BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
_____________________
NGUYỄN ĐÌNH MINH
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG TRỊ
( Bản thảo)
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trương Sĩ Quý
Đà Nẵng-Năm 2012
MỤC LỤC
TỪ VIẾT TẮT
AFTA Hiệp định thương mại Việt Mỹ
CCN Cụm công nghiệp
CHDCND Cộng hoà dân chủ nhân dân
CNH-HĐH Công nghiệp hoá-hiện đại hoá
KCN Khu công nghiệp
NGTK Niên giám thống kê
NXB Nhà xuất bản
PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
TSCĐ Tài sản cố định
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
VLXD Vật liệu xây dựng
WTO Tổ chức thương mại thế giới
MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
1
MỞ ĐẦU
về kinh tế giữa các nước và khu vực.
2
Đứng trước yêu cầu đó, trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, của các cấp
quản lý về đề tài này. Những đóng góp về mặt lý luận và những thành tựu đạt được
qua thực tiễn là rất đáng trân trọng và cần được ghi nhận. Tuy nhiên, phần lớn các
đề tài tập trung nghiên cứu chung cho cả nước hoặc một số địa phương nhất định.
Riêng đối với tỉnh Quảng trị, với những đặc thù riêng, xét thấy có rất ít đề tài nghiên
cứu một cách có hệ thống và sát với thực tế hiện nay. Đây là cơ sở để tác giả chọn
đề tài: “ Phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng trị” để tiến hành nghiên
cứu và giải quyết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Một là, làm rõ những lý luận và kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến vấn đề
phát triển công nghiệp ở một địa phương đặc thù như tỉnh Quảng Trị. Xây dựng một
số các chỉ tiêu đánh giá liên quan đến phát triển công nghiệp.
Hai là, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp của địa phương, từ đó chỉ ra
những hạn chế, nguyên nhân cần khắc phục.
Ba là, đề xuất một số giải pháp có tính thực tiễn đề giải quyết các vấn đề còn
tồn tại, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Trị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Các mối quan hệ kinh tế-xã hội trong nội bộ ngành công nghiệp và giữa công
nghiệp với các ngành khác phát sinh trong quá trình phát triển công nghiệp tại
Quảng Trị.
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian nghiên cứu: địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Về thời gian nghiên cứu: Trong phạm vi 20 năm, bao gồm phân tích, đánh giá
thực trạng giai đoạn 2005-2010, phương hướng và giải pháp đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2025.
4. Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP
4
1.1. Khái niệm và phân loại công nghiệp
1.1.1. Khái niệm công nghiệp
Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hoá vật
chất mà sản phẩm được chế tạo, chế biến nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc
phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô
lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ
thuật.
Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô
lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hoá ". Theo nghĩa này,
những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành
một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công
nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp nghiệp thời trang, công nghiệp
báo chí, v.v [Theo Wekipedia]
1.1.2. Phân loại ngành công nghiệp
Theo cách phân loại của Tổng cục Thống kê, công nghiệp gồm 3 nhóm
ngành: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp điện khí nước.
Công nghiệp khai thác có nhiệm vụ khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho
sản xuất và đời sống.
Khai thác năng lượng: dầu mỏ, khí đốt, than…
Khai thác quặng kim loại: sắt, thiếc, bô-xít…
Khai thác quặng: uranium, thori…
Khai thác vật liệu xây dựng: đá, cát, sỏi…
Sản phẩm công nghiệp khai thác cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế
biến. Sự phát triển của công nghiệp khai thác thường gắn với nguồn tài nguyên tạo
điều kiện để phát triển vùng-lãnh thổ.
Công nghiệp chế biến bao gồm:
Công nghiệp chế tạo công cụ sản xuất gồm cơ khí, chế tạo máy, kỹ thuật điện, điện
cùng phục vụ cho nhân loại. Do đó, trong sản xuất công nghiệp, các nhà sản xuất có
thể lựa chọn mức độ chuyên môn hoá phù hợp.
