LUẬN VĂN: Quản lý tài chính trong Bảo hiểm xã hội Việt Nam - Thực trạng và giải pháp - Pdf 15


LUẬN VĂN: Quản lý tài chính trong Bảo hiểm xã hội
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng, đã được
Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện đối với người lao động ngay từ sau Cách
mạng tháng Tám thành công. Chính sách đó đã từng bước được bổ sung, sửa đổi và
hoàn thiện cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử đấu tranh thống nhất Tổ quốc và xây

phục vụ ngày càng tốt hơn đối với mọi người lao động tham gia và hưởng các chế độ
BHXH; hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần phải tiếp tục cải tiến, hoàn thiện quản
lý trên tất cả các hoạt động của toàn ngành, đặc biệt là công tác quản lý tài chính.
Là người đã và đang tham gia trực tiếp quản lý trong lĩnh vực kế hoạch tài
chính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tôi chọn đề tài "Quản lý tài chính trong Bảo
hiểm xã hội Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" nghiên cứu để nhằm góp phần quản
lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các loại vốn, nguồn vốn và tài sản của Nhà nước,
góp phần thúc đẩy BHXHVN phát triển ổn định, vững chắc.
2. Tình hình nghiên cứu
Hoạt động của BHXH nói chung và quản lý tài chính BHXH nói riêng cũng đã
có những công trình được công bố như: "Thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội hiện
nay và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu", Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ, mã số 96-01-01/ ĐT, chủ nhiệm đề tài là TS. Nguyễn Văn Châu; "Thực
trạng và định hướng hoàn thiện tác nghiệp chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội hiện
nay", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số 96-03-03/ĐT, chủ nhiệm đề tài là TS
Dương Xuân Triệu. "Quản lý tài chính Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An",
Luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Trần Quốc Toàn - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh năm 1999 và nhiều bài báo của nhiều nhà nghiên cứu đăng tải trên các tạp
chí khoa học (xem thêm phần phụ lục các tài liệu tham khảo của luận văn). Các công

trình trên đã đề cập khá nhiều vấn đề có liên quan đến hoạt động BHXH, nhưng chưa đề
cập toàn diện, chưa phân tích, đánh giá sâu nội dung và phương thức quản lý tài chính của
BHXHVN. Để thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc những công
trình trên, kết hợp với khảo sát thực tiễn, phân tích, đánh giá để đề xuất những giải pháp
hoàn thiện quản lý tài chính trong BHXHVN.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Xác định những nội dung quản lý tài chính trong BHXHVN. Phân tích
đánh giá quá trình đổi mới phương thức quản lý tài chính qua các giai đoạn, trên cơ sở
đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính trong BHXHVN.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội
và quản lý tài chính trong Bảo hiểm xã hội Việt Nam

1.1. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội
1.1.1. Khái niệm, bản chất bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội
Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính toán khoa học và được dự báo
trước; con người luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra do rất
nhiều nguyên nhân như: thiên tai (bão lụt, động đất, hạn hán, hỏa hoạn ), tai nạn giao
thông (máy bay, tàu thủy, tàu hỏa, ô tô, xe máy ), tai nạn trong lao động sản xuất, ốm
đau, dịch bệnh Những bất trắc, rủi ro đó đã gây ra và đem đến cho con người những
tổn thất, hậu quả to lớn cả về mặt kinh tế, lẫn môi trường sinh thái và môi trường xã hội.
Chính vì vậy mà con người đã phải đưa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa, hạn chế và
khắc phục những biến cố rủi ro đó. Những biện pháp phòng ngừa, né tránh và hạn chế
rủi ro thường được con người chủ động đưa ra các quy định cụ thể (bộ luật, luật, pháp
lệnh, nghị định, quyết định, thông tư ) trong từng lĩnh vực quản lý hoạt động sản xuất
kinh doanh và trong đời sống sinh hoạt xã hội để buộc mọi đơn vị, mọi tổ chức và mọi
thành viên trong xã hội phải tuân thủ thực hiện. Chẳng hạn như để phòng, chống lụt
bão, Nhà nước ban hành Luật về đê điều; để đề phòng tai nạn giao thông, Nhà nước ban
hành Luật Giao thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không
Mặt khác, theo quy luật sinh học thì hầu như mọi người thường phải trải qua
các giai đoạn là: con người ta được sinh ra, được nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành; lao
động cống hiến sức lực, trí tuệ cho xã hội, cho gia đình; tiếp đến là giai đoạn hết tuổi lao
động được xã hội, gia đình và lớp người tiếp theo chăm sóc cho đến khi chết. Như vậy
là trong toàn bộ cuộc đời, con người không phải lúc nào cũng có đủ sức khỏe và cơ hội

