LUẬN VĂN:
Phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Bến Tre - Thực trạng và giải pháp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Do vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đề ra chủ trương đẩy mạnh công cuộc
công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước. Đại hội IX tiếp tục đề ra mục tiêu
đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng sông cửu long, rất có tiềm năng phát triển nông
nghiệp và công nghiệp (như điều kiện thiên nhiên ưu đãi, sản lượng dừa, thủy sản, cây ăn
quả, nguồn lao động dồi dào… ). Thực tiễn cho thấy, hơn 20 năm tập trung phát triển nông
nghiệp, Bến Tre cũng chỉ “đủ ăn” và bước đầu xóa được đói nghèo; thu nhập bình quân đầu
người chỉ đạt khoảng 600 USD/năm (2007); chưa tạo được sự phát triển mạnh mẽ, đột phá.
Bài học ban đầu là muốn phát triển kinh tế phải quan tâm nhiều hơn cho phát triển công
nghiệp trên cơ sở tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.
Vì thế, từ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (2000-2005), tỉnh đã xác định hai lợi thế
là kinh tế vườn (với trọng tâm là cây dừa và cây ăn trái) và kinh tế biển (trọng tâm là đánh
bắt và nuôi trồng thủy hải sản), và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (2005-2010) đã xác
3.1. Mục đích nghiên cứu: Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn; đề xuất định
hướng, giải pháp phát triển cơng nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về cơng nghiệp và phát triển cơng nghiệp theo
hướng cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp trên đòa bàn tỉnh
Bến Tre từ năm 2000-2007.
- Đề xuất một số định hướng, giải pháp phát triển công nghiệp trên đòa
bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp
của tỉnh, trong đó trọng tâm là nhân tố quản lý nhà nước của chính quyền địa phương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu q trình phát triển cơng
nghiệp, các nhân tố tác động bên trong tỉnh đến phát triển cơng nghiệp trên đòa bàn
tỉnh Bến Tre từ năm 2000-2007, trong đó nhân tố quản lý nhà nước của chính
quyền địa phương là chủ yếu. Phần định hướng và giải pháp phát triển cơng nghiệp chủ
yếu tập trung luận chứng đến năm 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách,
pháp luật của Nhà nước; các quan điểm, chính sách, biện pháp của Tỉnh ủy và UBND tỉnh
Bến Tre. Luận văn còn kế thừa một cách có chọn lọc các cơng trình nghiên cứu khoa học,
các đề tài của các cơ quan, các nhà khoa học trong và ngồi tỉnh có liên quan đến nội dung
của luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Ngoài những phương pháp truyền thống mang
tính phương pháp luận, trong luận văn này sử dụng phương pháp phân tích thực
chứng, so sánh tổng hợp, thống kê, phương pháp chuẩn tắc.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng phát triển cơng nghiệp trên địa bàn
thuật.
Theo Từ điển tiếng Việt, công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt động
kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng, và chuyển biến các nguyên
liệu - gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm.
Từ hai khái niệm trên cho thấy, công nghiệp bao gồm những hoạt động sản xuất, bắt
đầu từ hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, tách đối tượng lao động ra khỏi thiên
nhiên và hoạt động chế biến các tài nguyên có được từ khai thác, làm thay đổi hoàn toàn về
chất các nguyên liệu ban đầu để biến chúng thành những sản phẩm tương ứng hoặc nguồn
nguồn nguyên liệu tiếp theo để sản xuất ra các sản phẩm khác phục vụ nhu cầu đa dạng của
con người. Ở đây, chúng ta chưa thấy đề cập đến ngành công nghiệp sửa chữa, khôi phục
giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt; đây
là hoạt động không thể thiếu khi đề cập đến công nghiệp, nó xuất hiện sau công nghiệp khai
thác và công nghiệp chế biến. Chính vì vậy, tác giả đồng quan điểm với các tác giả cuốn
“Kinh tế và quản lý công nghiệp” (1997), công nghiệp gồm ba loại hoạt động chủ yếu: Khai
thác tài nguyên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy (khoáng sản, động thực vật); sản xuất
và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông nghiệp thành nhiều loại sản
phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội; các ngành sửa chữa, khôi phục giá
trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt [20,
tr.5].
