Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thực trạng và giải pháp - Pdf 91

LỜI NÓI ĐẦU
Thanh Hóa là một có địa hình phức tạp , gồm nhiều huyện vùng cao. Khi bước
vào thực hiện công cuộc đổi mới, Thanh Hóa gặp không ít khó khăn cả về địa hình,
khí hậu và xuất phát điểm kinh tế chủ yếu là thuần nông. Trong những năm qua, với
quyết tâm cao Thanh Hóa đã từng bước chuyển tư nền kinh tế thuần nông tự cấp tự
túc sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá và thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH-HĐH.
Nhìn lại 10 năm đổi mới, kinh tế Thanh Hóa liên tục phát triển, GDP tăng đều
qua các năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể, cơ sở hạ tầng phát triển.
Một trong những yếu tố góp phần làm nên sự thành công của Thanh Hóa đó
chính là hoạt động đầu tư. Sự nỗ lực của tỉnh trong việc gia tăng đầu tư đã đem lại
cho kinh tế Thanh Hóa những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt
động đầu tư của tỉnh trong những năm qua còn tồn tại nhiều khó khăn bất cập cần
phải được khắc phục như: đầu tư toàn xã hội còn thấp, hiệu quả và chất lượng đầu tư
một số ngành còn chưa cao, sức cạnh tranh còn yếu, cơ cấu đầu tư chuyển dịch chậm
chưa phát huy lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng, năng lực sản xuất và kết
cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Chính vì
vậy, việc nâng cao hiệu quả đầu tư, đầy mạnh đầu tư trên địa bàn tỉnh trong những
năm tới là vấn đề nổi cộm cần được quan tâm hàng đầu. Vì lý do này, chuyên đề "
Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa thực trạng và giải pháp ” được hoàn thành với mong muốn đóng góp một phần
vào việc giải quyết vấn đề trên.
1
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH THANH HÓA
I. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH THANH HÓA
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý, kinh tế, chính trị
Tỉnh Thanh Hoá thuộc vùng Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 153
km về phía Nam, có tọa độ địa lý từ 19
o

lọc hóa dầu (công trình trọng điểm quốc gia), khu cảng Nghi Sơn (tương lai sẽ là
cảng nước sâu lớn ở phía Bắc), nhiều công trình kinh tế lớn khác sẽ được xây
dựng… mở ra cơ hội phát triển mới, tạo bước đột phá trong tăng trưởng và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng như của vùng Bắc Trung Bộ theo hướng CNH,
2
HĐH.
- Thanh Hóa có nhiều dân tộc anh em sinh sống, có nền văn hóa rất đa dạng về
ngôn ngữ, phong tục tập quán... Đây là một lợi thế lớn để khai thác phục vụ phát triển
du lịch, song cũng đặt ra nhiệm vụ hết sức quan trọng trong vấn đề giữ gìn khối đại
đoàn kết các dân tộc và ổn định chính trị xã hội. Vùng núi phía Tây của tỉnh rộng lớn,
địa hình phức tạp, giao thông cách trở, kết cấu hạ tầng yếu kém, kinh tế xã hội chậm
phát triển… đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả về kinh tế xã hội và an ninh quốc
phòng.
1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình ở Thanh Hoá đa dạng, có hướng thấp dần từ Tây sang Đông và chia
thành 3 vùng rõ rệt:
* Vùng núi và trung du: gồm 11 huyện (Như Xuân, Như Thanh, Thường
xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lặc, Cẩm
Thuỷ và Thạch Thành) với diện tích tự nhiên 7999 km
2
(chiếm 71,8% diện tích tự
nhiên toàn tỉnh). Đây là vùng nối liền giữa hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường
Sơn phía Nam. Độ cao trung bình ở vùng núi từ 600 - 700 mét, độ dốc trên 25
o
, vùng
trung du có độ cao trung bình 150-200 mét, độ dốc từ 15
0
đến 20
0
. Vùng có địa hình

C. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6 - 7) là 30 - 31
o
C, nhiệt độ
trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) là 17
0
C. Biên
độ nhiệt ngày đêm khá cao, từ 8 - 10
o
C vào các tháng mùa đông. Tổng tích ôn cả năm
khoảng 8.600 - 8.700
0
C ở vùng đồng bằng ven biển, giảm xuống còn 8.000
0
C và thấp
hơn ở vùng núi phía Tây; số giờ nắng cao, trung bình từ 1310 -1460 giờ/năm. Tháng có
số giờ nắng cao nhất (tháng 6) là 225 giờ, tháng có số giờ nắng thấp nhất (tháng 12) là
46 giờ).
Tóm lại, là một tỉnh có diện tích rộng, có đủ các dạng địa hình nên Thanh Hoá
có khí hậu khá đa dạng và phân hoá mạnh theo không gian và thời gian. Lượng mưa
lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào… là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất
nông lâm ngư nghiệp. Song các yếu tố khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là hạn hán, bão
lụt, gió nóng,… ở đồng bằng ven biển phía Đông và lũ quét, lạnh giá, sương muối…
ở vùng núi phía Tây cũng gây trở ngại không nhỏ cho sự phát triển chung, nhất là sản
xuất nông nghiệp và đời sống dân cư.
2. Các tài nguyên thiên nhiên chính
2.1. Tài nguyên đất
Theo kết quả phúc tra thổ nhưỡng của FAO- UNESCO, tỉnh Thanh Hoá có 8
nhóm đất chính với 20 loại đất khác nhau và được phân bố như sau:
- Nhóm đất xám: Diện tích 717.245 ha, chiếm 64,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,
phân bố chủ yếu ở vùng trung du miền núi, thuộc các huyện Quan Hoá, Bá Thước, Như

dưỡng, khả năng giữ nước, giữ màu kém... nên năng suất cây trồng thấp. Song đất có
thành phần cơ giới nhẹ nên dễ canh tác, thích hợp cho nhiều loại cây trồng như trồng
rừng, hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả... và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên
trong quá trình canh tác cần tăng cường bón phân cho đất và áp dụng các biện pháp
cải tạo đất.
- Đất khác: Diện tích 97.610 ha, chiếm 8,79% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,
trong đó núi đá vôi là 37.909 ha và ao, hồ, sông suối là 60.701 ha.
2.2. Tài nguyên rừng
Với hơn 2/3 diện tích tự nhiên là đồi núi, tỉnh Thanh Hoá có tài nguyên rừng khá
lớn, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phòng hộ đầu nguồn và phát triển
kinh tế xã hội. Theo QĐ số 571/QQĐ-UBND ngày 12/3/2008 về việc công bố số liệu
hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2007, diện tích đất có rừng toàn tỉnh là
511785,2 ha; trong đó rừng tự nhiên là 386.245,4 ha, rừng trồng 125.539,8 ha; tỷ lệ
che phủ đạt 45,1%, tăng 13% so năm 2000 (năm 2000 là 32,1% và năm 2005 là 43%)
5
- Rừng phòng hộ có diện tích 158.470,2 ha; chiếm gần 40,0% diện tích có
rừng, phân bố chủ yếu ở vùng núi phía Tây và một số ít ở ven biển. Chức năng của
rừng là phòng hộ đầu nguồn các sông lớn như sông Chu, sông Mực, sông Bưởi, Hồ
Yên Mỹ... và phòng hộ ven biển.
- Rừng đặc dụng bao gồm Vườn quốc gia Bến En, Vườn quốc gia Cúc
Phương và các Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên, với tổng diện
tích 76.457,9 ha, chiếm 14,5% diện tích có rừng. Chức năng của rừng là bảo tồn đa
dạng sinh học, hệ động thực vật quí hiếm, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái và
bảo vệ môi trường….
- Rừng sản xuất có diện tích 276.857 ha, chiếm 54,1% diện tích có rừng; tập
trung ở vùng đồi núi thấp và vùng trung du.
Rừng của Thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng với hệ động thực vật khá phong
phú, đa dạng về giống loài. Về thực vật có các loại gỗ quý như lát, pơmu, trầm
hương, lim, sến, vàng tâm…; các loại thuộc họ tre có luồng, nứa, vầu, giang, bương,
tre…; ngoài ra còn có mây, song, dược liệu, cây thả cánh kiến… Tuy nhiên trong