lao động để có thu nhập. Trong khi đó con người luôn luôn cần phải có những nhu cầu
sinh hoạt về mặt vật chất và tinh thần. Vì vậy, mỗi người lao động và xã hội cần thiết
phải có một nguồn lực tài chính dự trữ để kịp thời cung cấp đáp ứng nhu cầu vật chất và

người lao động và những người ruột thịt (bố, mẹ, vợ/ chồng, con) của người lao động
trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Ngày 4 tháng 6 năm 1952, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ban hành Công
ước số 102 về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, trong đó có quy định 9 chế độ trợ
cấp, đó là:
1. Chăm sóc y tế;
2. Trợ cấp ốm đau;
3. Trợ cấp thất nghiệp;
4. Trợ cấp tuổi già (hưu bổng);
5. Trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
6. Trợ cấp gia đình;
7. Trợ cấp thai sản;
8. Trợ cấp tàn tật;
9. Trợ cấp tiền tuất.
Đồng thời Tổ chức Lao động Quốc tế cũng khuyến nghị các nước thành viên phải
thực hiện ít nhất là 3 chế độ trong các chế độ nói trên. Trong ba chế độ đó thì phải có ít
nhất 1 chế độ là các chế độ 3, 4, 5, 8 và 9 [9, tr. 123-142].
1.1.1.2. Bản chất của bảo hiểm xã hội
Bất kỳ một nhà nước nào trên thế giới cũng phải thừa nhận rằng sự nghèo khổ
của người dân do ốm đau, tai nạn rủi ro, thất nghiệp, tật nguyền bẩm sinh gây ra
không chỉ là trách nhiệm của bản thân cá nhân, của gia đình, của những người thân của
họ mà còn phải là trách nhiệm của nhà nước và của cộng đồng xã hội.

Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH được coi là một
chính sách xã hội quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản
xuất, cho đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội. Với tư cách là công
cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, nhà nước phải can thiệp và tổ chức bảo vệ quyền
lợi chính đáng cho người lao động, đặc biệt là để giải quyết mối quan hệ thuê mướn lao
động giữa chủ và thợ. Yêu cầu giới chủ phải thực hiện những cam kết đảm bảo điều
kiện làm việc và nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho giới thợ, trong đó có nhu cầu

dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho
một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người, khi họ gặp phải
những biến cố rủi ro gây tổn thất.
Hoạt động BHXH là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao; lấy
hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển
khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH đối
với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH. Là quá trình tổ chức thực
hiện các nghiệp vụ thu BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động; giải
quyết các chế độ, chính sách và chi BHXH cho người được hưởng; quản lý quỹ BHXH
và thực hiện đầu tư bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH.
Nghiên cứu về sự giống và khác nhau giữa BHXH và bảo hiểm thương mại sẽ
làm rõ hơn bản chất của BHXH.
Bảo hiểm thương mại là biện pháp chia sẻ tổn thất về mặt tài chính của một hay
một số ít người gặp phải một hay một số loại rủi ro nào đó, được bù đắp bởi một quỹ
tiền tệ tập trung hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm cũng có
khả năng gặp phải rủi ro đó, thông qua hoạt động quản lý của các nhà kinh doanh bảo
hiểm.
Hoạt động của bảo hiểm thương mại theo nguyên tắc có tham gia bảo hiểm mới
được hưởng quyền bảo hiểm, đó là hoạt động kinh doanh kiếm lợi nhuận của các doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm, tuân thủ theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, lời ăn, lỗ chịu.