Trong ba loại hoạt động trên, hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ
quá trình sản xuất công nghiệp, tác động của quá trình này là tách đối tượng lao động ra
khỏi môi trường tự nhiên. Hoạt động chế biến là hoạt động thứ hai có đặc điểm lam thay đổi
hoàn toàn về chất các nguyên liệu nguyên thủy và có thể tạo ra sản phẩm tương ứng hoặc có
thể từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau để sản xuất ra một sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trong sinh hoạt hoặc trong sản xuất. Hoạt động sửa chữa là hoạt động thứ ba, không
thể thiếu được nhằm khôi phục, kéo dài thời gian sử dụng các thiết bị, máy móc, tư liệu
phục vụ cho lao động sản xuất và các sản phẩm dùng trong sinh hoạt; công nghiệp sửa chữa
là hoạt động có sau công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến.
1.1.1.2. Đặc điểm
phân bổ các ngành công nghiệp; trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế thì
việc giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến là điều cần
thiết, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
- Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật – công nghệ sản xuất: người ta chia công nghiệp
thành những ngành có cùng đặc trưng kỹ thuật – công nghệ, hoặc cùng phương pháp công
nghệ, hoặc sản phẩm có công dụng cụ thể tương tự nhau. Cách phân chia này có ý nghĩa đối
với việc quy hoạch các ngành công nghiệp dưa trên cân đối liên ngành.
- Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất: người ta chia công nghiệp
thành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài. Việc phân chia này có ý nghĩa cho việc xây dựng chính sách để phát triển các
thành phần kinh tế phù hợp với chiến lược chung của mỗi quốc gia.
- Dựa vào quy mô doanh nghiệp: người ta chia công nghiệp thành công nghiệp lớn,
công nghiệp vừa và công nghiệp nhỏ. Việc phân chia này là cơ sở cho việc hoạch định chính
sách và có hình thức quản lý phù hợp nhằm hỗ trợ, phát triển công nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.3. Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
- Công nghiệp đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của nền kinh tế: công
nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân, vừa tạo ra tư liệu tiêu
dùng, vừa tạo ra tư liệu sản xuất; trình độ phát triển công nghiệp là một trong những tiêu chí
để đánh trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia. Công nghiệp là ngành có năng suất lao
động cao, có giá trị gia tăng lớn do có kỷ luật lao động chặt chẽ và có điều kiện ứng dụng
tiến bộ khoa học - công nghệ phổ biến nên nó có vai trò dẫn dắt cả về kinh tế lẫn kỹ thuật
đối với các ngành khác trong nền kinh tế.
- Công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp và dịch vụ phát triển theo hướng CNH-HĐH:
công nghiệp tạo đầu ra và điều kiện cho nông nghiệp phát triển, đồng thời thu hút lao động
từ khu vực nông thôn, góp phần cơ cấu lại lao động, nâng thu nhập và trình độ cho lao động
nông thôn. Khi thu nhập từ nông nghiệp, công nghiệp tăng lên sẽ khuyến khích tiêu dùng, là
điều kiện để công nghiệp và dịch vụ phát triển.
- Quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa: Trong quá
trình công nghiệp hóa đất nước, công nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của
lượng sản xuất, giải phóng mọi năng lực sản xuất thì không thể nói đến việc xây dựng
một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại. Vì vậy, CNH được
xem là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội xuyên suốt các nghị
quyết Đại hội Đảng. Từ Đại hội III đến Đại hội X, Đảng ta luôn xác định CNH là nhiệm
vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, qua các thời kỳ phát triển kinh tế,
quan đểm về CNH có những thay đổi cơ bản.
Trước Đại hội VII, quan niệm phổ biến về CNH ở nước ta là quá trình thực hiện cách
mạng kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao động xã hội và là quá trình tích lũy
XHCN để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng; đường lối CNH được xác định là ưu
tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ.
