BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN CƯỜNG ĐẠT
SINH VIÊN THỰC HIỆN : PHẠM QUANG HUY
MÃ SINH VIÊN : A16764
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH–NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ khoa kinh tế quản lỹ cùng các cán bộ và nhân viên
của phòng tài chính – kế toán của Công ty TNHH Một Thành Viên Cường Đạt đã cho
em cơ hội làm việc với công ty để hoàn thành tốt bài khóa luận của em.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2014
Sinh viên
Phạm Quang Huy
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là do tự bản thân thực hiện và không sao chép
các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình. Các thông
tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng. Tôi xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của khóa luận.
Sinh viên
Phạm Quang Huy MỤC LỤC
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ 1
SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1
1.1.Khái quát về vốn lưu động trong doanh nghiệp 1
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của vốn lưu động 1
1.1.2. Phân loại Vốn lưu động 2
1.1.3. Vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN 4
1.1.4. Kết cấu VLĐ và các nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu vốn lưu động trong DN 5
1.1.5. Nhu cầu VLĐ và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động trong DN 7
1.2.Nội dung quản lý VLĐ trong DN 9
1.2.1. Chính sách quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp 9
1.2.2. Quản lý vốn bằng tiền 11
2.4. Đánh giá về thực trạng hiệu quả sử dụng VLĐ tại công ty 67
2.4.1.Những kết quả đạt được 67
2.4.2.Những mặt hạn chế 68
2.4.3.Nguyên nhân 69
CHƯƠNG 3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU
ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN CƯỜNG ĐẠT 72
3.1.Định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới 72
3.2.Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty
TNHH Một Thành Viên Cường Đạt 73
3.2.1.Xác định nhu cầu VLĐ 73
3.2.2.Các biện pháp khác 78
3.3.Kiến nghị 81
3.3.1.Kiến nghị với chính phủ 81
3.3.2.Một vài kiến nghị khác 81
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
Tên đầy đủ
DN
Doanh nghiệp
TS
Tài sản
TSDH
Tài sản dài hạn
TSNH
Tài sản ngắn hạn
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
Biểu đồ 2.1: Khả năng thanh toán của công ty TNHH MTV Cường Đạt 53
Biểu đồ 2.2: Hệ số đảm nhiệm Vốn Lưu Động 58
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ phân tích hàng tồn kho 65
Biểu 2.4: Biều đồ phân tích các khoản phải thu 66
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH Một Thành Viên Cường Đạt 33
Sơ đồ 2.2: Chính sách quản lý tài sản của công ty TNHH MTV Cường Đạt 46
Hình 1.1: Chính sách quản lý cấp tiến 10
Hình 1.2: Chính sách quản lý thận trọng 10
Hình 1.3: Chính sách quản lý dung hòa 11
Hình 1.4: Đồ thị biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian 14
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp là tế bào cơ bản của nền kinh tế quốc dân, sự tồn tại và phát triển
bền vững của các DN góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất
nước. Thực tế cho thấy để tồn tại và phát triển vững mạnh trong quá trình cạnh tranh
gay gắt, các DN chỉ có cách duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận. Muốn đạt được điều đó,
các DN phải tìm ra phương thức sản xuất tối ưu nhất nhằm giảm chi phí và nâng cao
chất lượng sản phẩm hay nói cách khác là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Vốn kinh doanh của DN gồm hai bộ phận là vốn cố định và vốn lưu động. Trong đó,
vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn, quyết định tới tốc độ tăng trưởng và khả năng
cạnh tranh của DN. Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ ảnh hưởng trực tiếp
tới hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN.