lượng dòng chảy sinh ra trong nội tỉnh; cao nhất xấp xỉ 26 tỷ m
3
, năm nhỏ nhất
khoảng 12 tỷ m
3
.
b/ Tiềm năng thủy điện
Do hệ thống sông suối ở Thanh Hóa khá dầy, trong đó có một số sông lớn, lưu
vực rộng (nhất là hệ thống sông Mã) bắt nguồn từ những vùng núi cao, nhiều thác
ghềnh… nên Thanh Hóa có tiềm năng thuỷ điện khá lớn. Riêng hệ thống sông Mã có
trữ năng lý thuyết tới 12 tỉ KWh với các bậc thang có thể khai thác thủy điện như:
Bản Uôn, Bản Mon, Cẩm Hoàng, La Hán (trên sông Mã) và Cửa Đặt (trên sông Chu)
… Hiện nay công trình hồ Cửa Đặt đang được xây dung, cùng với hệ thống Bái
Thượng cũ tưới cho gần 88.000 ha đất canh tác kết hợp thủy điện (công suất 97
MW).
c/ Nước ngầm
Thanh Hoá có nguồn nước ngầm khá phong phú và đa dạng, thuộc hai dạng
chính là nước ngầm lỗ hổng trong các tầng trầm tích và nước trong các tầng chứa khe
nứt. Các kết quả thăm dò cho thấy nước ngầm phân bố ở nhiều nơi, từ Thạch Thành
tới thị xã Sầm Sơn ở phía Bắc, khu vực Tĩnh Gia ở phía Nam và một phần dọc ven
biển.
d/ Nước khoáng
Nước khoáng ở Thanh Hoá chưa được điều tra nghiên cứu nhiều. Theo kết
quả điều tra ban đầu cho thấy, toàn tỉnh có 14 điểm có dấu hiệu khác thường về nhiệt
độ, thành phần hoá, lý trong nước, nhưng chưa có nguồn nào được nghiên cứu chi
tiết. Hiện mới phát hiện nước khoáng ở một số khu vực như: lỗ khoan 12 tại Ga
Nghĩa trang thuộc xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hoá; lỗ khoan 31 xã Đông Yên,
huyện Đông Sơn và các lỗ khoan UNICEF ở xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương...
2.4. Tài nguyên biển
Thanh Hoá có bờ biển dài 102 km (từ cửa Càn, Nga Sơn đến Hà Nẫm, Tĩnh

đẹp như Sầm Sơn, Hải Tiến-Hoằng Hóa, Hải Hoà-Tĩnh Gia,... Các bãi biển này đều
có đặc điểm chung là dài, độ dốc thoải, cát trắng mịn, nước trong... rất phù hợp cho
tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí. Bên cạnh những bãi tắm đẹp là những
thắng cảnh như Hòn Trống Mái, đền Độc Cước, Đền Cô Tiên ở Sầm Sơn... Ngoài
khơi có các đảo như Hòn Nẹ, Hòn Mê,... làm cho các tuyến du lịch ven biển thêm
phần hấp dẫn. Hiện nay, bãi biển Sầm Sơn đã được khai thác với cơ sở hạ tầng tương
đối hoàn chỉnh. Các bãi biển khác hầu như vẫn còn giữ nguyên vẻ hoang sơ với môi
trường thoáng đãng, trong lành và đang được đầu tư xây dựng như : Hải Tiến, Hải
Hòa… .
Với những tiềm năng và lợi thế trên, trong tương lai việc xây dựng các điểm,
các tour du lịch hợp lý, có sự liên kết chặt chẽ của từng địa danh trong tỉnh sẽ tạo cho
8
ngành du lịch ở Thanh Hóa có cơ hội phát triển mạnh, trở thành điểm đến hấp dẫn và
lý thú của nhiều du khách.
2.6. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản ở Thanh Hoá khá phong phú về chủng loại và đa dạng
về cấp trữ lượng. Hiện toàn tỉnh có tới 257 mỏ và điểm quặng, với 42 loại khoáng
sản, trong đó có một số loại có ý nghĩa quốc tế và khu vực như Crôm, đá ốp lát, đô
lô mít, chì kẽm, thiếc, vonfram, antimoan, đá quý. Nhiều mỏ có trữ lượng lớn và
phân bố tập trung, cho phép khai thác với quy mô công nghiệp như đá vôi, đất sét làm
xi măng. Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển công nghiệp khai
khoáng, công nghiệp sản xuất xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng
Ngoài ra, còn có nhiều loại khoáng sản khác như chì kẽm, Ăngtimon, Niken -
Coban, đồng, thiếc, thiếc-vonfram, Manhezit, Asen, thuỷ ngân, Barit, Pyrit, Berin,
Môlip đen, cát kết (chất trợ dung), sét trắng. Mác sa lít, Fensfat, cát thuỷ tinh, đá xây
dựng, đá granit, đá thạch anh và than chì, than đá và than bùn… tuy trữ lượng không
lớn nhưng có giá trị cao, có thể khai thác ở quy mô nhỏ phục vụ phát triển công
nghiệp địa phương.
3. Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.Về kinh tế:

TT Chỉ tiêu 2000 2005 DK 2010
I Tổng thu ngân sách 1.932.608 6.627.791 10.000.000
1 Thu trên địa bàn 789.071 1.968.670 3.400.000
2 Thu bổ sung từ TW 1.017.816 4.246.230 6.600.000
II Tổng chi trên địa bàn 2.032.504 6.379.102 10.000.000
1 Chi đầu tư phát triển 315.520 1.042.253 6.000.000
Tr.đó: Chi đầu tư XDCB 295.009 1.016.103 6.000.000
2 Chi thường xuyên 1.123.555 2.555.036 4.000.000
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Thanh Hoá và số liệu Sở KH&Đ
Do xuất phát điểm thấp; nên hiện tại quy mô nền kinh tế chưa tương xứng với
quy mô và tiềm năng phát triển của tỉnh; thu nhập dân cư thấp, đời sống dân cư, đặc
biệt là ở các vùng cao, vùng xa còn nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân đầu
người/năm đạt gần 7 triệu đồng (tính theo giá thực tế), chỉ bằng 51% mức trung bình
của cả nước. Thu ngân sách trên địa bàn không lớn, chỉ đáp ứng dưới 50% nhu cầu
chi thường xuyên của tỉnh.
Những năm gần đây nền kinh tế của tỉnh phát triển khả quan, đạt tốc độ tăng
trưởng khá cao và có xu hướng tăng dần vào những năm cuối kỳ; các lĩnh vực văn hoá -
xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, an ninh chính trị, trật tự
xã hội được đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc gia được bảo vệ vững chắc tạo đà cho sự
10
phát triển nhanh hơn trong các giai đoạn tiếp theo.
* Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Biểu 1: Cơ cấu ngành
0
5
10
15
20
25
30

50
60
70
80
2000 2005 DK 2010
Quốc doanh
Ngoài quốc doanh
Vốn đầu tư nước ngoài
Với chính sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và chuyển
đổi mô hình quản lý các doanh nghiệp quốc doanh, cơ cấu thành phần kinh tế của
tỉnh đã chuyển dịch phù hợp dần với cơ chế thị trường. Khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh được phát triển, chiếm ưu thế trong sản xuất nông nghiệp và các ngành dịch
vụ.
* Cơ cấu thành thị và nông thôn: Hiện nay 67,2% số lao động của Thanh Hóa
làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp với gần 90% dân số sống ở khu vực nông
thôn, nhưng tổng giá trị gia tăng của khu vực nông lâm nghiệp chỉ chiếm 28,4% trong
GDP của tỉnh. Điều đó cho thấy, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực
nông lâm nghiệp sang các lĩnh vực khác diễn ra rất chậm. Mức chênh lệch về thu
nhập giữa lao động nông lâm nghiệp với lao động trong các ngành nghề khá cao,
khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn cũng ngày càng lớn.
* Cơ cấu vùng: Kinh tế các vùng đều tăng trưởng nhanh, nhưng đang có xu
hướng tập trung cao ở vùng đồng bằng và ven biển.
- Vùng ven biển : Kinh tế vùng ven biển liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, từ
8,6% giai đoạn 1996 - 2000 lên hơn 12% giai đoạn 2001 - 2010, đứng đầu các vùng về
tốc độ tăng trưởng. Tỷ trọng kinh tế của vùng này trong nền kinh tế cũng tăng dần từ
25,6% năm 1995 lên 29,7% năm 2005, khoảng 35% năm 2010. Đây là vùng có nhiều
tiềm năng, dự báo trong thời gian tới vùng này còn phát triển với tốc độ cao hơn.
- Vùng Đồng bằng. Có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng
12
nền kinh tế khá phát triển, trong nhiều năm duy trì tốc độ ở mức 8-10%/năm. Tỷ

