LUẬN VĂN: Nghiên cứu và đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân dẫn đến nghèo đói pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Nghiên cứu và đánh giá đúng thực trạng
và nguyên nhân dẫn đến nghèo đói MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới ngày nay đang bước vào kỷ nguyên mới của sự phát triển dựa trên cơ sở
công nghệ thông tin và đi vào nền kinh tế tri thức, nhiều quốc gia đang trên đà phát triển
phồn vinh. Tuy nhiên, tình trạng nghèo khổ cũng đang là thách thức lớn ở nhiều quốc gia.
Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) trở thành vấn đề xã hội mang tính toàn cầu.
Ở Việt Nam XĐGN vẫn đang là vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc. XĐGN toàn diện,
bền vững luôn luôn được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là mục tiêu
xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan
trọng góp phần phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong văn kiện Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp,
đồng thời ra sức XĐGN”. Mục tiêu chiến lược XĐGN thời kỳ 2001 - 2010 do Đại hội IX
đề ra là: “Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo. Thường xuyên củng cố
thành quả XĐGN”. Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Khuyến khích, tạo điều kiện

thiết cần được nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề XĐGN ở các khía cạnh
khác nhau. Nhưng đáng chú ý là một số công trình sau:
- Một số chính sách quốc gia về việc làm và XĐGN, H, Lao động, năm 2002.
- Đoàn Văn Thuận, Mối quan hệ giữa XĐGN với đảm bảo an ninh trật tự trên địa
bàn quận Thủ Đức - thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005.
- Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội thảo “XĐGN vùng
dân tộc thiểu số: phương pháp tiếp cận”, năm 2001.
- Trần Thị Hằng, “Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay”, Nxb Thống kê, năm 2001.
- Thái Văn Hoạt, “Giải pháp XĐGN trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện
nay”, năm 2006.
- Trần Đình Đàn, “Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm XĐGN ở tỉnh Hà
Tĩnh”, năm 2002.
- Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang… “Nghèo đói và XĐGN ở Việt Nam”, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, năm 2001.
- Hội thảo nghiên cứu giảm nghèo ở nông thôn từ cách tiếp cận vi mô. Chương trình
nghiên cứu Việt Nam, Hà Lan (VNRP), Đà Nẵng năm 2002.

- Ngân hàng Thế giới “Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam" năm 2004.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề
XĐGN. Đây là những tư liệu khoa học quý sẽ được tiếp thu có chọn lọc trong quá trình
viết luận văn của tác giả.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện XĐGN ở huyện Tân Châu.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề chung về nghèo đói và XĐGN.
- Làm rõ thực trạng và diễn biến XĐGN ở huyện Tân Châu. kết quả, hạn chế và

VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1 QUAN NIỆM VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH CHUẨN NGHÈO
1.1.1 Quan niệm về nghèo đói
Ngay từ những ngày đầu khi cách mạng Tháng Tám vừa thành công, Chính phủ
cách mạng lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu vừa được thành lập, ngày đêm
phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, nhưng cũng đã giành sự quan tâm sâu sắc đến
việc chăm lo cuộc sống cho người lao động nghèo khổ. Người kêu gọi toàn dân cùng
Chính Phủ tập trung lực lượng để chống ba thứ giặc là: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại
xâm, trong đó giặc đói Người đặt lên hàng đầu với lý do: “Ngày nay chúng ta đã xây
dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước ta được độc lập mà dân
không hưởng được tự do, hạnh phúc thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì”.
Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kiến quốc ngày 10/01/1946, Hồ
Chí Minh lại một lần nữa nhấn mạnh đến bổn phận của Nhà nước phải chăm lo cho dân có cơm
ăn, áo mặc, chỗ ở và việc học hành. Người nói:
Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự
do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ.
Chúng ta phải thực hiện ngay:
- Làm cho dân có ăn
- Làm cho dân có mặc
- Làm cho dân có chỗ ở
- Làm cho dân có học hành
Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với
tự do độc lập, và giúp sức cho tự do độc lập [17, tr.152].
Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, XĐGN đã trở thành mục tiêu phấn đấu của
toàn Đảng, toàn dân, một trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng
và Nhà nước ta hiện nay và về sau [15].
Thuật ngữ về nghèo đói là do người Việt Nam sử dụng để chỉ tình trạng nghèo và
tình trạng đói. Vấn đề nghèo và đói là hai vấn đề khác nhau, có thể ở vào tình trạng đói mà

