẽ do bên nhận gia công tự tìm kiếm trên thị trường để bổ sung. Các chi
tiết bổ sung được kê khai đầy đủ và theo sự đồng ý của hai bên.
- Trường hợp bên nhận gia công không có máy móc thiết bị: bên đặt gia công sẽ cung
- Bên nước ngoài và bênViệt Nam ký hợp đồng gia công quốc tế.
- Bên Việt Nam nhận trách nhiệm gia công cho nước ngoài, sau đó kí tiếp hợp đồng
trong nước với bên nhận gia công khác.
Trong trường hợp này người nhận gia công quốc tế (người nhận gia công và đặt gia
công chuyển tiếp) là người trung gian ăn hoa hồng gia công.
2.3. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công
2.3.1. Quyền của bên nhận gia công
Bên nhận gia công có các quyền sau:
- Yêu cầu bên đặt gia công giao nguyên vật liệu đúng chất lượng, số lượng, thời hạn
và địa điểm đã thoả thuận.
- Từ chối sự chỉ dẫn không hợp lý của bên đặt gia công, nếu thấy chỉ dẫn đó có thể
làm giảm chất lượng sản phẩm, nhưng phải báo ngày cho bên đặt gia công.
- Yêu cầu bên đặt gia công trả đủ tiền công theo đúng thời hạn và phương thức đã
thoả thuận.
2.3.2 Nghĩa vụ của bên nhận gia công
Bên nhận gia công có nghĩa vụ sau:
- Bảo quản nguyên vật liệu do bên đặt gia công cung cấp.
- Báo cho bên đặt gia công biết để đổi nguyên vật liệu khác, nếu nguyên vật liệu
không đảm bảo chất lượng, từ chối thực hiện gia công, nếu việc sử dụng nguyên vật liệu có
Nội địa nước nhận gia công
(Việt Nam)
Người đặt
hàng gia
công (bên
+ Giá cả nguyên phụ liệu: nguyên phụ liệu là một phần của các yếu tố đầu vào của
quá trình gia công, nó thuộc sở hữu của bên nhận gia công. Thông thường bên đặt gia công
để bên nhận gia công mua những nguyên vật liệu phụ này. Do vậy, việc xác định giá cả
nguyên vật liệu phụ do hai bên căn cứ vào mức giá nguyên vật liệu phụ đó ở nước của bên
nhận gia công.
+ Chi phí đào tạo: chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi phí đào tạo, hướng dẫn công
nhân lao động, cán bộ kỹ thuật của bên nhận gia công.
+ Chi phí gói, giao nhận, vận chuyển: chi phí này bao gồm các khoản cụ thể sau:
Chi phí đóng gói hàng gia công.
Chi phí nhận nguyên vật liệu gia công.
Chi phí vận chuyển, giao hàng gia công.
Chi phí chứng từ giao hàng gia công, làm thủ tục hải quan.
Xác định chi phí gia công hợp lý không những đảm bảo lợi ích kinh tế của các bên
đặt gia công và bên nhận gia công mà còn góp phần tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa
hai bên, cơ sở để xác định giá bán, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Do vậy, các bên cần căn cứ vào khả năng của mình, hình thức gia công, các chi phí vận tải,
giao nhận, mức tiền công lao động, các loại thuế để xác định chi phí gia công thích hợp.
2.5. Vai trò của gia công đối với các công ty kinh doanh Việt Nam
- Hoạt động nhận gia công quốc tế giúp công ty vẫn có thể thu được lợi nhuận mặc dù
có thể công ty gặp những khó khăn về vốn, máy móc, nguyên vật liệu… nhờ sự giúp đỡ và
cung cấp của bên đặt gia công.
- Giúp các công ty kinh doanh Việt Nam từng bước tiếp cận với thị trường nước
ngoài, tạo tiền đề vươn ra thị trường bên ngoài, thâm nhập vào thị trường quốc tế.
- Các công ty có cơ hội nâng cao trình độ kỹ thuật, mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm, tiếp thu công nghệ sản xuất mới, tăng khả năng thiết kế mẫu mã,… thông qua hoạt
động nhận gia công quốc tế.