- Sản xuất công nghiệp có xu hướng phân bố ngày càng tập trung cao độ theo lãnh
thổ
6
Phân bố tập trung theo lãnh thổ là quy luật phát triển của sản xuất công nghiệp thể
hiện ở quy mô xí nghiệp và mật độ sản xuất các xí nghiệp công nghiệp trên một đơn
vị lãnh thổ. Tính tập trung theo lãnh thổ của sản xuất công nghiệp có nhiều ưu điểm,
song cũng có nhiều nhược điểm.
Công nghiệp phân bố tập trung theo lãnh thổ hình thành những điểm công nghiệp,
khu công nghiệp, vùng công nghiệp sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện
chuyên môn hoá sản xuất và hiệp tác hoá sản xuất, khai thác sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài nguyên, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản xuất, đưa lại hiệu
quả kinh tế xã hội cao. Tuy nhiên nếu quy mô tập trung công nghiệp theo lãnh thổ
quá mức,vượt quá sức chứa của lãnh thổ, sẽ gây ra rất nhiều khó khăn đó là: làm
hình thành những khu công nghiệp lớn, những trung tâm dân cư đông đúc, những
thành phố khổng lồ, tạo sức ép lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng, gây khó khăn phức
tạp cho tổ chức, quản lý xã hội và môi trường. Vì vậy cần nghiên cứu toàn diện
những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trong từng địa phương; từng vùng cũng
như trên lãnh thổ cả nước để lựa chọn quy mô phân bố công nghiệp cho phù hợp.
- Đặc điểm công nghệ sản xuất: công nghệ sản xuất trong công nghiệp do con người
tạo ra. Quá trình tạo ra sản phẩm công nghiệp được thực hiện thông qua hệ thống
máy móc, thiết bị với đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao. Khi công nghệ
ngày càng được cải tiến, hiện đại thì đổi hỏi trình độ lao động phải tăng theo và
ngược lại.
- Đặc điểm về sự biến đổi các đối tượng lao động: sau mỗi chu kỳ sản xuất từ một
nguồn nguyên liệu với những công nghệ khác nhau có thể tạo ra nhiều sản phẩm với
nhiều công dụng khác nhau; cùng một sản phẩm có thể tạo ra nhiều mẫu mã, kiểu
dáng khác nhau. Đây là tính ưu việt của sản xuất công nghiệp.[6, tr 55-56]
1.2.2. Vai trò của công nghiệp với phát triển kinh tế
phẩm, tăng khả năng tích trữ, vận chuyển của sản phẩm nông nghiệp và làm cho sản
phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng về chủng loại. Do sản phẩm của nông nghiệp
mang tính thời vụ cao và khó bảo quản, nếu không có công nghiệp chế biến sẽ hạn
chế lớn đến khả năng tiêu thụ.
- Công nghiệp cung cấp hàng tiêu dùng cho đời sống nhân dân
8
Nông nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng tất yếu, đáp ứng nhu cầu cơ bản
nhất của con người. Còn công nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng ngày
càng phong phú, đa dạng hơn. Kinh tế càng phát triển, thu nhập của dân cư càng
tăng thì nhu cầu của con người ngày càng mở rộng. Chính sự phát triển của nhu
cầu đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển. Song ngược lại sự phát triển của
công nghiệp không những đáp ứng nhu cầu của con người mà nó lại hướng dẫn tiêu
dùng của con người, hướng đến nhu cầu cao hơn. Như vậy, công nghiệp càng phát
triển thì các sản phẩm hàng hoá càng đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã,
càng nâng cao về chất lượng.