Tuy nhiên, từ Đại hội giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã có quan niệm mới về
CNH, gắn với HĐH. CNH thực chất là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của XHCN, là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới cơ bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự
tăng trưởng nhanh, hiệu quả và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nghị quyết Hội nghị IX của Đảng nêu rõ: “Đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực
lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCH” [9,
tr.89].
Từ những định hướng trên, có thể hiểu CNH hiện nay là một quá trình chuyển nền
sản xuất từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động có kỹ thuật cùng với
công nghệ tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội ngày càng cao; là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp và khai thác tài nguyên là chủ yếu sang cơ cấu
mới có công nghiệp đóng vai trò chủ đạo, tỷ trọng công nghiệp trong GDP ngày càng tăng,
tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa
thành thị và nông thôn trên cơ sở khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi thế
các mặt của quốc gia cũng như của từng vùng, miền của quốc gia.
Trong khi đó, theo Phạm Kim Ích (1994), HĐH là một quá trình mà nhờ đó các nước
đang phát triển tìm cách đạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách
phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần nhân dân; tạo nền tảng để
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [9,
tr.159]. Như vậy, đến năm 2020, được chia thành 2 chặng:
- Từ 2000-2020: đẩy nhanh quá trình CNH, đưa đất nước vượt qua giai đoạn trung
bình của quá trình CNH; là giai đoạn chuẩn bị cất cánh. GDP bình quân đầu người đạt
khoảng 1000 USD vào năm 2010 (theo giá 1990). Hoàn chỉnh đồng bộ một bước cơ bản các
kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội để đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt và chuẩn bị tiền đề
cho bước sau – xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp. Hình thành một số ngành,
lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn. Cơ cấu kinh tế theo ngành và lĩnh vực tạo được hiệu quả cao
và bền vững; cơ cấu kinh tế theo vùng tạo được sự hài hòa giữa vùng phát triển động lực và
các vùng khác. Tiếp tục thực hiện bước quan trọng trong việc hình thành thể chế kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
- Từ 2010-2020: đẩy nhanh HĐH, là giai đoạn đã hội đủ điều kiện mang tính tiền
đề về kết cấu hạ tầng, khung thể chế, nguồn nhân lực, năng lực nội sinh, sức cạnh tranh
và khả năng hội nhập quốc tế… để đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng nước ta cơ bản thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Việc phát triển công nghiệp cần quán triệt những quan điểm sau:
- Tăng tốc độ phát triển công nghiệp với tốc độ cao, nâng cao tỷ trọng công nghiệp
trong nền kinh tế. Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, phát triển
mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện
tử, tự động hóa, đồng thời phát triển rộng khắp các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa
với ngành nghề đa dạng, vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào
một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, chuyển dịch cơ cấu các ngành
kinh tế nội bộ công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp chế tạo, chủ yếu là các
ngành chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.
- Về cơ cấu thành phần, các thành phần sở hữu trong công nghiệp được khuyến khích
phát triển bình đẳng. Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp quốc doanh… đều có sân chơi bình đẳng. Tuy nhiên, ở
một số ngành trọng điểm có vai trò quyết định đến cơ cấu kinh tế, đòi hỏi vốn nhiều, thời
bức xúc về phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Đối với nước ta, điều quan trọng
nhất là có chiến lược, chính sách đúng đắn trong việc lựa chọn các ngành công nghiệp trọng
điểm, mũi nhọn để phát triển, có khả năng lan tỏa và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát
triển.
Hai là, phát triển công nghiệp phải gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Khác với các nước XHCN trước đây và nước ta ở những năm 60-70, quá trình
CNH-HĐH ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo. Nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường là môi trường thuận lợi để giải phóng lực lượng
sản xuất, phát huy mọi nguồn lực xã hội; nó thật sự tạo ra động lực, phân bổ và sử dụng hợp
lý các nguồn lực, phát huy được nội lực, thu hút ngoại lực cho công cuộc phát triển, tạo ra
động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững. Trong 10 năm tới, chúng ta cần hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển đồng bộ các loại thị trường hàng hóa và dịch vụ,
thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học – công
nghệ… để hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển. Bên cạnh việc phát huy mặt tích cực của
kinh tế thị trường, cần chú ý hạn chế, khắc phục những mặt tiêu cực bằng sự quản lý của
nhà nước.