3. Vai trò của hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công
xuất khẩu của công ty kinh doanh Việt Nam.
3.1 Đối với doanh nghiệp.
4.2. Khái niệm công nghệ marketing nhập khẩu
Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, bất cứ một sự tăng trưởng
kinh tế nào cũng phải gắn với sự đổi mới, phát triển công nghệ, công nghiệp hoá , hiện đại
hoá. Cốt lõi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nâng cao trình độ công nghệ của
đất nước. Khoa học và công nghệ quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế
- xã hội của một quốc gia. Đổi mới và phát triển công nghệ là phương thức nhanh nhất để
đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội càng cao
thì nhu cầu về khoa học công nghệ càng lớn.
Thuật ngữ công nghệ (Technologie) có nguồn gốc từ tiếng cổ Hi Lạp, được cấu tạo từ
hai phần : “techne” nghĩa là nghệ thuật, sự khéo léo, thủ pháp pha trộn và thực hiện, kỹ
thuật hoạt động hữu hiệu và “logos” có nghĩa là khoa học. Theo nghĩa phổ thông công
nghệ được hiểu là phương pháp thực thi hữu hiệu một quá trình lao động. Trong quá trình
lịch sử công nghiệp hoá sản xuất, thuật ngữ này được sử dụng như là đặc trưng kỹ thuật
của sản xuất công nghiệp và được hiểu nặng về hướng thiết bị, dây chuyền cơ khí hoá.
Cho đến nay tồn tại nhiều quan niệm không đầy đủ về công nghệ như coi công nghệ
là máy móc dùng trong sản xuất, có những định nghĩa coi kiến thức dùng trong sản xuất là
cốt lõi của công nghệ, một số khác coi công nghệ là sự tác động tương hỗ giữa máy móc và
con người.
ở Việt Nam, có quan niệm cho rằng : “ công nghệ là kiến thức, kết quả của khoa học
ứng dụng nhằm biến đổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lợi”. Cũng cần lưu ý rằng
trong một số trường hợp, một số lĩnh vực người ta vẫn thừa nhận định nghĩa công nghệ cho
một mục đích nào đó. Ví dụ như các nhà quản lý coi : “ công nghệ là khoa học và nghệ thuật
dùng trong sản xuất và phân phối hàng hoá, dịch vụ ”. Trong lĩnh vực chuyển giao công
nghệ, người ta coi : “công nghệ là hệ thống những kiến thức (bao gồm thông tin, bí quyết- có
thể bao gồm cả máy móc thiết bị) được áp dụng để sản xuất một sản phẩm hoặc một dịch
vụ”. Cuối cùng một định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ : “công nghệ là tất cả
cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra”.
Công nghệ trong quá trình sản xuất xuất hiện trong hệ thống máy móc (chuyển lao
động thủ công thành lao động cơ khí). Cùng với sự phát triển của kỹ thuật trong sản xuất,
quá trình công nghệ marketing nói chung được vận dụng trong kinh doanh nhập khẩu, đó là
một phác đồ quy định trật tự tiến hành tác nghiệp để hoàn thành một nội dung của nghiệp
vụ nhập khẩu hàng hóa, trong đó xác định đối tượng, trách vụ, thủ tục, cách thức và quy tắc
chuẩn mực trong nhập khẩu hàng hoá.
4.3. Vai trò công nghệ marketing nhập khẩu
Đối với các công ty có hoạt động xuất nhập khẩu thì việc áp dụng marketing vào lĩnh
vực nhập khẩu là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu. Marketing nhập khẩu có
thể giúp công ty tồn tại lâu dài và vững chắc trên thị trường.
Marketing nhập khẩu giúp doanh nghiệp tìm được nguồn hàng hợp lý nhằm thoả mãn
tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao thì công việc đầu tiên của nhà quản trị
marketing là tiến hành nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu sau đó tiến hành phân tích
lựa chọn nhà cung ứng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng. ở đa số các quốc gia hiện
nay đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam thì sản xuất trong nước chưa thể
đáp ứng được nhu cầu thị trường vì vậy nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài là một trong
những cách mà nhà quản trị sử dụng để thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng.