- Công nghiệp thu hút lao động nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm xã hội
Công nghiệp tác động vào sản xuất nông nghiệp làm nâng cao năng suất lao động
nông nghiệp, tạo khả năng giải phóng sức lao động trong nông nghiệp. Đồng thời
sự phát triển mạnh mẽ công nghiệp đã làm cho sản xuất công nghiệp ngày càng mở
rộng, tạo ra các ngành sản xuất mới, các khu công nghiệp mới, đến lượt mình, công
nghiệp đã thu hút lao động nông nghiệp và giải quyết việc làm cho xã hội. Việc thu
hút số lao động ngày càng tăng từ nông nghiệp vào công nghiệp không chỉ góp phần
giải quyết việc làm, mà còn tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, tăng thu
nhập cho người lao động.
- Công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất
Do đặc điểm của sản xuất, công nghiệp luôn có một đội ngũ lao động có tính tổ
chức, kỷ luật cao, có tác phong lao động “ công nghiệp” . Do đó, đội ngũ lao động
trong công nghiệp luôn là bộ phận tiên tiến trong dân cư. Lao động trong công
nghiệp ngày càng có trình độ chuyên môn hoá cao tạo điều kiện nâng cao trình độ
chuyên môn của người lao động và chất lượng sản phẩm
hay chậm giữa các thời kỳ.
- Giá trị sản xuất công nghiệp: thường được dùng để đo lường toàn bộ kết quả sản
xuất công nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Giá trị sản xuất công nghiệp được
tính theo giá cố định và giá hiện hành. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công
nghiệp được tính bằng giá cố định.
- Giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm (VA) ngành công nghiệp là chỉ tiêu cốt lõi
phản ánh tăng trưởng về sản lượng công nghiệp, đồng thời là chỉ tiêu định lượng để
10
phản ánh chất lượng tăng trưởng. Giá trị gia tăng là một bộ phận của giá trị sản xuất
(GO) và chi phí trung gian (IC) gồm : thu nhập của người lao động từ sản xuất, thuế
sản xuất, khấu hao tài sản cố định và thặng dư sản xuất. Mối quan hệ giữa VA, GO,
IC được biểu diễn như sau: VA=GO-IC; theo cách tính trên thì VA tỉ lệ thuận với
GO và tỉ lệ nghịch với IC.
- Tốc độ phát triển liên hoàn: thể hiện sự biến đổi của đối tượng nghiên cứu giữa 2
giai đoạn liên tiếp (hoặc 2 năm liên tiếp) và được tính theo công thức:
%100
1
1
×
−
=
−
−
i
i
i
Y
YYi
y
Trong đó: yi: tốc độ phát triển giá trị sản xuất công nghiệp
nghiệp và so sánh quy mô doanh nghiệp ta có thể sử dụng một số tiêu chí:
+ Số lượng sản phẩm (tính bằng giá trị hoặc hiện vật)
11
+ Số lao động
+ Giá trị tài sản cố định
Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức liên kết trong công nghiệp cũng rất quan trọng. Đây là
phạm trù phản ánh mối quan hệ phối hợp hoạt động kinh tế giữa các chủ thể kinh tế
để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định. Liên
doanh là một trong những dạng biểu hiện cụ thể của hoạt động liên kết. Có thể phát
triển các loại liên kết như liên kết để tạo ra các yếu tố đầu vào cho sản xuất, liên kết
ở khâu sản xuất, liên kết ở khâu tiêu thụ. Tăng cường liên kết kinh tế trong công
nghiệp là cơ hội để tăng số lượng doanh nghiệp công nghiệp, đồng thời tạo điều
kiện để doanh nghiệp phát triển hiệu quả và bền vững, nâng cao khả năng cạnh
tranh trên thị trường nội địa và thế giới.
1.3.2. Nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp
Nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp phản ánh sự phát triển công
nghiệp về chiều sâu. Đó là sự gia tăng về quy mô và sản lượng phải dẫn đến những
biến đổi tích cực trong sản xuất và sản phẩm công nghiệp. Sản xuất công nghiệp
phải theo hướng ngày càng hiện đại, tính chuyên môn hoá cao, dây chuyền và thiết
bị sản xuất tiên tiến, nâng cao trình độ tay nghề lao động, sản phẩm phải đa dạng
chủng loại, tạo ra chuỗi giá trị cao.