Nhìn chung, khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường
có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, các DN phải tự chủ về tài chính thì tình trạng
thiếu vốn của DN diễn ra khá phổ biến, DN không đủ vốn để tiến hành sản xuất
kinh doanh, đầu tư máy móc thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ. Trong nền kinh
tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, thì đứng vững trên thị trường thì DN cần phải
nỗ lực hơn nữa trong công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, tăng sức
1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của vốn lưu động
1.1.1.1. Khái niệm VLĐ
Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi như một tế bào của nền
kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo
ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Doanh nghiệp có thể thực hiện
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có tư
liệu sản xuất, đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất
kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ
một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Biểu
hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động, TSLĐ của
doanh nghiệp gồm TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất
được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư liệu lao
động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định. Thuộc về TSLĐ sản xuất gồm: Nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ
lao động nhỏ.
TSLĐ lưu thông gồm: sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn
được tốt quá trình mua sắm, quá trình sản xuất và tiêu thụ. Do vốn lưu động có rất
nhiều loại mà lại tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và thường xuyên thay
đổi hình thái vật chất. Do đó, muốn quản lý tốt vốn lưu động, người ta phải tiến hành
phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức sau:
Phân loại theo vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất, kinh doanh
Theo cách phân loại này thì có thể chia VLĐ thành ba loại
Vốn lưu động trong khâu dự trữ, sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm,
vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý, ), các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư
chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, ), các khoản thế chấp, kí cược, kí quỹ ngắn
hạn, các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng, ).
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng
khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu
động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất. 3
Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện
Đây là cách phân loại giúp cho DN xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và
khả năng thanh toán của DN để từ đó đưa ra cách quản lý và biện pháp thích hợp
để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ. Theo cách phân loại này thì VLĐ được
chia làm bốn loại:
Vốn vật tư, hàng hóa: Đây là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,
thành phẩm,
Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi
ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn
vốn của doanh nghiệp.
Phân loại vốn lưu động theo nguồn hình thành
Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban đầu
khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá
trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn được hình thành từ vốn góp liên
doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có thể bằng
tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoả thuận của các bên liên doanh.
Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín
dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.
Nguồn vốn huy động từ thị trường bằng cách phát hành cỏ phiếu và trái phiếu
ngắn hạn.
1.1.3. Vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Trong nền kinh tế thị trường, DN muốn hoạt động kinh doanh thì cần phải có
vốn. Vốn lưu động là một thành phần quan trọng cấu tạo nên vốn của doanh nghiệp,
nó xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất
kinh doanh. Vốn lưu động đảm bảo cho sự thường xuyên, liên tục của quá trình sản
xuất kinh doanh từ khâu mua sắm vật tư đến tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Đây cũng chính là vốn luân chuyển giúp cho DN sử dụng tốt máy móc thiết bị và lao
động để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Trong khâu dự trữ và sản xuất, vốn lưu động đảm bảo cho sản xuất của doanh
nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất,
Trong lưu thông, vốn lưu động đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
được liên tục, nhịp nhàng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Vốn lưu động với
đặc điểm về khả năng chu chuyển của mình có thể giúp DN thay đổi chiến lược sản
xuất kinh doanh một cách dễ dàng, đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường cũng như các
nhu cầu tài chính trong các quan hệ kinh tế đối ngoại cho DN.
ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý kỳ này để ngày càng sử dụng
hiệu quả hơn vốn lưu động. Cũng như từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể
xác định được kết cấu vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau.
Kết cấu VLĐ có thể chia là 5 loại chính
Vốn bằng tiền: gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển. Ở
các nước phát triển thị trường chứng khoán thì chứng khoán ngắn hạn cũng được xếp
vào khoản mục này. Vốn bằng tiền được sử dụng để trả lương cho công nhân, mua
sắm nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ… 6
Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không lãi. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp việc giữ tiền mặt là cần thiết. Khi doanh nghiệp giữ đủ lượng
tiền mặt cần thiết thì doanh nghiệp không bị lãng phí vốn tiền mặt đồng thời có được
lợi thế trong kinh doanh như:
Đầu tư ngắn hạn: Doanh nghiệp có thể sử dụng một phần vốn của mình để đầu
tư vào chứng khoán ngắn hạn, đầu tư ngắn hạn như góp vốn liên doanh ngắn hạn…
nhằm mục tiêu sinh lợi. Đặc biệt các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn của doanh
nghiệp còn có ý nghĩa là bước đệm quan trọng trong việc chuyển hóa giữa tiền mặt và
các tài sản có tính sinh lời kém hơn. Điều này giúp doanh nghiệp sinh lợi tốt hơn và
huy động được một lượng tiền đủ lớn đảm bảo nhu cầu thanh khoản.