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm
nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của
người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để
doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi
thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm [52, tr. 9].
Bảo hiểm thương mại có những đặc điểm khác với BHXH ở một số nội dung
sau:
- Phạm vi hoạt động của bảo hiểm thương mại rất rộng, có mặt ở tất cả các lĩnh
vực của đời sống kinh tế - xã hội; không chỉ bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ một nước

thủ, đó là:
Thứ nhất, bảo hiểm là một hình thức hoạt động nhằm phân tán rủi ro, hỗ trợ lẫn
nhau giữa những đơn vị, cá nhân cùng tham gia bảo hiểm thực hiện theo nguyên tắc
"cộng đồng – lấy số đông bù cho số ít". Vì vậy, dịch vụ bảo hiểm cần phải có đông
người tham gia mới đạt được mục đích phân tán rủi ro, tổn thất. Số người tham gia bảo
hiểm càng đông thì mức độ tổn thất được phân tán càng rộng, mức độ gánh chịu tổn thất
của từng thành viên càng ít hơn. Hình thành được quỹ bảo hiểm tập trung càng lớn, mức
độ an toàn quỹ bảo hiểm càng cao, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu chi
trả càng kịp thời, đầy đủ hơn cho người được thụ hưởng.
Thứ hai, quỹ bảo hiểm được hình thành từ sự đóng góp của những đối tượng
tham gia bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm phải được tính toán một cách khoa học dựa trên quy
luật số lớn để xác định mức đóng góp của đối tượng tham gia và mức hưởng thụ do quỹ
phải chi trả; sao cho quỹ bảo hiểm phải được ổn định, vững chắc trong bất kỳ hoàn cảnh
nào vẫn phải đảm bảo đủ nguồn lực tài chính để chi trả kịp thời, đầy đủ các khoản bồi
thường, trợ cấp cho đối tượng được thụ hưởng.

Thứ ba, quỹ bảo hiểm được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính và luật pháp
của nhà nước quy định. Quỹ bảo hiểm tạm thời nhàn rỗi được thực hiện các hoạt động
đầu tư vừa góp phần cung cấp nguồn vốn để phát triển nền kinh tế - xã hội; vừa để bảo
toàn và tăng trưởng quỹ. Khi thực hiện hoạt động đầu tư quỹ phải đảm bảo an toàn; hạn
chế rủi ro, thất thoát quỹ đến mức thấp nhất, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và đảm bảo
khả năng thanh toán linh hoạt.
1.1.2. Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội
1.1.2.1. Vai trò của bảo hiểm xã hội
Hoạt động của BHXH là hoạt động sự nghiệp vì lợi ích chung của toàn xã hội,
phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải là mục tiêu của hoạt
động BHXH. Do đó, BHXH có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của con
người, được thể hiện trên các mặt sau:
- BHXH góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH, đảm bảo an
toàn xã hội. Những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu

niềm tin yêu của người lao động đối với người sử dụng lao động, khuyến khích người
lao động phấn khởi, yên tâm, nhiệt tình trong công tác, gắn bó với người sử dụng lao
động hết đời này sang đời khác. Đối với nhà nước thông qua việc tổ chức hoạt động
BHXH đã đảm bảo cho mọi người lao động, mọi tổ chức, mọi đơn vị bình đẳng, công
bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong đời sống xã hội, góp phần làm cho
sản xuất ổn định, nền kinh tế, chính trị và xã hội phát triển và an toàn.
- BHXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Xét
về phương diện tài chính thì BHXH là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo
lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung; quỹ được hình thành từ sự đóng góp của người lao
động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước; quỹ được sử dụng để chi trả
các chế độ BHXH cho người lao động và gia đình họ, một phần dùng để chi quản lý sự
nghiệp BHXH.