Ba là, quá trình CNH-HĐH ở nước ta phải là quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ gắn với hội nhập kinh tế quốc tế. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng gia tăng khiến cho các nước càng coi trọng
hơn lợi ích quốc gia, dân tộc, bản sắc văn hóa và càng chú ý hơn đến việc xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ, đảm bảo vị thế và lợi ích quốc giia, dân tộc trong cuộc cạnh tranh
gay gắt, khẳng định địa vị chính trị trên trường quốc tế, không bị lệ thuộc vào quốc gia
khác. Độc lập tự chủ trong điều kiện hiện nay phải được hiểu là trong các quan hệ kinh tế,
chính trị không bị lệ thuộc vào sự áp đặt của người khác làm tổn hại đến chủ quyền quốc
gia và lợi ích cơ bản của dân tộc; hoặc trước tác động của khủng hoảng, chấn động bên
ngoài hay bao vây cấm vận thì vẫn giữ được sự ổn định, không bị sụp đỗ về kinh tế và
chế độ chính trị. Do vậy, phát triển công nghiệp phải gắn với xây dựng và nâng cao tiềm
lực quốc phòng an ninh.
xuất công nghiệp trên lãnh thổ dẫn tới hình thành những phức hợp gồm nhiều ngành công
nghiệp tạo thành cơ cấu kinh tế ở từng vùng lãnh thổ cụ thể.
Thứ ba, sự phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật của mỗi địa phương, bao gồm hệ
thống giao thông vận tải, cung ứng điện năng, cấp thoát nước, thông tin liên lạc… là
những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững, có hiệu quả của công
nghiệp nói chung và tổ chức sản xuất công nghiệp trên vùng lãnh thổ nói riêng. Sự hình
thành và phát triển công nghiệp của mỗi vùng sẽ tác động thúc đẩy sự phát triển và đồng
bộ hóa hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Trong mối quan hệ này, thường kết cấu hạ tầng
phải đi trước một bước; việc nâng cấp và phát triển mới hệ thống kết cấu hạ tầng được
coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của công cuộc CNH-HĐH.
1.2.2. Các yếu tố tác động đến phát triển công nghiệp của một địa phương cấp
tỉnh
1.2.2.1. Các yếu tố bên trong
* Nhóm yếu tố về điều kiện phát triển công nghiệp
- Điều kiện tự nhiên:
Địa lý kinh tế: điều kiện địa lý, vị trí địa lý của một địa phương hay quốc gia ảnh
hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, vùng nguyên liệu cho công nghiệp, cũng như mối
liên hệ của địa phương, quốc gia đó đối với các trung tâm kinh tế khu vực và quốc tế.
Khí hậu, thời tiết: là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển nguồn nguyên liệu
công nghiệp, đến các hoạt động khai thác, tổ chức sản xuất và phân phối.
Tài nguyên thiên nhiên: là cơ sở của nguồn đầu vào có thể khai thác được để phát
triển công nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của các ngành, địa phương hay quốc
gia.
- Điều kiện kinh tế - xã hội:
Tình hình phát triển kinh tế: bao gồm tốc độ phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế và
đóng góp của từng ngành vào tăng trưởng kinh tế, thu – chi ngân sách, độ mở của nền kinh
tế… Tình hình phát triển kinh tế vừa phản ánh sự đóng góp của công nghiệp vào nền kinh
tế, vừa phản ánh môi trường để phát triển công nghiệp.
Hiện trạng kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp: cơ sở hạ tầng là yếu tố có ảnh
trong giải quyết thủ tục hành chính cũng như các khoản đóng góp khác.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp: là điều kiện cần thiết để phát
triển công nghiệp, bao gồm việc quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, bến
bãi, hệ thống cấp điện, nước, thông tin liên lạc, đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp.
- Tổ chức thực thi của cơ quan quản lý nhà nước: là việc xác định bộ máy tổ chức đủ
sức thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch đã được ban hành nhằm
biến chúng trở nên hiện thực, tạo ra sự phát triển của công nghiệp nói riêng và phát triển
chung của nền kinh tế.