4.4. Bản chất của công nghệ marketing nhập khẩu
Cũng như marketing nội địa, bản chất của marketing nhập khẩu là toàn bộ hoạt động
tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của thị trường nội địa từ đó thiết lập các chương trình
marketing, các bộ phận nhân sự nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu thị trường mang lại lợi
nhuận lớn nhất cho công ty.
Trong nền kinh tế hiện đại, vai trò của khách hàng và nhu cầu của họ đóng vai trò
quyết định đối với toàn bộ quá trình sản xuất và kinh doanh của công ty. Theo quan điểm
marketing, chìa khoá để công ty có thể đạt được các mục tiêu của mình là phải xác định
được nhu cầu và mong muốn của thị trường trọng điểm. Riêng đối với hoạt động nhập
khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất thì hoạt động marketing nhập khẩu giúp doanh
nghiệp tìm được nguồn hàng hợp lý. Từ đó có thể tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh
trên thị trường.
Như vậy, bản chất của marketing nhập khẩu là quá trình nghiên cứu, hoạch định,
các căn bệnh trong kinh doanh. Nếu quá vội vàng áp dụng ngay các kết quả nghiên cứu
marketing mà không có kiểm chứng hoặc thử nghiệm thì kết qủa sẽ ngược với điều mong
muốn.
Nghiên cứu marketing xuất phát từ quan điểm “ khách hàng là thượng đế”. Nó bao
gồm tập hợp các công đoạn, bắt đầu từ khai thác nhu cầu khách hàng, từ đó bằng các giải
pháp marketing hỗn hợp đáp ứng tốt nhất nhu cầu, thuyết phục, lôi kéo, hướng họ về phía
doanh nghiệp. Nghiên cứu marketing còn cho thấy sự thay đổi sở thích của khách hàng để
từ đó nắm bắt một cách nhạy bén thị trường mục tiêu, từng bước phân tích thời cơ, đánh
giá lợi thế bất lợi của đối thủ cạnh tranh, nhìn nhận đánh giá vị thế của công ty trên thị
trường.
Tóm lại, nghiên cứu marketing nhập khẩu nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công
xuất khẩu để nhằm tìm được nguồn cung ứng nước ngoài tốt nhất để thoả mãn những nhu
cầu sản xuất của doanh nghiệp.
1.1.1 Nghiên cứu nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu phụ sản xuất hàng gia công
xuất khẩu của công ty kinh doanh Việt Nam.
Khi nghiên cứu nhu cầu sử dụng nguyên liệu phụ chú ý đến các vấn đề sau:
+ Chủng loại: tuy mặt hàng nhận gia công mà nguyên liệu phụ có sự khác nhau. ở
nước ta hình thức gia công chủ yếu là dệt may, giầy dép, lắp ráp hàng điện tử. Với ngành
giầy dép nguyên vật liệu phụ có thể là keo, da trang chí, chỉ… với ngành dệt may nguyên
vật liệu phụ có thể là cúc, khuy, chỉ,… hiện nay thị trường trong nước mới đáp ứng được
một phần các nguyên phụ liệu này, phần còn lại các doanh nghiệp phải nhập khẩu từ nước
ngoài.
+ Chất lượng: thông thường khi kí hợp đồng gia công quốc tế, bên đặt gia công quốc
tế sẽ có những quy định cụ thể về chất lượng của phần nguyên vật liệu phụ mà bên nhận
gia công chịu trách nhiệm mua, đôi khi để đảm bảo chất lượng bên đặt gia công sẽ yêu cầu
bên nhận gia công mua ở những nhà cung cấp nhất định.
+ Số lượng: tuỳ thuộc vào hợp đồng gia công là lớn hay nhỏ mà số lượng nguyên phụ
liệu là nhiều hay ít. Nếu bên nhận gia công có kỹ thuật sử dụng tiết kiệm mà vẫn đảm bảo
được chất lượng sản phẩm thì có thể tăng thêm được lợi nhuận của mình.