Hầu hết các nước trên thế giới đều thiết kế mô hình tạo lập và sử dụng quỹ
BHXH theo nguyên tắc tồn tích và có tính chuyển dịch thu nhập giữa mọi người tham
gia BHXH và qua các thế hệ. Một số ít nước thiết kế theo nguyên tắc "tọa thu, tọa chi".
Do tính chất hoạt động của bảo hiểm là các biến cố rủi ro phát sinh không đều về thời
gian. Vì vậy, ngay trong mô hình quỹ được thiết kế theo nguyên tắc "tọa thu, tọa chi" thì
trong một khoảng thời gian nhất định, quỹ BHXH vẫn có số dư tạm thời nhàn rỗi. Đặc
biệt là quỹ BHXH thiết kế theo nguyên tắc tồn tích thì luôn luôn có số dư tạm thời nhàn
rỗi rất lớn. Đây chính là một nguồn vốn trong nước rất quan trọng, được hình thành từ
sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, là sự "tiết kiệm tạm thời"
trong chi tiêu tạo ra được một nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế của đất nước.
Nguồn vốn này càng trở nên rất quan trọng đối với những nước đang thiếu nguồn vốn
đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn trong nước; mà nguồn vốn là một trong những yếu tố quan
trọng của sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Điều kiện quan trọng để người lao động được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi về
BHXH, ngoài việc người lao động phải đóng góp thì người sử dụng lao động cũng phải
đóng góp đầy đủ vào quỹ BHXH. Điều đó đã làm cho người lao động gắn bó với người
sử dụng lao động hơn, làm cho quá trình sản xuất được ổn định, bền vững, có năng suất

trợ cấp, các nguồn đóng góp, cách thức tổ chức thực hiện các chế độ BHXH" [10, tr.
44].
Trong hệ thống chính sách xã hội thì chính sách BHXH có vị trí và vai trò quan
trọng, có mối quan hệ tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau với các chính sách xã hội khác
để giải quyết các vấn đề có liên quan đến con người. Chẳng hạn như với chính sách việc
làm và tiền lương; khi mọi người lao động đều có việc làm, có thu nhập ổn định thì số
người lao động tham gia BHXH càng đông hơn. Khi thu nhập của họ tăng lên, tất yếu
mức đóng góp vào quỹ BHXH cũng tăng lên, tạo ra nền tảng vững chắc cho quỹ BHXH
ổn định lâu dài, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính phục vụ kịp thời nhu cầu chi trả trở lại
cho người lao động và gia đình của họ khi gặp rủi ro. Đồng thời tạo ra được một quỹ
BHXH lớn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư phát triển mở rộng, hiện đại hóa sản xuất. Chính

đến lúc này, chính sách BHXH lại tác động trở lại chính sách lao động và tiền lương là
việc mở rộng và hiện đại hóa sản xuất sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động,
có năng suất lao động cao hơn dẫn đến thu nhập của người lao động càng tăng thêm. Đó
là sự tác động, hỗ trợ lẫn nhau giữa chính sách việc làm và thu nhập với chính sách
BHXH.
1.1.2.3. Mối quan hệ giữa chính sách BHXH với chính sách bảo đảm xã hội
Đảm bảo xã hội được hiểu là sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả mọi thành viên
trong xã hội, được thực hiện thông qua một loạt các biện pháp công cộng để trợ giúp sự
giảm sút, hẫng hụt đột ngột về kinh tế - xã hội của con người, do bị suy giảm, mất việc
làm, thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh gây ra.
Con người trong suốt cuộc đời có thể gặp rất nhiều rủi ro bất ngờ do suy giảm
hay mất khả năng lao động, mất việc làm, do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, hậu quả do
chiến tranh để lại … Phạm vi và mục tiêu của bảo đảm xã hội rất rộng lớn, không chỉ
đối với mọi thành viên trong một quốc gia mà còn đối với cả cộng đồng quốc tế.
Nguyên tắc hoạt động của hệ thống bảo đảm xã hội dựa trên cơ sở đảm bảo sự bảo vệ,
công bằng, đoàn kết, hỗ trợ, không chỉ đơn giản là sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập; mà
đó là sự chuyển dịch thu nhập mang tính chất xã hội; để phân phối lại tài chính và dịch
vụ có lợi nhất cho những thành viên gặp những bất hạnh, rủi ro trong cộng đồng xã hội.