Một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phát triển công nghiệp về chất là tỷ lệ giữa
giá trị gia tăng (VA
CN
) và giá trị sản xuất công nghiệp (GO
CN
). Tỷ lệ này càng cao
phản ánh hiệu quả trong sản xuất công nghiệp. Làm được điều đó, đòi hỏi sản xuất
công nghiệp phải phát huy tối đa các nguồn lực sẵn có, đồng thời phải đẩy mạnh
đầu tư đổi mới trang thiết bị, máy móc để tăng năng suất; nâng cao tính chuyên
hoặc có thể là những sản phẩm hoàn chỉnh). Lựa chọn cơ cấu công nghiệp
theo mô hình liên kết các ngành công nghiệp có liên quan chặt chẽ với nhau,
từ khai thác đến chế biến tài nguyên phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và sản
xuất trong nước, đồng thời hướng đến phục vụ xuất khẩu có ý nghĩa rất quan
trọng về cả kinh tế, xã hội và môi trường.
- Liên kết giữa ngành công nghiệp chế biến với ngành sản xuất nông, lâm,
thuỷ sản trên từng vùng lãnh thổ. Mô hình này sẽ đảm bảo cho các nhà máy
chế biến chủ động về nguồn nguyên liệu, từ đó chủ động trong sản xuất,
nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tạo vị thế cạnh tranh. Đây là cơ
sở để ngành công nghiệp chế biến và ngành sản xuất nguyên liệu phục vụ
13
cho công nghiệp chế biến nông-lâm-thuỷ sản có thể phát triển một cách bền
vững, lâu dài.
Lựa chọn cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng phát triển các mô hình liên kết là
xu hướng tất yếu, phù hợp với tiềm năng và lợi thế về tài nguyên, về nguồn nguyên
liệu do các ngành sản xuất nông-lâm-thuỷ sản sản xuất ra và phù hợp với xu thế hội
nhập quốc tế. Đây là quá trình chuyển dần từ các ngành công nghiệp dựa vào lợi thế
tài nguyên sang lợi thế về vốn, khoa học và công nghệ.
Cơ cấu công nghiệp theo vùng
Phát triển công nghiệp theo vùng là nhằm khắc phục tình trạng phân bổ công
nghiệp mất cân đối giữa các vùng, địa phương. Sự phát triển công nghiệp không cân
đối giữa các vùng làm hạn chế trong khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng mà còn
gây mất cân đối thu nhập giữa các vùng, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, gây áp
lực lên hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội. Vì vậy, chính sách phát triển công
nghiệp theo vùng là nhằm thúc đẩy sự phát triển công nghiệp một cách cân đối, hài
hoà trên cơ sở phát huy được tất các tiềm năng, lợi thế của vùng.
Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế
Để phát triển công nghiệp theo hướng đã lựa chọn, nhất là các ngành công
nghiệp được ưu tiên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phát triển công
nghiệp cân đối trên các vùng lãnh thổ cần có các chính sách khuyến khích các thành
xây dựng, vốn đầu tư không lớn, tạo được nhiều việc làm cho người lao động, góp
phần tích luỹ vốn ban đầu. Nhưng về lâu dài lại tạo ra giá trị gia tăng thấp, ít sự
sáng tạo, năng suất lao động tăng chậm. Lúc này, việc tận dụng lợi thế của kẻ đi sau
lại tạo ra bước đột phá trong sản xuất, phát triển các ngành công nghệ cao, nâng cao
năng suất lao động, tạo ra giá trị gia tăng lớn.
Công nghệ thích hợp khi có tỉ lệ vốn-lao động phù hợp với nguồn lực sẵn có
của đất nước, địa phương. Thực tế cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài thường cung
cấp những công nghệ phù hợp với điều kiện của họ, tức là có tỉ lệ vốn-lao động cao.
