Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty Trách nhiệm hữu hạn- hữu nghị Việt Hàn - Pdf 10

Lêi më ®Çu.
Vốn là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa, là một trong hai yếu tố
quyết định sản xuất và lưu thông hàng hóa.Công tác quản lý và sử dụng vốn
mang một ý nghĩa quan trọng, là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tồn tại và
phái triển. Vì vậy, vấn đề tạo lập và qủn lý và sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu
quả nhất nhằm đem lại những lợi ích tối đa cho doanh nghiệp đang là vấn đề bức
xúc đặt ra đối với tất cả các doanh nghiệp. Trong tổng số vốn kinh doanh vốn lưu
®éng chiếm một vai trò hết sức quan trọng.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh diễn ra hết sức quyết liệt giữa các
doanh nghiệp, nó đặt các doanh nghiệp luôn phải đứng trước các yêu cầu như cải
tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao uy tín trên thị trường …
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh
được đặt ra như một yêu cầu tất yếu đối với câc doanh nghiệp.
Việc sử dụnh vốn lưu động hợp lý sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của công ty. Làm thế nào để sử dụng
vốn lưu động một cách có hiệu quả nhất là vấn đề khó khăn đối với công ty hiện
nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề sử dụng vốn lưu ®ộng của
doanh nghiệp, bằng kiến thức đã học ở trường và ®i sâu vào nghiên cứu về mảng
tài chính, em chọn đề tài:” Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
tại công ty Trách nhiệm hữu hạn- hữu nghị Việt Hàn”. Với mục đích tăng thêm
sự hiểu biết về hoạt động quản trị tài chính trong một doanh nghiệp, nắm bắt các
1
vn thc tin v tỡm kim nhng gii phỏp cú tớnh tham kho nhm nõng cao
hiu qu s dng vn lu ng trong ti cụng ty.
Phơng pháp luận mà em sử dụng trong quá trình xây dựng khoá luận là vận
dụng kiến thức đã học kết hợp với tài liệu sách báo để tìm hiểu thực tiễn về vấn đề
nhằm tìm kiếm giải pháp thích hợp.
Phơng pháp đợc sử dụng là phơng pháp phân tích, so sánh đánh giá tình hình
diễn biến của Công ty. Nhng vn trỡnh by trong chuyờn chớnh l nghiờn
cu v quỏ trỡnh qun lý s dng vn lu ng ca cụng ty t ú phõn tớch,

cần có các đối tượng lao động. Khác với tư liệu lao động các đối tượng lao động
3
như: Nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm… chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất kinh và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được
chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm.
Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái biểu hiện được gọi
là tài sản lưu động, còn nếu xét về hình thái giá trị thì được gọi là vốn cố định
của doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp người ta chia tài sản lưu động thành hai loại: Tài
sản lưư động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Trong quá trình sản xuất
kinh doanh các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông vận động
thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh
được tiến hành liên tục.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa- tiền tệ, để hình thành các tài sản lưu
động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông các doanh nghiệp bỏ ra một số vốn
đầu tư ban đầu nhất định. Vì vậy có thể nói vốn lưu động của doanh nghiệp là
một số vốn tiền tự ứng trước để đầu tư, mua sắn tài sản lưu động của doanh
nghiệp. Vốn lưu động thuần của doanh nghiệp được xác định bằng tổng giá trị tài
sản lưu động của doanh nghiệp trừ đi các khoản nợ ngắn hạn.
Phù hợp với đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh
nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ sản xuất: Dự
trữ sản xuất và lưu thông. Quá tình này dược diễn ra liên tục và thường xuyên
lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu
động lại thay đổi hình thái biểu hiện từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang
hình thái vốn vật tư, hàng hóa dự trữ và vốn sản xuất, rồi tái sản xuất, vốn lưu
động hoàn thành một vòng chu chuyển.
4
từ những tổng quan chung về vốn lưu động ta đii đến khái niệm về vốn lưu
động: Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền giá trị của toàn bộ tài sản lưu
đôngtrong doanh nghiệp.