Nghèo tuyệt đối: Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương do Ủy ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tháng 9/1993 tại
Băng Cốc (Thái Lan) đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là tình

trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con
người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế
và phong tục tập quán của địa phương”.
Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo, một định nghĩa có tính chất
hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo. Các tiêu
chí và chuẩn mực đánh giá còn để ngỏ về mặt lượng hóa (định lượng), bởi nó chưa tính
đến những khác biệt và độ chênh lệch giữa các vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể qui định
trình độ phát triển ở mỗi nơi. Quan niệm hạt nhân có trong định nghĩa này là ở nhu cầu cơ
bản của con người. Căn cứ xác định nghèo là ở chỗ đối với những nhu cầu cơ bản ấy, con
người không được hưởng và thỏa mãn.
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của
cộng đồng.
Theo hai khái niệm này, người nghèo là những người có nấc tận cùng bên dưới của
thu nhập, tức là những người mà thu nhập thấp hơn một tỷ lệ phần trăm nào đó của thu
nhập tính theo đầu người. Khái niệm nghèo tương đối gắn liền với ý niệm bất bình đẳng và
hẫng hụt so với mức sống trung bình. Mức này khác nhau từ nước này sang nước khác,
thậm chí từ vùng này, địa phương này sang vùng khác, địa phương khác. Nếu so sánh
nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng khái niệm nghèo tương đối. Để
đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thì sử dụng khái niệm nghèo tuyệt đối. Cách chọn
khái niệm tùy theo mục đích mà mình theo đuổi. Tuy nhiên cả hai khái niệm trên đều
không hoàn toàn đầy đủ. Khái niệm nghèo tuyệt đối không tính đến sự khác nhau về mức
sống ở các nước. Khái niệm nghèo tương đối không tính đến sự diễn biến của bối cảnh
kinh tế - xã hội, do đó không tính đến diễn biến của những nhu cầu.
Dựa vào các khái niệm trên,Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể hơn và được
nghiên cứu ở các cấp độ như:
Quan niệm về đói: Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới

quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, là cơ sở của việc tìm kiếm đồng bộ các giải pháp
XĐGN ở nước ta, nhất là vùng dân cư nông nghiệp và nông thôn hiện nay.
1.1.2 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo
1.1.2.1 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo thế giới
Để xác định chuẩn nghèo có nhiều tiêu chí, chuẩn mực đánh giá khác nhau. Trên thế giới
người ta lấy những chỉ tiêu: chất lượng cuộc sống (PQLI), chỉ tiêu phát triển con người (HDI),
chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng, chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người để làm
các tiêu chí xác định chuẩn nghèo.

Chỉ tiêu chất lượng cuộc sống: Bao gồm ba nhân tố cơ bản, đó là tuổi thọ, tỷ lệ tử
vong của trẻ sơ sinh và tỷ lệ mù chữ.
Chỉ tiêu phát triển con người: Do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc đưa ra bao
gồm hệ thống ba thành phần: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình
quân đầu người trong năm.
Chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng: Tính mức tiêu dùng quy ra kilocalo cho một người
trong một ngày.
Chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người: Đây là chỉ tiêu chính mà
hiện nay nhiều nước và tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàu nghèo. Tại Đại hội lần
thứ II của ủy ban giảm nghèo khổ khu vực (ESAP) họp tại Băng Cốc (Thái Lan), tháng 9
năm 1995, Ngân hàng thế giới đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu
nhập bình quân đầu người dưới 370 USD/người/năm [29].
Sự kết hợp chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân theo đầu người, chỉ tiêu phát triển
con người và chỉ tiêu chất lượng cuộc sống cho phép chúng ta nhìn nhận các nước giàu,
nghèo chính xác và khách quan hơn. Bởi nó cho phép đánh giá khách quan, toàn diện sự
phát triển con người trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội.
Ngoài các chỉ tiêu đánh giá trên, Ngân hàng thế giới (WB) còn dùng phương pháp
đánh giá mới thiên về môi trường để xếp loại nước giàu, nước nghèo. Ngân hàng thế giới
nhấn mạnh đến các nguồn lực thiên nhiên (bao gồm các tài sản tự nhiên như khoáng sản,
đất trồng trọt và các khu vực thiên nhiên khác) việc bảo vệ môi trường, vấn đề giáo dục, sự
linh hoạt, mềm dẻo về mặt xã hội và các tài sản nói chung thường ít được coi trọng nhưng