Ứng dụng công nghệ hiện đại sẽ đạt được năng suất cao, tạo nhiều mối liên kết và
tiềm năng sẽ tạo ra được những ngành công nghiệp chiến lược, đặc biệt trong hoàn
cảnh chính sách thay thế nhập khẩu. Tuy nhiên, trên cơ sở nguồn lực của các nước
đang phát triển, công nghệ hiện đại chỉ có thể đạt được thành công khi có chính
sách can thiệp của Nhà nước. Một số chính sách can thiệp chủ yếu như:
15
- Chính sách giá trần và giá sàn của Nhà nước: chính sách lương tối thiểu hay lương
theo thoả thuận của công đoàn dẫn đến xu hướng chuyển sang sử dụng công nghệ
thâm dụng vốn.
- Chính sách lãi suất trần, quản lý tín dụng làm cho các doanh nghiệp lớn có cơ hội
hơn và chuyển sang công nghệ thâm dụng vốn.
- Chính sách ngoại thương nói chung khuyến khích các doanh nghiệp lớn thông qua
miễn giảm thuế nhập khẩu máy móc thiết bị.
Nhưng những can thiệp trên sẽ không có lợi cho các doanh nghiệp quy mô
nhỏ. Các công nghệ không thích hợp thể hiện:
- Sản phẩm không thích ứng với nhu cầu và thị hiếu của đại đa số người tiêu dùng
trong nước.
- Sử dụng nguyên liệu nhập khẩu trong khi địa phương có khả năng cung ứng.
- Quy mô hoạt động quá lớn vượt quá khả năng quản lý.
- Sử dụng lao động kỹ thuật cao không có sẵn tại địa phương.
- Sử dụng nhiều máy móc nhập khẩu đắt tiền không thích hợp với điều kiện địa
phương.
Phát triển các ngành công nghiệp quy mô vừa và nhỏ
Trong một số ngành công nghiệp mà sản phẩm có tính thời trang như quần áo, giày
dép, đồ gỗ gia dụng, vật liệu xây dựng, thực phẩm, thì quy mô vừa và nhỏ tỏ ra khá
hiệu quả. Việc phân loại quy mô lớn, vừa hay nhỏ dựa vào tiêu thức số lao động hay
số vốn và chỉ mang tính chất tương đối.
Doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng
thoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử
dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt rất linh
hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị
trường, phát huy và tận dụng tốt các nguồn lực ở những vùng sâu, vùng xa.
Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp quy mô nhỏ ở các thành phố lớn còn
nhiều hơn các doanh nghiệp quy mô lớn. Hơn nữa, doanh nghiệp quy mô nhỏ nói
chung thường sử dụng công nghệ thâm dụng lao động. Loại hình doanh nghiệp này
tạo nhiều việc làm, góp phần phân phối lại thu nhập. Công nghiệp quy mô nhỏ còn
thúc đẩy phi tập trung hoá do phân bổ ở nông thôn hay những thành phố nhỏ, đó là
xí nghiệp thôn dã. Những ngành công nghiệp truyền thống cũng thường phát triển ở
quy mô vừa và nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ còn là vườn ươm cho các tài năng quản lý.
17
Tuy nhiên, hiệu quả của các doanh nghiệp quy mô nhỏ phụ thuộc nhiều vào
hiệu quả sinh ra do sự kết hợp nhiều doanh nghiệp và do các hoạt động thay thế hay
hỗ trợ. Những người sản xuất quy mô nhỏ cần tiếp cận với các đầu vào trung gian
nên thích phân bổ gần các cảng hay những tiện ích giao thông khác. Các doanh
nghiệp nhỏ ít tự đào tạo lao động, nhưng hưởng lợi do gần các trung tâm đô thị nơi
lao động có tay nghề. Các doanh nghiệp nhỏ có tỉ lệ phá sản khá cao.