gồm 37 bệnh viện(tuyến tỉnh 10 bệnh viện; 01 bệnh viên dân lập); 29 phòng khám
khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng, 1 khu điều trị bệnh phong và 634 trạm y tế xã,
phường với tổng số 7.691 cán bộ y tế định biên , trong đó có 1.591 bác sỹ và 134
13
dược sỹ có bằng đại học và trên đại học, trung bình 4,3 bác sỹ/1vạn dân . Số giường
bệnh hiện có 4.790gường, trung bình 12,8 giường/1vạn dân; 100% xã có trạm y tế,
57% xã đạt 10 tiêu chuẩn quốc gia về y tế... Đến tháng 8/2009, Bệnh viện nhi quy mô
200 giường đã đi vào hoạt động.
Văn hoá - thông tin. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá” mà trọng tâm là xây dựng nếp sống văn hoá, gia đình làng bản, cơ quan văn
hoá, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới xin, ma chay, lễ hội... phát triển
mạnh và thu nhiều kết quả. Số làng văn hoá, cơ quan văn hoá tăng nhanh
3.3.Dân số
Năm 2009 dân số trung bình của tỉnh là 3,7 triệu người (lớn thứ 2 trong cả
nước, sau Tp. Hồ Chí Minh), chiếm xấp xỉ 34,6% dân số vùng Bắc Trung Bộ và 4,4%
dân số cả nước. Mật độ dân số bình quân gần 332 người/km
2
, gấp 1,6 lần mật độ dân
số trung bình của vùng (207 người/km
2
) và 1,3 lần mật độ dân số trung bình cả nước
(255 người/km
2
).
Thanh Hoá có cơ cấu dân số tương đối trẻ, sức khỏe tốt. Đây là nguồn nhân lực
chủ yếu sẽ được huy động vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong 10 -
15 năm tới. Trình độ học vấn của người dân cũng ngày càng được nâng cao. Đến nay,
tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS đúng độ tuổi; 473 trường đạt chuẩn quốc
gia, trong đó 69 trường mầm non, 343 trường tiểu học, 56 trường THCS và 5 trường
THPT. Tuy nhiên, tại một số huyện miền núi phía Tây, nhất là các huyện giáp biên do

tăng
định gốc
% - 55.82177286 48.77163365 40.84846105 42.66491865
Tổng
vốn đầu
tư cả
nước
Triệu
đồng
161635000 185102000 208100000 580000000
416200000
%Tổng
vốn đầu
tư Thanh
Hóa/cả
nước
% 0.52 0.57 0.87 0.44 1.12
Từ kết quả cụ thể trong Bảng 3, ta có thể thấy tổng vốn đầu tư từ năm
2005-2009 đạt 10933512 triệu đồng, tăng gấp 7 lần so với thời kỳ 1991 – 1995 và
gấp 4 lần so với thời kì 1996 – 2000, bình quân đạt 2186700 triệu đồng/ năm. Có thể
nói đây là một bước phát triển đáng ghi nhận mà tỉnh đã đạt được trong thời kỳ kế
hoạch của tỉnh 2006 – 2010. Quy mô vốn đầu tư toàn tỉnh có xu hướng tăng qua các
năm, năm sau cao hơn năm trước, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước. Cụ thể là
năm 2005 vốn đầu tư của tỉnh chỉ có 839199 triệu thì đến năm 2006 là 1060377 triệu
đồng tăng 221178 triệu đồng , tăng 26,36% so với năm trước. Và năm 2009 khoảng
cách vốn đầu tư so với năm 2008 đã là 2104091 triệu đồng tăng đến 82,17% gấp
3.12 lần so với năm 2005-2006.
Không những thế , Kế hoạch đầu tư phát triển năm 2009 đã được thực hiện
15
trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới và suy giảm kinh tế trong nước, các