những tiêu thức sau đây:
1.1.3.1. Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
Theo cách phân loại này, vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành
3 loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự tr÷ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản
nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay
thế, công cụ lao động nhỏ.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị dở dang,
bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành
phẩm, vốn bằng tiền( kể cả vàng bạc, đá quý…) các khoản vốn đầu tư ngắn hạn
(đầu tư chứng khoán ngắn hạn,…) các khoản thay thế, ký cược, ký quỹ ngắn hạn,
các khoản vốn trong thanh toán ( các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…)
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong
từng khâu của quá trình kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn
lưu động sao cho có hiệu quả cao nhất.
1.1.3.2. Phân loại theo hình thái biểu hiện.
Theo cách này vốn lưu ®éng có thể chia thành hai loại:
- Vốn lưu động hàng hóa: Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện
bằng hiện vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,
thành phẩm.
6
- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn bằng tiền tệ như: Tiền mặt tại quỹ,
tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn.
1.1.3.3. Phân loại theo quan hệ sơ hữu về vốn.
Theo cách này người ta chia vốn lưu động thành hai loại:
- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn lưu động huộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Tùy
theo loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở

doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp thích hợp. Sau đây là một số phương
pháp chủ yếu:
1.2.1. Phương pháp trực tiếp
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến việc giữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩmđể xác định nhu cầu
của từng khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu
vốn lưu động của doanh nghiệp.
Công thức tổng quát như sau:
Trong đó:
V: Nhu cầu vốn lưu động trong doanh nghiệp.
M: Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày của loại vốn được tính toán.
8
( )
∑∑
= =
⋅=
k
1i
n
1j
ij
NijMV
N: Số ngày luân chuyển của loại vốn được tính toán.
i: Số khâu kinh doanh( i=1; k).
j: Loại vốn sử dụng( j=1;n).
Mức tiêu dùng của một loại vốn nào đó trong khâu tính toán được tính bằng
tổng mức tiêu dùng trong kỳ( theo dự toán chi phí) chia cho số ngày trong
kỳ(tính chẵn 365 ngày).
Số ngày luân chuyển của một loại vốn nào đó được xác định căn cứ vào các
nhân tố liên quan về số ngày luân chuyển của một loại vốn nào đó trong từng

được xác định bằng cách lấy tổng chi phí sử dụng nguyên vật liệu chính trong
năm kế hoạch chia cho số ngày trong năm( quy ước 360). Trong đó tổng chi phí
nguyên vật liệu sử dụng trong năm được xác định căn cứ vào số lượn sản phẩm
dự kiến sản xuất, mức tiêu dùng nguyên vật liệu chính cho mỗi đơn vị sản phẩm
và đơn giá kế hoạch của nguyên vật liệu.
Số ngày dự trữ hợp lý về nguyên vật liệu chính là số ngày kể từ khi doanh
nghiệp bỏ ra mua cho đến khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất nó bao gồm: Số
ngày hàng đi đường, số ngày nhập kho( sau khi đã nhân với hệ số xen kẽ), số
ngày kiểm nhận nhập kho, số ngày chuẩn bị sử dụng và số ngày bảo hiểm.
Đối với các loại vốn khác trong khâu dự trữ sản xuất( như vật liệu phụ,
nhiên liệu , phụ tùng thay thế…) nếu sử dụng nhiều và thường xuyên có thể áp
dụng phương pháp tính toán như đối với các khoản vốn nguyên vật liệu chính đã
nêu ở trên.
Ngược lại đối với các loại vốn sử dụng không nhiều và không thường
xuyên, mức tiêu dùng ít bị biến động có thể áp dụng phương pháp tính tỷ lệ(%)
với tổng mức luân chuyển của loại vốn đó trong khâu dự trữu sản xuất.
Công thức tính toán như sau:
Trong đó:
V
nk
: Nhu cầu vốn trong khâu dự trữ sản xuất của các loại vốn khác.
10
%T.MV
lcnk
=
M
lc
: Tổng mức luân chuyển của các loại vốn đó trong khâu dự trữ sản xuất.
T% : Tỷ lệ % của các loại vốn dó so với tổng mức luân chuyển.
1.2.1.2. Xác định nhu cầu vốn lưu động trong khâu sản xuất.