Chính phủ tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển như:
cung cấp hệ thống luật pháp, những thể chế khác, duy trì những chính sách dựa trên
cơ sở thị trường, loại bỏ những chính sách làm nản lòng nhà kinh doanh. Chính phủ
còn hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng trong dài hạn, trợ cấp
cho các doanh nghiệp này sẽ tốn kém và tỏ ra kém hiệu quả.[1, tr 190-192]
1.4.Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển công nghiệp
nguyên thiên nhiên là nguồn lực có hạn, nếu chỉ biết khai thác thì dần dần trở nên
cạn kiệt một cách nhanh chóng. Tài nguyên thiên nhiên chỉ trở thành một sức mạnh
kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng nó một cách hiệu quả. Thực tế cho
thấy, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc,.v.v là những nước có ít tài nguyên
nhưng lại là những nước có nền công nghiệp phát triển mạnh nhờ biết cách tận dụng
các lợi thế và tiềm năng của mình. Trong khi, đa phần các nước đang phát triển ở
giai đoạn đầu thường quan tâm nhiều đến xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản
phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, chưa
qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế. Tuy điều này đem lại sự gia tăng thu nhập ban đầu
cho quốc gia, nhưng đây không phải là con đường để phát triển bền vững trong dài
hạn.
Đối với những ngành công nghiệp chủ chốt thì khoáng sản là một trong những
nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa hàng đầu đối với việc phát triển và phân bố
công nghiệp. Khoáng sản được coi là “bánh mì” cho các ngành công nghiệp. Số
lượng, chủng loại, trữ lượng, chất lượng khoáng sản và sự kết hợp các loại khoáng
sản trên lãnh thổ sẽ chi phối qui mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp công nghiệp.
Các nhân tố tự nhiên khác cũng có tác động tới sự phát triển và phân bố công
nghiệp như đất đai, tài nguyên sinh vật biển:
+ Về mặt tự nhiên, đất ít có giá trị đối với công nghiệp. Suy cho cùng, đây chỉ là nơi
để xây dựng các xí nghiệp công nghiệp, các khu vực tập trung công nghiệp. Quỹ đất
19
dành cho công nghiệp và các điều kiện về địa chất công trình ít nhiều có ảnh hưởng
tới qui mô hoạt động và vốn kiến thiết cơ bản.
+ Tài nguyên sinh vật và tài nguyên biển cũng có tác động tới sản xuất công nghiệp.
Rừng và hoạt động lâm nghiệp là cơ sở cung cấp vật liệu xây dựng (gỗ, tre, nứa…),
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp giấy, chế biến gỗ và các ngành tiểu thủ
công nghiệp (tre, song, mây, giang, trúc…), dược liệu cho công nghiệp dược phẩm.
Sự phong phú của nguồn thuỷ, hải sản với nhiều loại động, thực vật dưới nước có
giá trị kinh tế là cơ sở để phát triển ngành công nghiệp chế biến thuỷ hải sản.
Ngoài các dạng tài nguyên biển khác như dầu mỏ, khí đốt,.v.v. được con người biết
cao và nâng cao hiệu quả sản xuất trong các ngành công nghiệp khác. Ngoài ra, ở
những địa phương có truyền thống về tiểu thủ công nghiệp với sự hiện diện của
nhiều nghệ nhân thì sự phát triển ngành nghề này không chỉ thu hút lao động, mà
còn tạo ra nhiều sản phẩm độc đáo, mang bản sắc dân tộc, được ưa chuộng trên thị
trường trong và ngoài nước. Nếu biết đầu tư, khai thác, phát huy những yếu tố này
sẽ mở ra một cơ hội mới trong phát triển công nghiệp, vừa đáp ứng nhu cầu trong
nước vừa mang lại giá trị xuất khẩu cao.