Các khoản phải thu: Cạnh tranh là cơ chế của nền kinh tế thị trường. Các doanh
nghiệp muốn đứng vững trong cơ chế cạnh tranh cần phải nỗ lực vận dụng các chiến
lược cạnh tranh đa dạng, từ cạnh tranh giá đến cạnh tranh phi giá cả như hình thức
quảng cáo, các dịch vụ trước, trong và sau khâu bán hàng. Mua bán chịu cũng là hình
thức cạnh tranh khá phổ biến và có ý nghĩa quan trọng với các doanh nghiệp.
Hàng tồn kho: Trong quá trình sản xuất, việc tiêu hao đối tượng lao động diễn
ra thường xuyên liên tục, nhưng việc cung ứng nguyên vật liệu thì đòi hỏi phải cách
quãng, mỗi lần chỉ mua vào một lượng nhất định. Do đó, doanh nghiệp phải thường
xuyên có một lượng lớn nguyên vật liệu, nhiên liệu… nằm trong quá trình dự trữ, hình
cung cấp thường xuyên và khối lượng nhiều thì dự trữ ít hơn và ngược lại.
Đặc điểm của sản phẩm: Nếu là sản phẩm mới tung ra thị trường thì không
nên sản xuất quá nhiều và ngược lại.
Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của
doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất;
trình độ tổ chức quá trình sản xuất của sản phẩm khác nhau thì tỷ trọng VLĐ ở các
khâu dự trữ - lưu thông – sản xuất cũng khác nhau. Tay nghề, cán bộ công nhân viên
(tay nghề thành thạo thì năng suất cao, tiết kiệm nguyên vật liệu hơn), tính phức tạp
của sản phẩm (sản phẩm phức tạp đòi hỏi nhu cầu nhiều hơn về nguyên vật liệu, công
cụ, dụng cụ).
Các nhân tố về mặt thanh toán như: phương thức thanh toán được lựa chọn
theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật thanh toán
giữa các doanh nghiệp.
Phương thức thanh toán hợp lý, thủ tục thanh toán nhanh gọn, không để khách
hàng chịu nhiều sẽ làm giảm tỷ trọng các khoản phải thu.
Việc chấp hành kỉ luật thanh toán, thực hiện hợp đồng thanh toán tốt hay
không, lựa chọn hình thức thích hợp hay chưa cũng ảnh hưởng tới kết cấu VLĐ (ví dụ:
chọn hình thức thanh toán bằng tiền mặt thì kết cấu vốn nghiêng về tiền mặt tại quỹ, ).
1.1.5. Nhu cầu VLĐ và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động trong DN
1.1.5.1. Nhu cầu vốn lưu động của DN
Nhu cầu VLĐ thường xuyên là mức VLĐ cần thiết để quá trình sản xuất
kinh doanh của DN được diễn ra liên tục theo một mô hình kinh doanh đã được
xác định trước. 8
Việc xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên có ý nghĩa quan trọng đối với DN:
Đây là cơ sở để huy động VLĐ đáp ứng nhu cầu VLĐ của DN.
Đó cũng là cơ sở để tổ chức, sử dụng VLĐ, điều hòa VLĐ giữa các khâu tránh
tình trạng căng thẳng, giả tạo về vốn.
9
Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu VLĐ
Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn. Ở đây,
ta chia làm 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Là dựa vào kinh nghiệm thực tế của DN cùng loại trong ngành
để xác định nhu cầu vốn cho DN mình.