Mức chi phí sản xuất bình quân 1 ngày được tính bằng cách lấy tổng chi phí
chi ra trong kỳ kế hoạch lại được tính bằng cách nhân số lượng sản phẩm sản
xuất kỳ kế hoạch với giá thành sản xuất đơn vị của từnh loại sản phẩm.
Chu kỳ sản xuất sản phẩm là khoảng thời gian kể từ khi đưa nguyên vật liệu
vào sản xuất cho đén khi sản phẩm được chế tạo xong và kiểm tra nhập kho. Độ
dài chu kỳ sản xuất phụ thuộc vào thời gian quá trình lao đôngj và thời gian quá
trình tự nhiên trong quá trình sản xuất. Việc xác định chu kỳ sản xuất tốt nhất
căn cứ vào kết quả tính toán của các phòng kỹ thuật –coong nghệ sản xuất.
Hệ số sản phẩm đang chế tạo là tỷ lệ %giữa giá thành bình quân sản phẩm
đang chế tạo và giá thành bình quân sản phẩm. Hệ số này cao hay thấp phụ thuộc
vào tình hình bỏ chi phí vào quá trình sản xuất sản phẩm. Nếu phần lớn chi phí
được bỏ ngay từ giai đoạn đầu của quá trình sản xuất thì hệ số này sẽ cao và
ngược lại.
Xác định nhu cầu chi phí chờ kết chuyển( chi phí phân bổ dần).
Chi phí chờ kết chuyển là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng
chưa tính hết giá thành sản phẩm trong kỳ mà được phân bổ dần vào nhiều kỳ
tiếp theo để phản ánh đúng đắn tác dụng của chi phí và không gây biến động lớn
đến giá thành sản phẩm.
Chi phí chờ kết chuyển có thể bao gồm: Các chi phí sửa chữa lớn, chi phí
nghiên cứu, thí nghiệm, chi phí công cụ lao động nhỏ xuất dùng một lần có giá
trị lớn, chi phí các công trình tạm, ván khuôn, giàn giáo xây dựng cơ bản, chi phí
trong thời gian ngừng việc có tính chất thời vụ…
Để xác định vốn chi phí chờ kết chuyển phải căn cứ vào số dư chi phí chờ
kết chuyển đầu kỳ, số chi phí chờ kết chuyển phát sinh trong kỳ và số chi phí
chờ kết chuyển dự kiến phân bổ vào giá thành sản phẩm trong kỳ.
12
Công thức tính toán như sau:
Trong đó:
V
pb

ngày này bao gồm số ngày dự trữ ở kho thành phẩm, số ngày xuất kho vận
chuyển, số ngày thanh toán.
13
pgptpdpb
VVVV
−+=
tpsxtb
N.ZV
=
Số ngày dự trữ ở kho thành phẩm là số ngày kể từ lúc thành phẩm nhập kho
cho đến khi được xuất kho tiêu thụ và thu tiền về.Số ngày này bao gồm số ngày
dự trữ ở kho thành phẩm, số ngày xuất kho vận chuyển, số ngày thanh toán.
Số ngày dự trữ ở kho thầnh phẩm là số ngày kể từ lúc thành phẩm nhập kho
cho đến khi được xuất kho tiêu thụ. Để xác định số ngày này cần căn cứ vào hợp
đồng tiêu thụ và khả năng sản xuất bình quân mỗi ngày của doanh nghiệp. Để
tính số ngày dự trữ hợp lý cần nhân với hệ số xen kẽ vốn thành phẩm. Phương
pháp xác định hệ số xen kẽ vốn thành phẩm cũng giống như khi tính hệ số xen
kẽ vốn dự trữ nguyên vật liệu chính.
Số ngày xuất kho và vận chuyển là số ngày cần thiết để đưa hàng từ kho
của doanh nghiệp đến địa điểm giao hàng tại doanh nghiệp thì không cần tính số
ngày này.
Số ngày thanh toán là số ngày từ khi lập chứng từ thanh toán cho đến khi
thu được tiền về.
Công thức trên có thể áp dụng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong từng
trường hợp cụ thể cần xem xét, vận dụng cho phù hợp với đặc điểm riêng của
từng doanh nghiệp.
Sau khi xác định nhu cầu vốn lưu động trong từng khâu kinh doanh, tổng
hợp lại sẽ có toàn bộ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch.
1.2.2. Phương pháp gián tiếp.
Đặc điểm của phương pháp gián tiếp là dựa vào kết quả thống kê kinh