Tổng VĐT
toàn XH
Nguồn Cân Đối
NS Tỉnh
Vốn TD ĐTPT
của NN
Nguồn vốn
TW hỗ trợ
theo mục tiêu
Một số nguồn
bổ xung khác
Vốn trái phiếu
CP
ODA
2005 Quy mô triệu đồng 839.199 280.567 30 335.882 148 0 44.75
Tỷ trọng % 100 33.4327138 3.574837434 40.02411824 17.63 0 5.332466
2006 Quy mô triệu đồng 1060.377 279.801 25 496.159 123.417 28 121.5
Tỷ trọng % 100 26.3869359 2.357652043 46.79081119 11.63897369 2.64057028 11.45819
2007 Quy mô triệu đồng 1808.479 374.43 30 626.528 700.305 425.412 108
Tỷ trọng % 100 20.7041386 1.65885255 34.64391901 38.72342449 23.5231926 5.971869
2008 Quy mô triệu đồng 2560.683 423.487 35 890.642 1113.914 896 110
Tỷ trọng % 100 16.5380486 1.366822836 34.78142355 43.50065978 34.9906646 4.295729
2009 Quy mô triệu đồng 4664.774 377.25 80 1012.872 3127.909 1802.123 98.8
Tỷ trọng % 100 8.08720851 1.714981262 21.71320626 67.05381654 38.6325897 2.118002
18
Nhìn chung vốn đầu tư của tỉnh dựa phần lớn vào 2 nguồn đó là nguồn cân đối
ngân sách tỉnh và nguồn trung ương hỗ trợ theo mục tiêu, 2 nguồn nay chiếm tỷ trọng
khá lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh.
Năm 2005 chiếm lần lượt là 33,4% và 40% trong khi các nguồn vốn còn lại chỉ
chiếm con số nhỏ so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Tỷ đ. % Tỷ đ. % Tỷ đ. %
Tổng đầu tư 14.823,5 100 22.014,2 100 44.500 100
1 Vốn nhà nước 3.945,2 26,6 9.357,8 42,5 16.000 36,0
2
Vốn khu vực dân cư và
các thành phần KT khác
5.047,8 34,1 10.923,7 49,6 16.100 36,2
3 Vốn đầu tư nước ngoài 5.315,8 35,9 124.9 0,6 11.400 25,6
4 Vốn khác 514,6 3,5 1.607.7 7,3 1.000 2,2
Nguồn. Niên giám Thống kê Thanh hoá; sở KH&ĐT.
Cơ cấu vốn đầu tư đã có chuyển biến đáng kể, đã huy động tốt mọi nguồn vốn
trong xã hội. Vốn đầu tư từ khu vực ngoài quốc doanh đã tăng lên từ 5.047,8 tỷ(giai
đoạn 1996 - 2000) lên 10.923,7 tỷ đồng (giai đoạn 2001 - 2005) và giai đoạn
2006-2010, dự kiến đạt 16.100 tỷ đồng . Tuy nhiên vốn đầu tư từ ngân sách và có
nguồn gốc từ ngân sách vẫn chiếm tỷ lệ khá cao.
Bảng 6 : So sánh vốn đầu tư ngân sách nhà nước so với tổng vốn
đầu tư toàn xã hội
Năm Đơn vị 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng vốn đầu tư
toàn xã hội
Triệu
đồng
839,199
1,060,377 1,808,479 2,560,683 4,664,774
Vốn đầu tư từ
ngân sách nhà
nước
Triệu
đồng
764,449 913,877 1,670,479 2,415,683 4,485,974