+ Vùng thành thị: dưới 25kg/người /tháng (tương đương 90.000 đồng).
- Giai đoạn 2001 - 2005 (Quyết định số 1143/ 2000/ QĐ-LĐTBXH):
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng.
+ Vùng thành thị: 150.000 đồng/người /tháng.
- Giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/ 2005/ QĐ-TTg):
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng.
+ Vùng nông thôn (cả miền núi và đồng bằng): 200.000 đồng/người/tháng.
+ Vùng thành thị: 260.000 đồng/người/ tháng
Trước năm 2006 chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn đồng bằng cao hơn chuẩn
nghèo cho khu vực nông thôn miền núi, mức chênh lệch là 1,25 lần. Khi áp dụng chuẩn
nghèo chung cho vùng nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi điều này sẽ có lợi hơn

cho người dân khu vực nông thôn miền núi. Đây cũng là sự thể hiện quan điểm bình đẳng
hơn, toàn diện hơn và bền vững hơn xét về khía cạnh xác định chuẩn nghèo.
Khu vực thành thị chuẩn nghèo mới cao gấp 1,73 lần chuẩn nghèo cũ, tương đương với
2,8 đô la Mỹ một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005.
Khu vực nông thôn đồng bằng chuẩn nghèo mới cao gấp 2 lần chuẩn nghèo cũ; khu
vực nông thôn miền núi chuẩn nghèo mới cao gấp 2,5 lần, tương đương 2,2 đô la Mỹ một
ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005.
Sau 20 năm đổi mới, thu nhập và mức sống của đại đa số người dân đã được cải
thiện, do vậy đối tượng nghèo đói cũng có sự thay đổi. Trước đây, do nguồn lực hạn chế
nên chương trình XĐGN chủ yếu tập trung cho đối tượng nghèo về lương thực, thực phẩm
- nghèo tuyệt đối (nhu cầu ăn no, mặc ấm). Hiện nay do mức sống được nâng lên nên nhu
cầu phi lương thực, thực phẩm (nhu cầu về nhà ở, chăm sóc sức khỏe khi ốm đau, giáo
dục, văn hóa, đi lại, giao tiếp xã hội) cũng tăng thêm và nhiệm vụ của chương trình là hỗ
trợ để giảm đối tượng nghèo phi lương thực, thực phẩm - nghèo tương đối. Cơ hội tiếp cận
và thụ hưởng các thành quả của sự phát triển cũng như sự khác biệt đáng kể giữa nhóm
giàu và nhóm nghèo, do sự phân hóa giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng. Chuẩn nghèo
cũng có sự thay đổi lớn.

lại và giao tiếp xã hội).
- Bước ba là xác định tổng nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm và phi lương
thực thực phẩm.
Tổng chi tiêu = Chi tiêu cho LTTP + Chi tiêu cho phi LTTP
Giá trị bằng tiền của tổng chi tiêu được gọi là đường nghèo chung hay còn gọi là
chuẩn nghèo cao.
Giá trị bằng tiền của chi tiêu cho lương thực thực phẩm là đường nghèo lương thực
thực phẩm hay còn gọi là chuẩn nghèo thấp.
Cũng bằng phương pháp trên, nhưng Tổng cục Thống kê đã chuyển từ mức chi tiêu
sang mức thu nhập để mọi người dễ hiểu và thuận lợi hơn cho việc điều tra khảo sát và
tính toán tỷ lệ nghèo đói. Những người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo chung được xếp
vào nhóm người nghèo; còn những ai có thu nhập thấp hơn mức chi tiêu cho lương thực
thực phẩm (đường nghèo LTTP) thì được xếp vào nghèo về lương thực thực phẩm.
Một điều đáng lưu ý là khi xác định người nghèo phải gắn chặt với thu nhập bình
quân của hộ gia đình. Tuy vậy tỷ lệ hộ nghèo không đồng nghĩa với tỷ lệ người nghèo,
thông thường trong một quốc gia thì tỷ lệ người nghèo bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ hộ
nghèo.