K
0
: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo.
Trên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch các
doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào tổng mức luân
chuyển vốn va vòng quay vốn lưu động dự tính năm kế hoạch.
Công thức tính toán như sau:
15
( )
t1
M
M
.VV
0
1
§Lnc
+⋅=
100
K
KK
%t
0
01


=
1
1
nc
L

16
§L
V
M
L
=
L : Số lần luân chuyển( số vòng quay) của vốn lưu động trong kỳ.
M : Tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ
V

: Vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Kỳ luân chuyển vốn lưu động phản ánh số ngày để thực hiện một vòng
quay vốn lưu động.
Công thức tính toán như sau:
Trong đó:
K : Kỳ luân chuyển vốn lưu động.
Vồng quay vốn lưu độngcàng nhan thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút
ngắn và chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả.
Trong các công thức trên, tổng mức luân chuyển vốn phản ánh giá trị luân
chuyển của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ, nó được xác định bằng tổng doanh
thu trừ đi các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách Nhà
nước.
Số vốn lưu động trong kỳ được tính theo phương pháp bình quân số vốn lưu
dộng trong từng quý hoặc tháng.
Công thức tính toán như sau:
17
M
360.V
Khay
L

V
đq1
: Vốn lưu động đầu quý 1.
V
q1
, V
q2
, V
q3
, V
q4
: Vốn lưu động bình quân các quý 1,2,3,4.
V
cq
1, V
cq2
, V
cq3
, V
cq4
: Vốn lưu động bình quân cuối quý 1,2,3,4.
1.3.2. Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển.
- Mức tiết kiệm vèn lu ®éng: Là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doang
nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm
hoặc tăng không đáng kể quy mô vốn lưu động.
Công thức tính toán như sau:
Trong đó:
V
tktgđ
: Vốn lưu động tiết kiệm tương đối.

-Chỉ tiêu này ngày càng lớn thì mức đảm nhận của vốn lưu động càng
cảôtng doanh thu.
-Chỉ tiêu này được phản ánh theo ngành.
Ngành công nghiệp nặng chỉ tiêu này thấp thì vốn lưu động chiếm tổng
trong vốn lưu động thấp. Ngược lại ngàng công nghiệp nhẹ chỉ tiêu này cao vì
vốn lưu động chiếm trong tổng số lớn (tối đa 90%).
1.3.5. Mức doanh lợi vốn lưu động.
Chỉ tiêu này được tính bằnh tổng lợi nhuận trước thuế( hoặc lợi nhuận sau
thuế thu nhập) chia cho số vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận trước thuế(hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập). Mức doanh lợi vốn lưu
động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.
Tóm lại, nâmg cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là vấn đề cần thiết đối
với mọi doanh nghiệp vì yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh,nó
quyết định đầu ra và giá bán của sản phẩm đó, mà giá bán là một trong những
chiến lược cạnh tranh hàng đầu trong việc thu hút khách hàng nhằm tăng lợi
nhuận của doanh nghiệp.
1.4. Nội dung quản trị vốn lưu động
Là một trong hai thành phần của vốn sản xuất, vốn lưu động bao gồm tiền
mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải
thu, phải trả, hàng hóa tồn kho và tài sản lưu động khác. Vốn lưu động đóng một
vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do
19
thuDoanh
§VL
§VLîng­lHµm
bq
=
vây., muốn tồn tại và phát triển được thì nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải
sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất.