cho họ vượt qua sự nghèo khó, vươn lên đảm bảo được mức sống bình thường tối thiểu.
Bốn là, phúc lợi xã hội được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu, lợi ích về kinh tế và
văn hóa cho tất cả mọi thành viên trong xã hội; hay nói một cách khác là làm cho mọi
thành viên trong xã hội đều được hưởng lợi ích về kinh tế và văn hóa, giáo dục, xã hội;
để hạn chế sự cách biệt giữa những vùng lãnh thổ (thành thị và nông thôn), giữa các
tầng lớp dân cư có thu nhập và điều kiện sống cao, thấp khác nhau.
1.2. Quản lý tài chính trong Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng mà Đảng
và Nhà nước ta đưa ra để giải quyết những mối quan hệ kinh tế - xã hội rất cụ thể. Nó

được điều chỉnh bằng một hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước, quy định rõ vị
trí, vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của Nhà nước, của người sử dụng lao động và
người lao động.
Điều lệ Bảo hiểm xã hội đã ghi rõ:
Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội: Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về
bảo hiểm xã hội; xây dựng và trình ban hành pháp luật về bảo hiểm xã hội; ban hành
các văn bản pháp quy về bảo hiểm xã hội thuộc thẩm quyền, hướng dẫn, kiểm tra, thanh
tra việc thực hiện bảo hiểm xã hội.
Chính phủ thành lập hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội thống nhất để quản lý
quỹ và thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật đối
với người lao động.
Người lao động có quyền:
- Được nhận Sổ bảo hiểm xã hội;
- Được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ điều
kiện hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều lệ này;
- Khiếu nại với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao
động hoặc tổ chức bảo hiểm xã hội có hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.
Người lao động có trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định;

- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại bảo hiểm xã hội;

- Thông báo định kỳ hàng năm về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội đối với
người sử dụng lao động và người lao động" [21].
Như vậy, để thực hiện chính sách BHXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải thực
hiện rất nhiều nội dung quản lý, nhưng xét về phương diện tài chính, Bảo hiểm xã hội
Việt Nam thực hiện quản lý các nội dung sau:
1.2.1. Quản lý thu BHXH
Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn như: đóng góp của người sử dụng
lao động và đóng góp của người lao động; Nhà nước đóng và hỗ trợ; tiền lãi thu được từ
hoạt động đầu tư và tăng trưởng quỹ đem lại; tiền tài trợ và viện trợ của trong và ngoài
nước; các khoản thu khác (nếu có). Trong các nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
nói trên, nguồn do người lao động và người sử dụng lao động đóng góp là quan trọng,
chủ yếu nhất. Nhưng quá trình quản lý sự đóng góp của người sử dụng lao động và
người lao động cũng phức tạp và khó khăn nhất. Vì vậy, trong nội dung này luận văn
tập trung nghiên cứu công tác quản lý sự đóng góp của người sử dụng lao động và
người lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội (sau đây gọi tắt là công tác quản lý thu bảo
hiểm xã hội).
Công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội chủ yếu tập trung vào ba nội dung, đó là:
1.2.1.1. Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Các đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và phải đóng bảo hiểm
xã hội bao gồm cả người sử dụng lao động và bản thân người lao động (kể cả người lao
động được cử đi học, đi thực tập, công tác và điều dưỡng ở trong và ngoài nước mà vẫn
hưởng tiền lương hoặc tiền công của cơ quan và đơn vị) làm việc trong các cơ quan,
đơn vị, tổ chức kinh tế - xã hội dưới đây:
- Các doanh nghiệp nhà nước;
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp;
các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế đặt tại Việt Nam (trừ trường hợp

Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy

kịp thời toàn bộ diễn biến quá trình đóng bảo hiểm xã hội của họ theo từng thời gian
(tháng, quý, năm), mức đóng và đơn vị, ngành nghề công tác để sau này làm căn cứ xét
hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội cho họ.
1.2.1.2. Quản lý quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
Mức thu bảo hiểm xã hội đối với người sử dụng lao động và người lao động
tham gia bảo hiểm xã hội theo Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số
12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ là người sử dụng lao động đóng 15% tổng quỹ
tiền lương tháng của những người lao động trong đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội, người
lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng.
Theo quy định hiện hành thì tiền lương của người lao động và quỹ tiền lương
của cơ quan, đơn vị được xác định căn cứ vào từng người lao động ở từng khu vực công
tác, theo các mức đóng khác nhau, cụ thể là:
- Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức đảng, đoàn thể, hội quần
chúng, tiền lương tháng của người lao động và quỹ tiền lương của các đơn vị sử dụng
lao động được xác định theo các quy định tại Nghị quyết số
35 NQ/UBTVQHK9 ngày 17/05/1993 của ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX, Quyết định
số 69/QĐTW ngày 17/05/1993 của Ban Bí thư, Nghị định số 25/CP ngày 17/05/1993 của
Chính phủ, Quyết định số 574/TTg ngày 25/11/1993 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị
định số 06/CP ngày 21/01/1997 của Chính phủ.
- Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, tiền lương tháng của người lao động
và quỹ lương của đơn vị sử dụng lao động được xác định theo các quy định tại Nghị
định số 26/CP ngày 23/05/1995 của Chính phủ.
- Các đơn vị sử dụng lao động đã thực hiện ký hợp đồng lao động thì đóng bảo
hiểm xã hội tính trên tổng quỹ tiền lương hàng tháng, bao gồm lương theo hợp đồng đã

ký kết với người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định và lương của
người giữ chức vụ không áp dụng chế độ hợp đồng lao động.
- Riêng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền
lương của những quân nhân, công an nhân dân hưởng lương; còn quân nhân, công an
nhân dân đóng bằng 5% mức lương tháng. Mức thu BHXH đối với quân nhân, công an

- Chế độ trợ cấp thai sản;
- Chế độ trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp;
- Chế độ hưu trí;
- Chế độ tử tuất;
- Chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe;
Đối tượng hưởng các chế độ BHXH có thể là chính bản thân người lao động,
cũng có thể là những người thân ruột thịt của người lao động (bố, mẹ, vợ, chồng, con)
trực tiếp phải nuôi dưỡng. Đối tượng có thể được hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp
hàng tháng nhiều hay ít, tùy thuộc mức độ đóng góp (thời gian đóng góp và tiền lương
làm căn cứ đóng góp), các điều kiện lao động và biến cố rủi ro mà người lao động mắc
phải. Điều quan trọng nhất trong công tác quản lý chi BHXH là phải quản lý cụ thể,
chính xác từng đối tượng theo loại chế độ được hưởng và mức được hưởng, thời gian
được hưởng của họ.
1.2.2.2. Phương thức chi trả
Phải áp dụng phương thức quản lý và chi trả cho phù hợp với từng loại đối
tượng và từng loại trợ cấp, sao cho đảm bảo được nguyên tắc chi trả: đúng đối tượng,
đúng chế độ, đầy đủ, kịp thời, chính xác và an toàn.
Một đặc điểm cần quan tâm trong tổ chức chi trả hiện nay đó là hầu hết việc chi
trả các chế độ BHXH cho người được hưởng đều bằng tiền mặt, khối lượng chi trả hàng

Trích đoạn Mục tiêu chiến lược phát triển ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam Quản lý toàn diện, đồng bộ, chặt chẽ, an toàn, chính xác, kịp thời và hiệu quả các loại vốn, nguồn vốn đúng pháp luật quy định Quản lý tập trung, thống nhất, đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ Hoàn thiện phương thức quản lý thu BHXH Hoàn thiện phương thức quản lý chi BHXH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status