Ưu nhược điểm của phương pháp này
Ưu điểm: Có cơ sở khoa học tin cậy; độ chính xác cao; phản ánh sát thực trạng cuộc
sống, nhiều quốc gia công nhận và sử dụng, có cơ sở để so sánh với các quốc gia khác. Khi
điều chỉnh chuẩn nghèo cho từng năm chỉ cần điều chỉnh giá cả rổ hàng hóa.
Công thức tính:
1 1
( ) : 70 100
j j j
CN CTLTTP CSG CLTTP
 
    .
Trong đó: CN: chuẩn nghèo năm thứ j

Phương pháp này rất khoa học và tương đối đơn giản, một số nước phát triển ở Châu
Âu và Mỹ đã sử dụng, họ cho rằng người nghèo là những người có thu nhập không đủ để
chi phí cho lương thực thực phẩm và các dịch vụ xã hội. Do vậy, người ta xác định chuẩn
nghèo bằng khoảng 50% thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình trong cả nước.
Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta còn chia cụ thể cho các đối tượng khác nhau, chuẩn nghèo
vào năm 2001 ở Mỹ đối với người sống một mình, không có người ăn theo dưới 65 tuổi là
8,494 USD; đối với gia đình 9 người là 39,223 USD; đối với gia đình 4 người là 7,940
USD.
Tuy nhiên, có tài liệu khác do Trung tâm phát triển nguồn nhân lực Châu Á phối hợp
với Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Nguồn lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội cho rằng “theo quan niệm chung của nhiều nước, hộ nghèo có mức thu nhập dưới 1/3
mức trung bình của xã hội”, theo chuẩn này thì vào năm 1993 cả thế giới có 1,1 tỷ người
nghèo.
Qua nghiên cứu tài liệu có liên quan đề tài cho rằng việc lấy chuẩn nghèo bằng 1/2
hay 1/3 thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình là phụ thuộc vào trình độ phát
triển của mỗi nước, song biên độ dao động của chuẩn nghèo sẽ nằm trong 1/2 hay 1/3 mức
thu nhập bình quân. Nước phát triển (nước giàu) thu nhập cao, chi phí đắt đỏ có thể lấy
mức 1/2, nước chậm phát triển có thể lấy mức 1/3; nước đang phát triển có thể lấy ở
khoảng giữa của 1/2 và 1/3 mức thu nhập bình quân đầu người (Trình độ phát triển kinh tế
- xã hội của một nước thông qua chỉ số HID). Việt Nam được xếp vào nhóm nước đang
phát triển, năm 2002 thu nhập bình quân đầu người là 4.281 nghìn đồng, thì chuẩn nghèo
là 1.875 nghìn đồng, tương đương với 156.250 nghìn đồng/người/tháng. Năm 2005 ước
tính thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình là 5.183 nghìn đồng/người/năm
(tính theo tốc độ tăng bình quân của thời kỳ 1998-2002 là 6,58% một năm) thì chuẩn
nghèo là 2.159 nghìn đồng/năm, tương đương 179.9 nghìn đồng/tháng.
Công thức tính cho Việt Nam như sau: CNj = (TNj/2 + TNj/3): 2
Trong đó:
CNj là chuẩn nghèo năm thứ j.

TNj là thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình năm thứ j.

+ Chưa có trạm y tế hoặc có nhưng nhà tạm.