* Nhóm nhân tố về doanh nghiệp công nghiệp
- Vốn đầu tư của doanh nghiệp công nghiệp: bao gồm vốn cố định và vốn lưu động
đảm bảo cho các doanh nghiệp đầu tư thiết bị công nghệ phù hợp và đảm bảo các nguồn đầu
vào hợp lý nhằm duy trì sản xuất theo kế hoạch và nhu cầu thị trường.
- Trình độ kỹ thuật - công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp: là sự đầu tư trang
thiết bị, công nghệ phù hợp với ngành nghề nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm. Trình độ kỹ
thuật – công nghệ quy định năng suất lao động trong doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của
sản phẩm của doanh nghiệp đó.
- Trình độ nhân lực của doanh nghiệp công nghiệp: phản ánh trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, trình độ quản lý của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân lao động.
Trình độ nhân lực là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tiếp cận với các chuẩn quản lý
tiên tiến, các thiết bị - công nghệ hiện đại.
- Trình độ tổ chức, quản lý của của doanh nghiệp công nghiệp: phản ánh hình thức
và mức độ khoa học, hiệu quả trong tổ chức quản lý doanh nghiệp; trình độ này cũng được
thể hiện qua các mô hình tổ chức và các chuẩn quản lý tiên tiến được doanh nghiệp áp dụng.
1.2.2.2. Các yếu tố bên ngoài
* Môi trường thể chế và sự điều tiết của Nhà nước. Bên cạnh sự ổn định về chính trị
- xã hội tạo thành môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, động viên đầu tư trong nước
và thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển công nghiệp, yếu tố môi trường thể chế (hệ
thống các chủ trương, chính sách ) thuận lợi, ổn định sẽ có tác dụng khuyến khích, động
viên và là nhân tố tác động mạnh mẽ đến thu hút đầu tư phát triển các ngành kinh tế nói
công nghệ thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội phát sinh yêu cầu phải
phát triển mạnh một số ngành công nghiệp. Nói cách khác, tập trung đầu tư để phát triển một số
ngành công nghiệp trọng điểm là điều kiện vật chất thiết yếu, là tiền đề quan trọng để thực hiện
có hiệu quả các nội dung của tiến bộ khoa học - công nghệ. Tiến bộ khoa học - công nghệ
không những tạo ra những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành,
mà còn tạo ra những nhu cầu mới và chính những nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời và phát triển
mạnh một số ngành công nghiệp trọng điểm, những ngành được coi là đại diện của công nghệ
tiên tiến, công nghệ mới, có hàm lượng chất xám cao, tạo ra giá trị gia tăng cao, tuy là những
ngành non trẻ, nhưng là sự khởi đầu của kỷ nguyên (hoặc thế hệ) công nghệ mới, nên có
triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
1.3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển công nghiệp ở nước ngoài
- Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Nhật Bản: lịch sử phát triển công nghiệp
của Nhật Bản bắt đầu từ nền nông nghiệp truyền thống, tự cấp - tự túc, quy mô hộ nông
nghiệp nhỏ, nhưng Nhật Bản nhanh chóng trở thành quốc gia có nền nông nghiệp và công
nghiệp phát triển ở trình độ cao với nền kinh tế thị trường và nông thôn đều phát triển. Có
được thành tựu đó là nhờ Nhật Bản tiến hành chủ trương cơ giới hóa nông nghiệp với hệ
thống cơ khí nhỏ phù hợp với cây lúa nước và quy mô hộ nhỏ. Theo tác giả Nguyễn Điền
trong Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước Châu Á và Việt Nam cho biết:
Thành công trong cơ giới hóa nông nghiệp làm cho năng suất lao động nông nghiệp tăng,
chi phí lao động giảm, đã chuyển hàng chục triệu lao động nông nghiệp sang các hoạt động
công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội giảm
đi nhanh chóng, nếu năm 1950 là 45,2%, năm 1960 là 28%, năm 1970 là 16,8%, đến năm
1980 là 10%, năm 1990 là 6,3% và hiện nay là dưới 5%.