+ Nghiên cứu vận tải là việc nghiên cứu các phương tiện vận tải phù hợp với các đặc
điểm của hàng hoá như số lượng, chất lượng, điều kiện bảo quản, tính chất lí, hoá
học,…khi vận chuyển hàng hoá từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Đây là một nhân
tố cũng rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí hay giá cả hàng hoá, niềm tin
của khách hàng với các công ty, khả năng cung ứng kịp thời hay không? Trình độ phục vụ
khách hàng ra sao?
Trên thực tế có rất nhiều phương thức vận tải song phải tuỳ thuộc vào nhiều căn cứ để
lựa chọn như : đặc điểm của hàng hoá, khối lượng hàng hoá, cước phí vận chuyển, mức độ
hao hụt của hàng hoá trong quá trình chuyên trở, thời gian chuyên trở, phí bảo hiểm, trong
thực tế có thể phương thức vận tải này có cước phí thấp nhưng thời gian chuyên chở lại dài
và mức độ rủi ro cao. Trong khi loại hình khác tuy có cước phí cao nhưng thời gian chuyên
chở ngắn. Chính vì vậy mà người ta thường kết hợp một cách hợp lý các phương thức vận
tải trong một hành trình.
Dựa vào những tiêu thức khác nhau, người ta chia ra làm nhiều phương thức vận tải.
Nhưng chủ yếu có các phương thức vận chuyển sau : vận tải đường biển, vận tải đường
hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đặc biệt…
- Vận tải đường biển: vận tải đường biển xuất hiện từ rất sớm và phát triển với tốc độ
nhanh chóng. Hiện nay theo ước tính thì vận tải đường biển chiếm khoảng 95% tổng khối
lượng hàng hoá được chuyên chở trong thương mại quốc tế. Vận tải đường biển phát triển
là do có những đặc điểm sau:
Ưu điểm :
Diện tích mặt biển chiếm đến 2/3 diện tích địa cầu, hơn nữa các tuyến đường biển hầu
hết là tuyến đường giao thông tự nhiên. Vì thế mà chi phí đầu tư cho việc xây dựng, bảo
quản, duy trì các tuyến đường là nhỏ.
Năng lực chuyên chở trên biển là rất lớn. Điều này thể hiện ở chỗ, trên cùng một
tuyến đường biển có thể tổ chức cho nhiều tàu cùng chạy với cả hai chiều. Đầy là một ưu
thế rất quan trọng của vận tải đường biển.
Giá cước chuyên chở rẻ nhất trong các phương thức vận chuyển.
Nhược điểm
Trong thực tiễn thương mại quốc tế, hàng hóa chủ yếu là được chuyên chở bằng
đường biển và lĩnh vực hàng hải là lĩnh vực hay nảy sinh nhiều rủi ro tiềm ẩn và bất ngờ
vượt quá khả năng kiểm soát của con người. Để đối phó với những tai hoạ và sự cố bất ngờ
đó, bảo hiểm ra đời và trở thành một nhu cầu cấp thiết trong xã hội nói chung, trong hoạt
động kinh tế nói riêng, là điều dường như không thể thiếu cho bất kỳ một hợp đồng ngoại
thương nào. Bởi vì:
- Hàng hoá xuất nhập khẩu được bảo hiểm thì sẽ giảm được rủi ro, hạn chế tổn thất
nhờ tăng cường công tác bảo quản, kiểm tra, đồng thời kết hợp các biện pháp hạn chế tổn
thất.
- Khi hàng hoá nhập khẩu bị rủi ro, tổn thất thì phía bảo hiểm sẽ giúp công ty về mặt
pháp lý và giải quyết các tranh chấp. Hơn nữa, khi tham gia bảo hiểm các doanh nghiệp, tổ
chức kinh doanh sẽ nhanh chóng khắc phục được hậu quả rủi ro nhờ vào số tiền bồi thường
mà công ty bảo hiểm chi trả cho người đựơc bảo hiểm.