+ Chưa có chợ hoặc chợ tạm thời.
1.1.3 Sự cần thiết xóa đói giảm nghèo ở nước ta
Theo chuẩn chung của Ngân hàng thế giới, tỉ lệ hộ nghèo chung (gồm cả nghèo về
lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực) của Việt Nam đã giảm mạnh từ 58,1%
năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002 và còn khoảng 22% vào năm 2005. Như vậy, thông
qua chương trình XĐGN, Việt Nam đã giảm hơn 62% tỉ lệ hộ nghèo và về cơ bản xóa
xong hộ thiếu đói. Nếu tính theo chuẩn nghèo mới của Việt Nam áp dụng cho giai đoạn
2006 - 2010 (mức 200.000đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn và 260.000
đồng/người/tháng cho khu vực thành thị) thì tỉ lệ hộ nghèo chung của cả nước hiện có
khoảng 3,6 triệu hộ nghèo (chiếm tỉ lệ 21 - 22%). Mặc dù tỉ lệ hộ nghèo ở nước ta tính
theo chuẩn mới còn khá cao. Song những kết quả đạt được là rất to lớn. Sự điều chỉnh về
chuẩn nghèo nó phản ánh xu thế tăng trưởng phát triển cao của nền kinh tế Việt Nam.
Đồng thời nó thể hiện theo định hướng phát triển toàn diện hơn, bền vững hơn, công bằng
hơn và hội nhập hơn. Dù tính theo chuẩn nghèo quốc tế hay chuẩn nghèo mới của Việt
Nam thì thành tựu XĐGN trong những năm qua là rất đáng ghi nhận.
Sự thành công của chiến lược XĐGN ở Việt Nam đã hội tụ bởi nhiều nguyên nhân.
Trước hết là do Đảng và Nhà nước đã rất quyết tâm thực hiện các giải pháp mạnh mẽ về
cuộc chiến chống đói nghèo. Một loạt các chương trình dự án đã được thực hiện; chương
trình 135 hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn; chương trình 773 về tạo việc làm mới; chương
trình 327 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc; dự án trồng mới 5 triệu hécta rừng; dự án
khôi phục phát triển làng nghề; chương trình đánh bắt cá xa bờ… trong khi tiến hành các
biện pháp XĐGN, chủ trương giúp người nghèo về vốn và kiến thức làm ăn là một trong
những giải pháp quan trọng hàng đầu. Với phương châm “cho cần câu hơn cho xâu cá”
hướng đi này đã thật sự giúp người nghèo chủ động vươn lên thoát khỏi đói nghèo một
cách khá vững chắc. Giúp người nghèo thoát nghèo bằng lao động theo phương thức Nhà
nước và nhân dân cùng làm, đang tiếp tục được thực hiện ngày một hiệu quả trong thực
tiễn cuộc sống.
Sự kết hợp khéo léo giữa phát huy nội lực tại chỗ là chủ yếu với sự hỗ trợ và giúp đỡ

vẫn còn tồn tại thì giảm nghèo chính là quá trình chuyển đổi sang phương thức sản xuất
mới, tiến bộ hơn (nghèo ở các nước đang phát triển).
Nếu hiểu nghèo là do tình trạng phân phối thặng dư trong xã hội một cách bất công
đối với người lao động, do chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa thì giảm nghèo chính là quá

trình xóa bỏ chế độ sở hữu và chế độ phân phối này nghèo ở các nước phát triển (quan
niệm của Mác, Ăngghen và Lênin).
Nếu hiểu nghèo là hậu quả của tình trạng chủ nghĩa thực dân đế quốc kìm hãm sự phát
triển ở các nước thuộc địa, phụ thuộc thì giảm nghèo là quá trình các nước thuộc địa, phụ
thuộc giành lấy độc lập dân tộc để trên cơ sở đó phát triển kinh tế - xã hội.
Nếu hiểu nghèo là do sự bùng nổ gia tăng về dân số vượt quá tốc độ phát triển kinh tế
thì cũng có thể dẫn đến kết luận khác nhau về giảm nghèo. Điển hình là quan điểm của
MalThus cho rằng: dân số cứ tăng gấp đôi mãi, trái đất cứ nhỏ đi một nửa mãi trong khí đó
qui luật thu nhập giảm dần… do đó lương thực và phương tiện sinh hoạt tụt xuống dưới
mức cần thiết cho cuộc sống. Giải pháp mà MalThus đưa ra nhằm giảm nghèo là dùng
chiến tranh, bệnh dịch và nạn đói. Quan điểm này đã bị thực tế bác bỏ và chứng minh sự
phát triển đi lên của xã hội loài người. Sau này MalThus cũng nhận thấy sai lầm trong quan
điểm của mình khi không tính đến tác động của khoa học kỹ thuật, và các giai đoạn quá độ
về nhân khẩu học. Tuy nhiên quan điểm này vẫn có hạt nhân hợp lý đó là mối quan hệ giữa
dân số và phát triển kinh tế nhất là đối với các nước đang phát triển.
Còn nếu hiểu nghèo là do tình trạng thất nghiệp gia tăng hoặc xã hội rơi vào khủng
hoảng kinh tế thì giảm nghèo chính là tạo ra nhiều việc làm, xã hội ổn định và phát triển.
Ở nước ta hiện nay nghèo đói không phải là do sự bóc lột của giai cấp tư sản và địa
chủ đối với người lao động như trước đây mà do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế lạc hậu kém phát triển sang nền kinh tế phát triển hiện đại, trong
nền kinh tế này đang tồn tại và đan xen nhiều trình độ sản xuất khác nhau. Trình độ sản
xuất cũ, lạc hậu bị trầm tích, lưu giữ trong nền kinh tế, trong khi đó trình độ sản xuất mới
tiên tiến chưa đóng vai trò chủ đạo, thay thế các trình độ sản xuất cũ và lạc hậu này. Dó đó
dẫn đến có sự giàu nghèo khác nhau trong các tầng lớp dân cư.
Ở góc độ nước nghèo: Giảm nghèo ở nước ta chính là từng bước thực hiện quá trình