Quy mô, cơ cấu và thu nhập của dân cư có ảnh hưởng lớn đến quy mô và cơ
cấu của nhu cầu tiêu dùng. Đó cũng là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp,
nhất là các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu ngày
càng phát triển của dân cư. Bên cạnh đó, phong tục tập quán, lịch sử truyền thống
cũng ảnh hưởng rất lớn đến phát triển công nghiệp mỗi quốc gia nói chung và từng
địa phương nói riêng. Khi tập quán và nhu cầu tiêu dùng thay đổi sẽ làm biến đổi về
quy mô và hướng chuyên môn hoá của các ngành và xí nghiệp công nghiệp. Từ đó
dẫn đến sự mở rộng hay thu hẹp của không gian công nghiệp cũng như cơ cấu
ngành của nó.
Phân tích nhân tố này, đòi hỏi mỗi quốc gia cũng như địa phương phải biết
tận dụng những lợi thế trong việc lựa chọn những ngành công nghiệp cần ưu tiên
phát triển, mặt khác cần có sự kết hợp các ngành có lợi thế về mặt xã hội với các
ngành đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn và hàm lượng khoa học công nghệ cao.
1.4.4. Các yếu tố về nguồn lực
- Vốn sản xuất và vốn đầu tư
Vai trò của vốn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế đã được chứng minh trong
lý thuyết của kinh tế học phát triển như: mô hình Harrod-Domar, J.Keynes. Đối với
21
sản xuất công nghiệp, vốn có vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất và mở
rộng; góp phần gia tăng năng lực sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh nhờ đầu
tư đổi thiết bị, công nghệ sản xuất. Đối với cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển
công nghiệp, vốn góp phần đầu tư mới, duy trì và mở rộng theo hướng ngày càng
hoàn thiện, đồng bộ, hiện đại.
xuất hiện một số ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến và mở ra triển vọng
phát triển của công nghiệp trong tương lai.
Nhân tố khoa học công nghệ còn ảnh hưởng quyết định đến nâng cao năng
suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhờ các tiến bộ của khoa học công
nghệ các dây chuyền, thiết bị trong khai thác, sản xuất công nghiệp ngày càng trở
nên tiến tiến, hiện đại; từ đó tăng khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực phục vụ cho sản xuất, tiết kiệm được chi phí trong sản xuất, từ đó nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ứng dụng và đổi mới công nghệ giúp tạo
ra những sản phẩm có ưu thế vượt trội, có hàm lượng khoa học công nghệ cao, đa
tính năng, chủng loại và mẫu mã, nâng cao khả năng chiếm lĩnh thị trường, do đó
mở rộng được thị trường tiêu thụ.
Công nghệ và đổi mới công nghệ trong công nghiệp còn góp phần giải quyết
nhiệm vụ bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện làm việc, giảm lao động nặng nhọc
độc hại, biến đổi cơ cấu lao động theo hướng: nâng cao tỷ lệ lao động có trình độ
chuyên môn cao, lao động kỹ thuật có tay nghề giỏi, giảm dần lao động phổ thông
và lao động giản đơn.
Tiến bộ khoa học công nghệ thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động
xã hội. Ở mỗi trình độ công nghệ có những hình thức và mức độ phân công lao
động thích ứng. Đồng thời sự phân công lao động xã hội hợp lý là môi trường thuận
lợi để thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ phát triển . Phân công lại lao động là tác
nhân trực tiếp của sự hình thành công nghiệp và sự phân hoá nội bộ công nghiệp
thành những phân hệ khác nhau. Bởi vậy, trình độ tiến bộ của khoa học công nghệ
càng cao, phân công lao động xã hội càng sâu sắc, sự phân hoá công nghiệp diễn ra
càng mạnh và cơ cấu công nghiệp càng phức tạp.
Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra những nhu cầu mới. Chính những nhu cầu
này là tác nhân dẫn đến sự ra đời và phát triển một số ngành công nghiệp mới đại
diện cho công nghiệp trình độ cao. Những ngành này khi xuất hiện được xem là