Song song đó, Nhật Bản đẩy mạnh thành lập các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ
và công nghiệp gia đình ở nông thôn làm vệ tinh, gia công cho các công ty, xí nghiệp lớn ở
thành thị; duy trì các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống ở nông thôn nhằm tận
dụng hết các loại lao động nhàn rỗi vào các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp để nâng
cao thu nhập của dân cư nông thôn; phát triển mạnh mẽ hệ thống hợp tác xã ở nông thôn
- Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của tỉnh Đồng Nai: với vị trí của mình, Đồng
Nai xác định công nghiệp là bộ phận chủ đạo của nền kinh tế của tỉnh. Bên cạnh đẩy mạnh
CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn và phát triển các làng nghề truyền thống, tỉnh chủ
trương phát triển các ngành công nghiệp có quy mô lớn, có hàm lượng tri thức và công nghệ
cao. Các ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là: công
nghiệp khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến,
da – giày, may mặc, công nghiệp điện tử - CNTT. Để thực hiện định hướng đó, Đồng Nai
thực hiện tốt việc liên kết vùng trong đầu tư phát triển công nghiệp, đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng và các khu công nghiệp, xúc tiến kêu gọi đầu tư vào các ngành công nghiệp chủ lực,
tập trung giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh liên quan đến phát triển công nghiệp.
- Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Tiền Giang: dựa trên lợi thế nông nghiệp
đa dạng, sản lượng lớn, Tiền Giang đề ra chủ trương phát triển công nghiệp theo hướng đa
dạng, hướng mạnh về xuất khẩu, theo đó đến 2010 tập trung phát triển công nghiệp chế biến
lương thực thực phẩm, công nghiệp sử dụng nhiều lao động, hình thành công nghiệp đóng
tàu; đến 2015, tập trung phát triển công nghiệp hóa chất, vật liệu xây dựng, công nghiệp
điện - điện tử, cơ khí chế tạo; từ sau 2015, tập trung phát triển các ngành công nghiệp có
hàm lượng tri thức và công nghệ cao. Để thực hiện định hướng trên, Tiền Giang chủ trương
thực hiện quy hoạch các khu công nghiệp, quy hoạch các ngành công nghiệp, quy hoạch
phát triển làng nghề, tăng cường đầu tư vốn và kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp, đào
tạo nguồn nhân lực, tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương và các doanh
nghiệp.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Bến Tre
1. Phát triển công nghiệp là con đường tất yếu để phát triển kinh tế của một địa
phương; chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm và thực hiện tốt chức năng quản lý
nhà nước về công nghiệp để đảm bảo quá trình phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả cao.
2. Phát triển công nghiệp dựa trên các lợi thế so sánh của địa phương, tập trung
hướng mạnh vào xuất khẩu, lựa chọn và phát triển hợp lý các ngành công nghiệp chủ
lực; phát triển công nghiệp gắn liền với CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Kinh
nghiệm này sẽ giúp cho việc phát triển công nghiệp của tỉnh đảm bảo khai thác thế
2.1. NH GI CC YU T TC NG N S PHT TRIN CễNG
NGHIP BN TRE
2.1.1. ỏnh giỏ cỏc yu t iu kin phỏt trin cụng nghip ca tnh
2.1.1.1. iu kin t nhiờn v ti nguyờn thiờn nhiờn
* c im iu kin t nhiờn
- Vị trí địa lý: Bến Tre là một trong 13 tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL), có tọa độ địa lý từ 9
o
48
,
đến 11
o
20
,
độ Vĩ Bắc, 105
o
57
,
đến 106
o
48
,
độ Kinh Đông. Bến Tre giáp với các tỉnh Tiền Giang ở phía Bắc, có ranh giới chung là
sông Tiền; phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, có ranh giới chung là
sông Cổ Chiên; phía Đông giáp biển Đông. Bến Tre có diện tích tự nhiên là 2.356,85
km
2
, chiếm 5,84% diện tích vùng ĐBSCL với đ-ờng biển kéo dài trên 65km, vùng lãnh
hải rộng khoảng 20.000 km