- Mua bảo hiểm tạo ra nguồn vốn lớn cho xã hội thông qua việc tập trung phí bảo
hiểm vào một đầu mối để sử dụng có hiệu quả.
Trong vận tải đường biển có hai loại hợp đồng bảo hiểm chủ yếu là hợp đồng bảo
hiểm chuyến và hợp đồng bảo hiểm bao
- Hợp đồng bảo hiểm chuyến: là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng từ một địa
điểm này đến một địa điểm khác ghi trên hợp đồng.
- Hợp đồng bảo hiểm bao : là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng trong một
thời gian nhất định .
+ Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: về cơ bản đó là phương pháp thu thập thông tin từ
các nguồn tư liệu xuất bản hay không xuất bản, là phương pháp phổ thông nhất về nghiên
cứu thị trường, vì nó tốn ít chi phí và phù hợp với khả năng của doanh nghiệp xuất nhập
khẩu mới tham gia vào thị trường thế giới. Tuy nhiên những thông tin thu thập được
thường có tính chính xác không cao và không được cập nhật thường xuyên.
- Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường : phương pháp này chủ yếu thu thập thông
tin bằng trực quan thông qua các quan hệ giao tiếp với người tiêu dùng, với các thương
Khi lựa chọn nguồn nhập khẩu (lựa chọn nước để nhập khẩu) công ty kinh doanh cần
dựa vào các tính chất sau:
+ Lĩnh vực sản xuất kinh doanh: với những mặt hàng sản xuất gia công của nước ta là
may mặc và giầy dép, thì các nguyên phụ liệu đa số được nhập từ Trung Quốc, số còn lại
được nhập từ các nước: Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…
+ Khoảng cách địa lý: trong kinh doanh quốc tế, chi phí vận chuyển là rất lớn, đôi khi
nó còn lớn hơn chi phí của hàng hoá vận chuyển, do đó cần chú ý đến khoảng cách để giảm
chi phí mua hàng cho doanh nghiệp.
+ Mối quan hệ thương mại giữa hai nước: đó có thể là các hiệp định song phương, đa
phương mà hai nước đã kí kết để thúc đẩy hoạt động thương mại giữa hai nước. Là những
chính sách, những ưu đãi mà hai nước đã giành cho nhau.
+ Một số yếu tố khác như: sự phát triển kinh tế, sự ổn định về chính trị, nền văn
hoá…
Khi lựa chọn đơn vị xuất khẩu cụ thể công ty dựa trên một số yếu tố như:
+ Loại sản phẩm: tuỳ vào chủng loại nguyên vật liệu mà công ty cần để lựa chọn
những nhà cung cấp nhất định.
+ Các yếu tố liên quan đến nguyên vật liệu: bao gồm các yếu tố như: giá, chất lượng,
mẫu mã…mà công ty có sự lựa chọn bạn hàng sao cho đáp ứng được nhu cầu sản xuất và
đem lại nhiều lợi ích nhất cho công ty.
+ Truyền thống: dựa trên những mối quan hệ truyền thống, làm ăn từ lâu của công ty
để lựa chọn bạn hàng phù hợp nhất.
Trong hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất thì việc lựa chọn nguồn
hàng nhập khẩu là khâu rất quan trọng vì nó quyết định đến chất lượng hàng hoá mà công
ty sẽ sản xuất ra, nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Do
đó, muốn sản phẩm của công ty có sức cạnh tranh trên thị trường thì khâu lựa chọn bạn
hàng phải được doanh nghiệp thực sự chú trọng và có sự đầu tư đúng mức.
3. Lựa chọn hình thức nhập khẩu phù hợp của công ty kinh doanh.
Trước đây các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp. Ngày nay, do tác động của điều kiện khách quan, nhà
nước đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc xuất nhập khẩu. Cụ thể là nghị định 57/CP ra
chính sách, luật pháp nước nhà, luật pháp nước chủ nhà và luật pháp quốc tế.
Đặc điểm: