LUẬN VĂN:
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động tại công ty Trách nhiệm hữu
hạn- hữu nghị Việt Hàn
Vn l mt phm trự ca nn kinh t hng húa, l mt trong hai yu t quyt nh
sn xut v lu thụng hng húa.Cụng tỏc qun lý v s dng vn mang mt ý ngha
quan trng, l iu kin tiờn quyt doanh nghip tn ti v phỏi trin. Vỡ vy, vn
to lp v qn lý v s dng ng vn sao cho cú hiu qu nht nhm em li nhng
li ớch ti a cho doanh nghip ang l vn bc xỳc t ra i vi tt c cỏc doanh
nghip. Trong tng s vn kinh doanh vn lu động chim mt vai trũ ht sc quan
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động tại doanh nghiệp.
Ch¬ng 1
LÝ LUẬN CHUNG vÒ vèn LƯU ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
vèn LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP.
1.1.Tổng quan về vốn lưu động.
1.1.1. Khái niệm vÒ vèn l-u ®éng
Trước đây, dưới thời kỳ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp
quốc doanh hoạt động trong điều kiện Nhà nước giao vốn bao cấp về giá, sản xuất và
tiêu thụ theo đơn đặt hàng của Nhà nước các doanh nghiệp không có ý thức bảo tồn,
tiết kiệm và phát triển, thậm chí còn gây thất thoát, lãng phí nguồn vốn Nhà nước giao
cho.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ chế chính sách có sự thay đổi căn bản.
Nghị quyết Đại hội VI khóa 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Namđẫ
nhấn mạnh:” Các xí nghiệp quốc doanh không còn được bao cấp về giá và vốn, phải
chủ động sản xuất kinh doanh với quyền tự chủ đầy đủ đảm bảo tự bù đắp chi phí, nộp
đủ thuế và có lãi”. Theo tinh thần đó các doanh nghiệp sản xuất phải gắn với thị
trường, tự chủ trong sản xuất kinh doanh và tự chủ về vốn.
Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần có một lượng
vốn nhất định, trong đó vốn lưu động chiếm một vị trí khá quan trọng. Trong nền kinh
tế thị trường hiện nay, vốn lưu động là điều kiện quuết định đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động các doanh nghiệp cần
có các đối tượng lao động. Khác với tư liệu lao động các đối tượng lao động như:
Nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm… chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh
phục vụ cho sản xuất hoặc tiêu thụ ngay. Do vậy tốc độ vòng quay của vốn lưu dộng
gắn liền với tốc độ, sự vận động của đơn vị hàng hóa.
Tóm lại, vốn lưu động là một bộ phận là một bộ phận của vốn kinh doanh, là số
tiền ứng trước của tài sản lưu động cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
thực hiện các chức năng, mục đích của doanh nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của vốn lưu động.
Thứ nhất là, vốn lưu động tham gia vào một quá trình sản xuất kinh doanh. Trong
quá trình sản xuất đó vốn lưu động bị hao mòn hoàn toàn, giá trị hao mòn đó bị chuyển
hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm.
Thứ hai là, trong từng giai đoạn của quá trình sản xuất vốn lưu động thường
xuyên thay đổi hình thái cho phù hợp với đặc điểm cua từng giai đoạn sản xuất.
Mỗi hình thái vật chất của vốn đòi hỏi phải có một hình thức quản lý riêng phù
hợp.
Ta có quá trình sản xuất kinh doanh:
T
0
………DT
2
……….SX……….TP
2
……… T
1
Nh÷ng h×nh thøc kh¸c nhau cña vèn lu ®éng ®ßi hái mét c¸ch cã hiÖu qu¶.
1.1.3. Phân loại vốn lưu động.
Để quản lý sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại vốn
lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Thông thường có những tiêu
thức sau đây:
vốn góp cổ phần….
Các khoản nợ: Là các khoản vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn vay cá
ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành
trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán.
Cách phân chia này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp hay từ các
khoản nợ. Từ đó đi đến quyết định trong hoạt động và qủn lý, sử dụng vốn lưu động
hợp lý hơn.
1.1.3.4. Phân loại theo nguồn hình thành.
Nếu xét theo nguồn hình thành vốn lưu ®éng có thể chia thành các nguồn như
sau:
Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn lư u động được hình thành từ các nguồn vốn điều
lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt
giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn doanh nghiêp tự bổ sung trong quá trình
sản xuất kinh doanh từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn lưu động được hình thành từ vốn góp
liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc vật tư hàng hóa…
Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của ngân hàng thương mại, vốn vay bằng phát hành
trái phiếu…
Viẹc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho các doanh nghiệp
thấy được cơ cấu tài trợ cho nhu cầu vốn lưu độngtrong kinh oanh của mình. Từ góc độ
quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp
cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình.
1.2. Các phương pháp xác định nhu cầu vốn trong doanh nghiệp.
Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết cho doanh nghiệp có
thể sử dụng các phương pháp khác nhau. Tùy theo điều kiện cụ thể doanh nghiệp có
thể lựa chọn phương pháp thích hợp. Sau đây là một số phương pháp chủ yếu:
1j
ij
NijMV
Nhîc ®iÓm: Tuy nhiên do vật tư sử dụng có nhiều, quá trình sản xuất kinh
doanh qua nhiều khâu vì thế việc tính toán nhu cầu vốn theo phương pháp này tương
đối phức tạp, mất nhiều thời gian.
Sau đây là phương pháp xác định nhu cầu vốn cho từng khâu kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.2.1.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất.
Vốn lưu động trong khâu dự trữ bao gồm: Giá trị các loại nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ nhỏ. Đối với nhu cầu vốn
nguyên vật liệu chính.
Công thức tính toán như sau:
Trong đó:
V
nl
: Nhu cầu vốn vật liệu chính năm kế hoạch.
M
n
: Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày về chi phí nguyên vật liệu chính năm kế
hoạch.
N
nl
: Số ngày dự trữ hợp lý.
Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày về nguyên vật liệu chính năm kế hoạch được xác
định bằng cách lấy tổng chi phí sử dụng nguyên vật liệu chính trong năm kế hoạch chia
T% : Tỷ lệ % của các loại vốn dó so với tổng mức luân chuyển.
1.2.1.2. Xác định nhu cầu vốn lưu động trong khâu sản xuất.
Vốn lưu động trong khâu sản xuất bao gồm vốn sản phẩm đang chế tạo( sản phẩm
dở dang), vốn chi phí chờ kết chuyển.
Xác định nhu cầu vốn lưu động sản phẩm đang chế tạo.
Sự tồn tại của các sản phẩm dở dang trong quá trình sản xuất là cần thiết để đảm
bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục. Tuy nhiên việc xác định
nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo trong khâu sản xuất là tương đối phức tạp do mức
độ gia tăng chi phí không bao giờ cũng được phân bổ đồng đều theo thời gian hay giai
đoạn chế biến sản phẩm. Để xác định nhu cầu vốn này nói chung phải căn cứ vào ba
yếu tố cơ bản là mức chi phí sản xuất bình quân 1 ngày kỳ kế hoạch, độ dài chu kỳ sản
xuất sản phẩm và hệ số sản phẩm đang chế tạo.
Công thức tính toán như sau: %T.MV
lcnk
sk.ndc
H.CPV
Trong đó:
V
dc
: Nhu cầu vốn sản phẩm dâng chế tạo.
P
n
Để xác định vốn chi phí chờ kết chuyển phải căn cứ vào số dư chi phí chờ kết
chuyển đầu kỳ, số chi phí chờ kết chuyển phát sinh trong kỳ và số chi phí chờ kết
chuyển dự kiến phân bổ vào giá thành sản phẩm trong kỳ.
Công thức tính toán như sau:
Trong đó:
V
pb
: Vốn chi phí chờ kết chuyển trong kỳ kế hoạch.
V
pd
: Vốn chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ kế hoạch.
V
pt
: Vốn chi phí chờ kết chuyển tăng trong kỳ kế hoạch.
V
pg
: Vốn chi phí chờ kết chuyển vào giá thành sản phẩm trong kỳ kế hoạch.
1.2.1.3. Xác định nhu cầu vốn lưu động khâu lưu thông.
Là nhu cầu vốn lưu động để lưu giữ, bảo quản sản phẩm, thành phẩm ở kho thành
phẩm với quy mô cần thiết trước khi xuất giao cho khách hàng.
Công thức tính toán như sau: Trong đó:
V
tb
: Vốn thành phẩm trong kỳ kế hoạch.
thụ và khả năng sản xuất bình quân mỗi ngày của doanh nghiệp. Để tính số ngày dự trữ
hợp lý cần nhân với hệ số xen kẽ vốn thành phẩm. Phương pháp xác định hệ số xen kẽ
vốn thành phẩm cũng giống như khi tính hệ số xen kẽ vốn dự trữ nguyên vật liệu
chính.
Số ngày xuất kho và vận chuyển là số ngày cần thiết để đưa hàng từ kho của
doanh nghiệp đến địa điểm giao hàng tại doanh nghiệp thì không cần tính số ngày này.
Số ngày thanh toán là số ngày từ khi lập chứng từ thanh toán cho đến khi thu
được tiền về.
Công thức trên có thể áp dụng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong từng
trường hợp cụ thể cần xem xét, vận dụng cho phù hợp với đặc điểm riêng của từng
doanh nghiệp.
Sau khi xác định nhu cầu vốn lưu động trong từng khâu kinh doanh, tổng hợp lại
sẽ có toàn bộ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch.
1.2.2. Phương pháp gián tiếp.
Đặc điểm của phương pháp gián tiếp là dựa vào kết quả thống kê kinh nghiệm về
vốn lưu động bình quân năm báo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch và
khả năng tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch để xác định nhu cầu vốn
lưu động của doanh nghiệp năm kế hoạch.
Công thức tính toán như sau: Trong đó:
t1
M
M
.VV
0
1
§Lnc
: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo.
Trên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch các doanh
nghiệp thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào tổng mức luân chuyển vốn
va vòng quay vốn lưu động dự tính năm kế hoạch.
Công thức tính toán như sau: Trong đó:
M
1
: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch.
L
1
: Số vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch.
Việc dự tính tổng mức luân chuyển vốn của kỳ kế hoạch có thể dựa vào tổng mức
luân chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo.
100
K
KK
%t
0
01
1
1
nc
L
M
lưu động.
Công thức tính toán như sau:
§L
V
M
L
M
360
.V
Khay
L
360
K
§L
Trong đó:
K : Kỳ luân chuyển vốn lưu động.
Vồng quay vốn lưu độngcàng nhan thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn và
chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả.
Trong các công thức trên, tổng mức luân chuyển vốn phản ánh giá trị luân chuyển
của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ, nó được xác định bằng tổng doanh thu trừ đi các
khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách Nhà nước.
Số vốn lưu động trong kỳ được tính theo phương pháp bình quân số vốn lưu dộng
trong từng quý hoặc tháng.
Công thức tính toán như sau:
: Vốn lưu động bình quân cuối quý 1,2,3,4.
1.3.2. Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển.
Mức tiết kiệm vèn lu ®éng: Là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doang
nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặc
tăng không đáng kể quy mô vốn lưu động.
Công thức tính toán như sau:
4
VVVV
V
4321
qqqq
§L
4
2
4Vdq
VVcq
2
V
Vhay
3
1
cq2
dq
§L
1.3.4. Hàm lượng vốn lưu động.
Là chỉ tiêu phản ánh mức đảm nhận về vốn lưu động để tạo ra doanh thu. Đó là
chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Chỉ tiêu này ngày càng lớn thì mức đảm nhận của vốn lưu động càng cảôtng
doanh thu.
Chỉ tiêu này được phản ánh theo ngành.
Ngành công nghiệp nặng chỉ tiêu này thấp thì vốn lưu động chiếm tổng trong vốn
lưu động thấp. Ngược lại ngàng công nghiệp nhẹ chỉ tiêu này cao vì vốn lưu động
chiếm trong tổng số lớn (tối đa 90%). 1.3.5. Mức doanh lợi vốn lưu động.
Chỉ tiêu này được tính bằnh tổng lợi nhuận trước thuế( hoặc lợi nhuận sau thuế
thu nhập) chia cho số vốn lưu động bình quân trong kỳ.
bq
§VL
thuDoanh
§VLdôngsö¶quHiÖu
thuDoanh
§VL
§VLînglHµm
bq
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trước thuế(hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập). Mức doanh lợi vốn lưu động càng
cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.
Tóm lại, nâmg cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là vấn đề cần thiết đối với mọi
tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc ®Çu tư kiếm lời.
1.4.1.1. Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý.
Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho doanh nghiệp có thể
tránh được các rỉu ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải ra hạn thanh toán
nên bị phạt hoặc tr¶ lãi cao hơn, kh«ng làm mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp,
tận dụng các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho doanh nghiệp .
Phương pháp đơn giản thường dùng để xác định mức dự trữ ngân quỹ hợp lý là
lấy mức xuất ngân quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ ngân quỹ.
Người ta có thể sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong quản trị vốn tồn
kho dự trữ để xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp. Bởi vì giả sử
doanh nghiệp có một lưọng tiền mặt và phải sử dụng nó để dáp ứng các khoản chi tiêu
tiền mặt một cách đều đặn. Khi lượng tiền mặt đã hết, doanh nghiệp có thể bán chứng
khoán ngắn hạn( có tính thanh khoản cao) để có được lượng tiền mặt như lúc đầu. Có
hai loại chi phí cần xem xết ki bán chứng khoán: một là chi phí cơ hội của việc giũ tiền
mặt, đó chính là mức lợi tức chứng khoán doanh nghiệp bị mất đi; hai là chi phí cho
việc bán chứng khoán mỗi lần, đóng vai trò như một chi phí mỗi lần thực hiện hợp
đồng. Trong điều kiện đó mức dự trữ vốn tiền mặt tối đa của doanh nghiệp chính bằng
số lượng chứng khoán cần bán mỗi lần để có đủ lượng vốn tiền mặt mong muốn bù đắp
được nhu cầu chi tiêu tiền mặt.
1.4.1.2. Dự đoán và quản lý các luồng nhập xuất vốn tiền mặt( ngân quỹ)
Dự đoán ngân quỹ là các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả
kinh doanh; từ kết quả hoạt động tài chính; luồng đi vay và các luồng tăng vốn
khác.Trong các luồng nhập ngân quỹ kể trên, luồng nhập ng©n quỹ tõ kết quả kinh
doanh là quan trọng nhất. Nó được dự đoán dựa trên cơ sở các khoản phải thu bằng tiền
mặt dự kiến trong kỳ.
Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản chi cho hoạt động
sản xuất kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt động đầu
Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là các tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ để sản
xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh ngiệp tài sản tồn kho dự trữ thường ở ba
dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dở dang và bán thành
phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tùy theo các nghành nghề kinh doanh mà tỷ trọng
các loại tài sản dự trữ trên có khác nhau.
Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng,không phải
chỉ vì trong doanh nghiệp tồn kho dự trữ thường chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng giá trị
tài sản của doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp
lý sẽ giúp cho doanh ngiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm hàng
hóa để bán, đồng thời để sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động.
1.4.2.2. Các phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ.
Thứ nhất: Phương pháp tổng chi phí tối thiểu.
Mục tiêu của quản trị vốn tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hóa các chi phí dự trữ
tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh
được tiến hành bình thường.
Việc lưu giữ một lượng hàng tồn kho làm phát sinh các chi phí. Tồn kho càng
lớn, vốn tồn kho dự trữ càng lớn thì không thể sử dụng cho mục đích khác và làm tăng
chi phí cơ hội của số vốn này. Vì vạy doanh nghiệp cần xem xét mức dự trữ hợp lý để
giảm tổng chi phí dự trữ hàng tồn kho tới mức thấp nhất. Phương pháp quản lý dự trữ
hàng tồn kho theo nguyên tắc trên được gọi là phương pháp tổng chi phí tối thiểu.
Phương pháp tồn kho bằng không
Phương pháp này cho rằng các doanh nghiệp có thể giảm thấp các chi phí tồn kho
dự trữ đến mức tối thiểu với điều kiện các nhà cung cấp phải cung ứng kịp thời cho các
doanh nghiệp các loại vật tư, hàng hóa khi cần thiết. Do đó có thể giảm được các chi
ohí lưu kho cũng như các chi phí thực hiện hợp đồng. Phương pháp này có ưu điểm tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp có thể dành ra một khoản ngân quỹ sử dụng cho đầu tư
mới; tuy nhiên phương pháp này lại tăng các chi phí phát sinh từ việc tổ chức gioa
đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi đến hạn. Doanh nghiệp còn phải lựa chọn các hình
thức thanh toán thích hợp an toàn và hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp
1.4.4. Quản trị vốn lưu động khác.
Tài sản lưu động khác bao gồm: các khoản tạm ứng, chi phí tả trước, cầm cố, ký
cược, ký quỹ ngắn hạn…
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, theo yêu cầu của bên đối tác, khi
vay vốn, thuê mượn tài sản hoặc mua bán đấu thầu làm đại lý…doanh nghiệp phải tiến
hành cầm cố ký cược ký quỹ.
Cầm cố là bên có nghĩa vụ( doanh nghiệp) giao một động sản thuộc sở hữu của
mình hoặc một quyền tài sản được phép giao dịch cho bên có quyền( phía đối tác) để
đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ hay thỏa thuận.
Ký cược( đặt cược) là việc bên thuê tài sảntheo yêu cầu của bên cho thuê động
sản phải đặt cược một số tiền hoặc kim khí quý, đá quý hay các vật có giá trị khác
nhằm rảng buộc và nâng cao và nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài
sản đi thuê và hoàn trả tài sản đúng thời gian quy định đối với ngưòi đi thuê. Trường
hợp bên thuê không trả lại tài sản thì ký cược thuộc về bên cho thuê.
Ký quỹ là việc bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải gửi trước một số tiền,
kim khí quý, đá quý hoặc một số giấy tờ khácgiá trị được bằng tiền vào tài khoản
phong tỏa tại ngân hàng. Số ký quỹ sẽ ràng buộc bên ký quỹ yên tâm khi giao hàng hay
nhận hàng theo những điều kiện đã ký kết. Trong trường hợp bên ký quỹ không tôn
trọng hợp đồng sẽ bị phạt và trừ vào tiền đã được ký quỹ. Bên có quyền được ngân
hng ni ký qu thanh toỏn, bi thng thit hi do bờncú ngha v gõy ra sau khi tr
chi phớ dch v ngõn hng.
Trên đây là những vấn đề lý luận về vốn lu động và quản trị vốn lu động,
để góp phần nâng cao hiệu quả vốn lu động ta nghiên cứu thực trạng quản trị vốn
lu dộng của Công ty.
Các sản phẩm của công ty được phân phối và bán ở cả thị trường trong nước và
nước ngoài. Việt Hàn sẽ đem đến cho các bạn những sản phẩm chất lượng tốt nhất, an
toàn nhất, siêu bền nhất, tiết kiệm nhất ngang hàng với các sản phẩm của các công ty
hàng đầu thế giới bởi các nguyên liệu, thiết bị chính được nhập từ các nước uy tín trên
thế giới, từ các nước G7, Úc, Mỹ… lắp gáip dây chuyền công nghệ tiên tiến nhập từ
Nhật Bản, Hoa Kỳ và được những bàn tay khối óc của con người Việt Hàn thực hiện.
Sản phẩm của Việt Hàn sẽ đến cùng khách hàng với các mẫu mã chế tạo phù hợp với
môi trường Việt Nam và thỏa mãn thị hiếu kể cả những khách hàng khó tính nhất.
Với biện pháp quản lý tổng thể áp dụng nghiêm ngặt tiêu chuẩn chất lượng Quốc
tế ISO 9001 Việt Hàn quan tâm ngay từ đầu khâu sản phẩm đầu vào, mỗi bước đi trong
quá trình sản xuất phải được hoàn thiện đến từng chi tiết, do đó sản phẩm của công ty
đã đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng.
Con người việt Hàn được giáo dục ý thức”Công ty là gia đình, đồng nghiệp là anh
em”, tọa ra môi trương làm việc cộng đồng thân ái đầy trách nhiệm, đồng thời được
thường xuyên đào tạo trau dồi kiến thức và nâng cao tay nghề. Công ty TNHHHN
Việt Hàn áp dụng chính sách” hướng tới khách hàng” luôn luôn không ngừng tìm hiểu
nhu cầu của khách hàng để tạo ra những sản phẩm vừa lòng khách hàng
Toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty Việt Hàn trên dưới một lòng cùng
nhau nối vòng tay lớn thực hiện chính sách của công ty trong khuôn khổ các chính sách