XĐGN theo hướng bền vững là một trong những nội dung quan trọng của phát triển bền
vững, vì XĐGN chính là tháo gỡ một trong những mắt xích trọng yếu nhất của sự phát triển
bền vững. Chính sách XĐGN theo hướng bền vững có nghĩa là phải gắn với phát triển và coi
đầu tư cho XĐGN cũng là đầu tư cho phát triển, chăm lo đến con người, hướng vào phát
triển con người, xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc. Có thể nói rằng, XĐGN vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển bền vững
[26].
Để XĐGN bền vững theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, các quốc gia cần xây
dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng vì người nghèo. Chiến lược này phải đảm bảo
thu nhập của người nghèo tăng nhiều hơn so với thu nhập trung bình của xã hội và góp

phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn qui định. Trong đó, vai trò của Chính phủ phải
hướng vào hoạch định chính sách, thể chế vĩ mô, cung cấp dịch vụ công, nhất là dịch vụ xã
hội cơ bản; phát huy vai trò của khu vực tư nhân trong đầu tư tăng trưởng, nâng cao năng
suất lao động, tạo việc làm và mở rộng sự tham gia của các đối tác xã hội vào công cuộc
XĐGN. Các chính sách và chương trình giảm nghèo phải hướng vào khuyến khích xã
nghèo, hộ nghèo vươn lên thoát nghèo trên cơ sở nâng cao năng lực thị trường và đa dạng
hóa sinh kế cho người nghèo. Một khi người nghèo tham gia tích cực vào thị trường, trở
thành chủ thể, chủ động trên thị trường sẽ có cơ hội việc làm tốt hơn, thu nhập đa dạng
hơn và khắc phục tính thụ động, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước.
Có thể mô hình hóa giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận thị trường và khuyến
khích thoát nghèo như sau: XĐGN hướng tiếp cận thị trường và khuyến khích thoát nghèo
phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, chính sách hướng vào nâng cao năng lực thị trường
cho người nghèo (tăng cường vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn tự nhiên và
vốn xã hội); xóa bỏ các rào cản, mở rộng cơ hội cho người nghèo, xã nghèo tiếp cận
chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, tiếp cận các thị trường cơ bản (đất đai, lao
động, vốn, thị trường hàng hóa đầu vào, đầu ra…) nhằm đa dạng hóa sinh kế, việc làm và
thu nhập cho người nghèo, khuyến khích họ tự mình vươn lên thoát nghèo vững chắc.
Phần đông dân số nước ta còn có mức sống thấp xấp xỉ chuẩn nghèo. Người nghèo
còn ít khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản và dễ bị tổn thương trước những rủi

nhóm yếu thế, thông qua cơ chế xã hội hóa, Nhà nước và nhân dân cùng làm. Tập trung
hoàn thiện mạng lưới an ninh xã hội phù hợp để đáp ứng nhu cầu bức xúc và khẩn cấp của
các nhóm dễ bị tổn thương, những người có hoàn cảnh khó khăn, nạn nhân của chiến tranh
và thiên tai, giúp họ hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa và hạn chế tình trạng tái đói kinh
niên và tái nghèo. Đây cũng là điều kiện quan trọng đảm bảo sự tiến bộ, công bằng, ổn
định và phát triển bền vững về mặt xã hội.
- Động viên cộng đồng người nghèo hãy phát huy nội lực, tự vươn lên thoát khỏi
nghèo đói, kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước và các cộng đồng khác thực hiện XĐGN
bền vững. Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn lực để XĐGN, phát huy nội lực là chính,
kết hợp sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hợp tác quốc tế để đẩy nhanh XĐGN.
- Có chính sách, cơ chế khuyến khích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển
giao công nghệ thích hợp đến các xã nghèo, người nghèo để phát triển kinh tế - xã hội, tạo
việc làm và tăng thu nhập cho người nghèo.
Ở nước ta, trong những năm đổi mới nền kinh tế đã có bước phát triển vượt bậc, đời
sống của đa số dân cư được cải thiện; công tác XĐGN đã thu được những thành tựu đáng
kể. Tuy vậy, mức sống của người dân vẫn còn thấp, phân hóa thu nhập có xu hướng tăng