Việc xác định nhu cầu vốn theo cách này là dựa vào hệ số VLĐ tính theo doanh
thu được rút từ thực tế hoạt động của DN cùng loại trong ngành. Trên cơ sở đó xem
xét quy mô kinh doanh dự kiến theo doanh thu của DN mình để tính ra nhu cầu VLĐ
cần thiết
Phương pháp này tương đối đơn giản, tuy nhiên mức độ chính xác bị hạn chế. Nó
thích hợp với việc xác định nhu cầu VLĐ khi thành lập DN với quy mô nhỏ.
Trường hợp 2: Dựa vào thực tế sử dụng VLĐ ở thời kì vừa qua của DN để xác
định nhu cầu chuẩn về VLĐ cho thời kì tiếp theo.
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố
hợp thành nhu cầu VLĐ gồm: hàng tồn kho, nợ phải thu từ khách hàng và nợ phải trả
nhà cung cấp (số nợ phải trả phát sinh có tính chất tự động và có tính chất chu kì) với
doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu VLĐ tính theo doanh
thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định nhu cầu VLĐ cho các kì tiếp theo.
Phương pháp này thực hiện theo trình tự:
Bước 1: xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu VLĐ trong năm
báo cáo. Khi xác định số dư bình quân các khoản phải phân tích tình hình để loại trừ
số liệu không hợp lý.
Bước 2: Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo cáo.
Trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu VLĐ so với doanh thu thuần.
Bước 3: Xác định nhu cầu VLĐ cho kỳ kế hoạch.
1.2. Nội dung quản lý VLĐ trong DN
1.2.1. Chính sách quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp
Để có thể nắm rõ các chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp ta
Khi doanh nghiệp theo đuổi chính sách thận trọng tức là doanh nghiệp đã sử
dụng một phần nguồn vốn dài hạn để đầu tư cho các tài sản ngắn hạn. Trong trường
hợp này doanh nghiệp sẽ không gặp phải vấn đề mất khả năng thanh toán trong ngắn
hạn. Tuy nhiên, nguồn dài hạn là những nguồn có chi phí cao hơn nguồn ngắn hạn mà
doanh nghiệp lại dùng đầu tư cho tài sản ngắn hạn. Điều này sẽ làm giảm khả năng
sinh lời của tài sản ngắn hạn.
TS
ngắn hạn
TS
dài hạn
hạnhạn
TSLĐ
NV
ngắn hạn
NV
dài hạn
TS
ngắn hạn
TS
dài hạn
hhanhạn
chứng khoán thanh khoản cao sang tiền mặt là một việc dễ dàng, tốn kém ít chi phí. Vì
vậy, trong quản trị tài chính người ta thường sử dụng chứng khoán có tính thanh khoản
cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn.
Tiền mặt tại quỹ là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanh
nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ
tiền mặt ở một quy mô nhất định. Vốn tiền mặt đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý một
cách chặt chẽ hơn các loại tài sản khác vì nó rất dễ bị tham ô, lợi dụng, mất mát.
Nhu cầu dự trữ tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để thực hiện
nhiệm vụ thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Ngoài ra nó còn dùng để đáp ứng yêu
cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí
cần thiết. Ngoài ra còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu
vốn bất thường chưa dự đoán được và động lực " đầu cơ" trong việc dự trữ tiền mặt để
sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện cơ hội kinh doanh tốt. Việc duy trì một mức dự trữ tiền
mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp cơ hội thu được chiết khấu khi mua
hàng, làm tăng hệ số khả năng thanh toán.
TS
ngắn hạn
TS
dài hạn
hạn
TSLĐ
NV
ngắn hạn
NV
dài hạn 12
như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao.