Người ta có thể sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong quản trị
vốn tồn kho dự trữ để xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý của doanh
nghiệp. Bởi vì giả sử doanh nghiệp có một lưọng tiền mặt và phải sử dụng nó để
dáp ứng các khoản chi tiêu tiền mặt một cách đều đặn. Khi lượng tiền mặt đã hết,
doanh nghiệp có thể bán chứng khoán ngắn hạn( có tính thanh khoản cao) để có
được lượng tiền mặt như lúc đầu. Có hai loại chi phí cần xem xết ki bán chứng
khoán: một là chi phí cơ hội của việc giũ tiền mặt, đó chính là mức lợi tức chứng
khoán doanh nghiệp bị mất đi; hai là chi phí cho việc bán chứng khoán mỗi lần,
đóng vai trò như một chi phí mỗi lần thực hiện hợp đồng. Trong điều kiện đó
mức dự trữ vốn tiền mặt tối đa của doanh nghiệp chính bằng số lượng chứng
khoán cần bán mỗi lần để có đủ lượng vốn tiền mặt mong muốn bù đắp được nhu
cầu chi tiêu tiền mặt.
1.4.1.2. Dự đoán và quản lý các luồng nhập xuất vốn tiền mặt( ngân quỹ)
Dự đoán ngân quỹ là các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ
kết quả kinh doanh; từ kết quả hoạt động tài chính; luồng đi vay và các luồng
tăng vốn khác.Trong các luồng nhập ngân quỹ kể trên, luồng nhập ng©n quỹ tõ
kết quả kinh doanh là quan trọng nhất. Nó được dự đoán dựa trên cơ sở các
khoản phải thu bằng tiền mặt dự kiến trong kỳ.
21
Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản chi cho hoạt
động sản xuất kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt
động đầu tư theo kế hoạch của doanh nghiệp; các khoản chi trả tiền lương lãi
phải chia, nộp thuế và các khoản chi phí khác.
Trên cơ sở so sánh các luồng nhập và luồng xuất ngân quỹ, doanh nghiệp
có thể lấy được mức dư hay thâm hụt ngân quỹ. Từ đó thực hiện các biện pháp
cân bằng thu chi ngân quỹ tăng tốc độ thu hồi các khoản nợ thu đồng thời giảm
tốc độ xuất quỹ nếu có thể thực hiện được hoặc khéo léo sử dụng các khoản vay
thanh toán của ngân hàng. Ngược lại khi luồng ngân quỹ lớn hơn luồn xuất ngân
quỹ thì doanh nghiệp có thể sử dụng phần dư ngân quỹ để thực hiện các khoản
đầu tư trong thời hạn cho phép để nâng cao hiệu quả sử dụng số vốn tạm thời

không bị thiếu sản phẩm hàng hóa để bán, đồng thời để sử dụng tiết kiệm và hợp
lý vốn lưu động.
1.4.2.2. Các phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ.
- Thứ nhất: Phương pháp tổng chi phí tối thiểu.
Mục tiêu của quản trị vốn tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hóa các chi phí
dự trữ tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh được tiến hành bình thường.
Việc lưu giữ một lượng hàng tồn kho làm phát sinh các chi phí. Tồn kho
càng lớn, vốn tồn kho dự trữ càng lớn thì không thể sử dụng cho mục đích khác
và làm tăng chi phí cơ hội của số vốn này. Vì vạy doanh nghiệp cần xem xét
23
mức dự trữ hợp lý để giảm tổng chi phí dự trữ hàng tồn kho tới mức thấp nhất.
Phương pháp quản lý dự trữ hàng tồn kho theo nguyên tắc trên được gọi là
phương pháp tổng chi phí tối thiểu.
- Phương pháp tồn kho bằng không
Phương pháp này cho rằng các doanh nghiệp có thể giảm thấp các chi phí
tồn kho dự trữ đến mức tối thiểu với điều kiện các nhà cung cấp phải cung ứng
kịp thời cho các doanh nghiệp các loại vật tư, hàng hóa khi cần thiết. Do đó có
thể giảm được các chi ohí lưu kho cũng như các chi phí thực hiện hợp đồng.
Phương pháp này có ưu điểm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể dành ra
một khoản ngân quỹ sử dụng cho đầu tư mới; tuy nhiên phương pháp này lại
tăng các chi phí phát sinh từ việc tổ chức gioa hàng đối với các nhà cung cấp.
1.4.3. Quản trị các khoản phải thu
1.4.3.1. Quản trị các khoản phải thu.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, doanh
nghiệp thường áp dụng phương thức bán chịu đối với khách hàng. Điều này có
thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của
khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro…
Đổi lại doanh ngiệp có thể tăng thêm lợi nhuận nhờ mở rộng số lượng sản phẩm
tiêu thụ. Quy mô các khoản phải thu chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau;

Trích đoạn Nguồn vốn lu độngcủa công ty. Xỏc định nhu cầu vốn lưu độngcủa Cụng ty. Quản tị hàng tồn kho dự trữ. Ưu điểm trong quản lý sử dụng vốn tại Cụng ty Tồn tại trong quản lý sử dụng vốn lu động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status