lên, một bộ phận khá lớn dân cư vẫn còn sống nghèo đói. Trong đó có một số vùng cách
mạng, vùng dân tộc ít người và nhiều hộ gia đình có nhiều đóng góp cho cách mạng vẫn
chịu nhiều thiệt thòi trong hòa nhập cộng đồng và không đủ sức tiếp nhận những thành quả
do công cuộc đổi mới mang lại. Những giải pháp XĐGN tập trung cho đối tượng này vừa
là yêu cầu cấp thiết đối với mục tiêu phát triển bền vững, vừa mang tính nhân văn sâu sắc.
1.2.3 Phương thức tác động đến xóa đói giảm nghèo
1.2.3.1 Nhà nước hỗ trợ xóa đói giảm nghèo
Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 đã chỉ ra sự thiếu quan tâm của các cơ quan
Chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho người nghèo. Năm 1992, thành phố Hồ
Chí Minh đã có nỗ lực đầu tiên về XĐGN cấp tỉnh. Sáng kiến này đã nhanh chống nhận
được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng. Năm 1993, hàng loạt các tỉnh khác cùng tham gia
nỗ lực XĐGN.
Chính phủ Việt Nam cũng đã phát động hàng loạt các hoạt động liên quan đến

Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Chiến lược tăng trưởng kinh tế và XĐGN đã bao
gồm một loạt các chính sách và giải pháp. XĐGN được coi không chỉ là nhiệm vụ của Nhà
nước, toàn xã hội mà trước hết là bổn phận của chính người nghèo phải tự vươn lên để
thoát nghèo. Điều này nâng cao tính tự lực của người nghèo tham gia cùng Nhà nước
XĐGN. Đồng thời, chiến lược này cũng nhấn mạnh một số biện pháp cụ thể như sau:
- Phát triển công nghiệp, đô thị nhằm tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người
nghèo: sử dụng các sản phẩm và nguyên liệu từ các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, tạo việc
làm. Cung cấp tín dụng, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, tăng cường đào tạo nghề và giải
quyết tốt vấn đề di dân đô thị. Phát triển và mở rộng các mối liên kết giữa công nghiệp và
các hoạt động tiểu thủ công nghiệp ở đô thị trên cơ sở phát triển nhiều doanh nghiệp nhỏ
và vừa trong các lĩnh vực ngành nghề truyền thống với công nghệ hiện đại, tạo sản phẩm
có chất lượng cao, không gây ô nhiễm môi trường…
- Thiết lập khuôn khổ chiến lược, chính sách tổng thể phát triển đô thị để từng bước
giải quyết các khu nhà ổ chuột và tạm bợ ở thành phố và thị xã, giảm nghèo, giảm tính dễ
bị tổn thương của khu vực đô thị.
- Tạo môi trường xã hội để thực hiện công bằng xã hội, thực thi dân chủ cơ sở và trợ
giúp pháp lý cho người nghèo: tạo điều kiện để mọi người tham gia đầy đủ vào quá trình
phát triển, có cơ hội bình đẳng cho mọi người dân; tăng cường dân chủ cơ sở, các cuộc đối
thoại giữa chính quyền địa phương và cộng đồng người nghèo; trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt.
Từ năm 1993 đến năm 2005 Chính phủ đã nhiều lần đều chỉnh chuẩn nghèo để làm
cơ sở cho sự phấn đấu giảm nghèo của nhân dân ta. Từ năm 2006, Việt Nam áp dụng

chuẩn nghèo mới (bình quân 260.000đ/người/tháng ở đô thị và 200.000đ/người/tháng ở
nông thôn), với mức cao gấp hơn 2 lần so với chuẩn cũ áp dụng cho giai đoạn 2001 - 2005.
Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 được nâng lên đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng
cuộc sống của người nghèo và từng bước hội nhập với khu vực.
Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình 135 giai đoạn 2 (2006 - 2010) với một
trong những mục tiêu chính là giảm hơn 2/3 số hộ nghèo ở các vùng đặc biệt khó khăn.
Nội dung chính của chương trình là hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status