Có sự giống nhau giữa mô hình quản lý tiền mặt và mô hình quản lý hàng tồn
kho. Thật vậy, về hình thức tiền mặt cũng giống như hàng tồn kho vì cả hai đều là
nguyên vật liệu dùng trong sản xuất. William Baumol là người đầu tiên phát hiện mô 13
hình hàng tồn kho đơn giản có thể vân dụng cho mô hình quản lý tiền mặt. Giả sử bạn
đang lưu giữ tiền mặt cần thiết cho các hoá đơn thanh toán, khi tiền mặt xuống thấp
bạn sẽ bổ sung bằng cách bán các chứng khoán. Chi phí tồn trữ chủ yếu trong trường
hợp này chính là lãi suất mà bạn mất đi. Các chi phí đặt hành chính là chi phí hành
chính quản trị cho mỗi lần bán chứng khoán.
Khi dự trữ tiền mặt, doanh nghiệp sẽ mất chi phí cơ hội, tức là lãi suất bị mất đi,
chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ hàng hóa trong quản lý hàng tồn kho. Chi
phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán, khi đó áp dụng mô hình
EOQ ta có lượng dự trữ tiền mặt tối ưu (M*) như sau:
M* =
i
xCxM
bn
2
Trong đó:
M* : Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu
M
n
: Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
Cb: Chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản
i : Lãi suất.
Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất càng cao thì doanh nghiệp sẽ nắm giữ
Mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ. Sự dao động này
được thể hiện ở phương sai của thu chi ngân quỹ. Phương sai của thu chi ngân quỹ là
tổng các bình phương (độ chênh lệch) của thu chi ngân quỹ thực tế càng có xu hướng
khác biệt nhiều so với thu chi bình quân. Khi đó doanh nghiệp cũng sẽ quy định
khoảng dao động tiền mặt cao.
Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán. Khi chi phí này lớn người ta
muốn giữ tiền mặt nhiều hơn và khi đó khoảng dao động của tiền mặt cũng lớn.
Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao
động tiền mặt sẽ giảm xuống.
Hình 1.4. Đồ thị biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian
Nhìn vào sơ đồ trên, mức tồn quỹ dao động lên xuống và không thể dự toán
được cho đến khi đạt được giới hạn trên. Doanh nghiệp sẽ can thiệp bằng cách sử dụng
số tiền vượt quá mức so với mức tồn quỹ thiết kế để đầu tư vào các chứng khoán hay
đầu tư ngắn hạn khác và lúc đó, cân đối tiền trở về mức thiết kế . 15
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cân đối tiền
lại tiếp tục dao động cho đến khi tụt xuống dưới giới hạn dưới là lúc doanh nghiệp
phải có sự bổ sung tiền để đáp ứng cho những hoạt động cần thiết, chẳng hạn việc bán
một lượng chứng khoán để đáp ứng nhu cầu tiền của mình .
Như vậy, mô hình này cho phép quản lý ngân quỹ ở mức độ hoàn toàn tự do.
Khi mức tồn quỹ thực tế lớn hơn mức tồn quỹ thiết kế nhưng khi nó chưa đạt được
giới hạn trên thì doanh nghiệp chưa cần mua chứng khoán. Ngược lại, khi mức tồn quỹ
thực tế nhỏ hơn so với mức tồn quỹ theo thiết kế nhưng chưa đạt đến giới hạn dưới của
doanh nghiệp cũng chưa cần phải bán chứng khoán để bổ sung ngân quỹ .
Theo mô hình Miller-orr, khoảng dao động của mức cân đối tiền phụ thuộc vào
ba yếu tố được chỉ ra trong công thức sau:
Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau:
D = 3x
Phương sai của tiền mặt thanh toán được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế
của một quý trước đó để tính toán.
1.2.3. Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường việc mua chịu, bán chịu là điều khó tránh khỏi.
Doanh nghiệp có thể sử dụng các khoản phải trả chưa đến kỳ hạn thanh toán như một
nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho các nhu cầu tài sản lưu động ngắn hạn và đương