hội của tỉnh Thanh Hóa , duy chỉ có năm 2006 con số này chỉ đạt 86.1% điều này cho
thấy nguồn vốn ngân sách cho đầu tư phát triển này đóng vai trò hết sức quan trọng ,
nó quyết định đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội của toàn tỉnh ở hiện tại và
tương lai sau này. Bởi trong qua trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại
hóa chung của cả nước thì đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tập trung vào
đầu tư xây dựng cơ bản, tạo lập cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông, xây dựng các cụm
khu công nghiệp, xây dựng cầu đường… là việc cần thiết hơn bao giờ hết.
Với nguồn vốn ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển , trong những
năm qua Thanh Hóa đã đạt được những kết quả quan trọng, năng lực sản xuất của các
ngành được tăng cường, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện và nâng cao,
cụ thể là:
- Về công nghiệp. Nhiều nhà máy mới được đầu tư xây dựng trong giai đoạn này
như nhà máy xi măng Nghi Sơn, nhà máy đường Việt Đài, nhà máy bao bì PP Kráp,
nhà máy xi măng Công Thanh, nhà máy ô tô VEAM,.. Nhiều khu, cụm công nghiệp
mới được hình thành. Năng lực sản xuất của các ngành công nghiệp chủ lực trong tỉnh
đều tăng mạnh. Năm 2007, sản xuất xi măng đạt gần 9 triệu tấn công suất; bia trên 80
triệu lít; đường trên 200 ngàn tấn...
- Về kết cấu hạ tầng. Hệ thống giao thông được phát triển cả về số lượng và
21
chất lượng. Một số tuyến giao thông quan trọng được xây dựng trong thời gian này
như: Mục Sơn-Cửa Đặt (16,5 km); Hồi Xuân-Tén Tằn (112 km); đường Hồ Chí
Minh (133 km); Cầu Cừ - Kim Tân (23 km)... Ngoài ra các tuyến đường biên giới,
đường ven biển và hệ thống giao thông nông thôn cũng được nâng cấp, cải tạo, nâng
tỷ lệ nhựa hóa và bê tông hoá lên 27%. Dự kiến đến năm 2010, sẽ tập trung đầu tư
nâng cấp các tuyến đường lên cấp III, cấp IV ở vùng Đồng bằng và cấp IV ở Miền
núi; thi công hoàn thành tuyến đường Tây Thanh Hóa (183 km); đầu tư nâng cấp 7
tuyến đường ngang đạt tiêu chuẩn đường nông thôn loại A, mặt rải nhựa. Đã hoàn
thành và đưa vào sử dụng bến số 1 và số 2 của cảng tổng hợp Nghi Sơn cùng hệ
thống bến bãi, thiết bị xếp dỡ... cho phép tiếp nhận tàu đến 30.000 tấn.
Tổng năng lực tưới của hệ thống thủy lợi đạt 222.000 ha, trong đó tưới tự chảy là

764449 100
913877 100 1670497 100 2415683 100 4485974 100
VĐT
XDCB 702216 91.85910375 821564 89.89875 1492159 89.3243 2145698 88.8236577 4278369 95.372131
Chi ĐTPT
khác 62233 8.140896253 92313 10.10125 178338 10.6757 269985 11.1763423 207605 4.627869
23
Ngành xây dựng tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển, đồng thời
góp phần đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thời gian qua ngành xây
dựng Thanh Hoá đã đạt được những thành tựu nhất định. Năm 2005 giá trị gia tăng
ngành xây dựng đạt 1214 tỷ đồng (giá 94); Năm 2010 ,dự kiến đạt 2210 tỷ đồng;
chiếm trên 10 % tổng GDP toàn tỉnh.
Trong giai đoạn 2001-2007 nền kinh tế của tỉnh đã thu hút được một số lượng
lớn vốn đầu tư (40.514 tỷ đồng), trong đó hơn 70% dành cho xây dựng cơ bản và do
ngành xây dựng thực hiện. Với kết quả đó, ngành xây dựng đã có vai trò quan trọng
trong việc làm tăng đáng kể năng lực sản xuất của các ngành, lĩnh vực. Nhiều cơ sở
sản xuất mới được xây dựng và đi vào hoạt động, hệ thống kết cấu hạ tầng được nâng
cấp, các công trình văn hoá xã hội được đầu tư mới và cải thiện đáng kể.
Qua bảng số liệu trên, có thể thấy quy mô chi cho đầu tư xây dựng cơ bản của
tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua không ngừng tăng từ 702216 triệu đồng năm
2005 lên 4278369 triệu đồng năm 2009, bình quân đạt 1888001.2 triệu đồng/ năm.
Bên cạnh đó, chi cho đầu tư phát triển khác (khoản chi lớn, bảo trì bảo dưỡng các
công trình hạ tầng cơ sở, thực hiện các mục tiêu chương trình, các công trình nghiên
cứu khoa học…) cũng đang có xu hướng tăng lên trong dài hạn, năm 2005 là 62233
triệu đồng, năm 2009 chiếm 207605 triệu đồng, bình quân đạt 162094.8 triệu đồng/
năm. Như vậy có thể thấy, cơ cấu đầu tư từ ngân sách nhà nước theo lĩnh vực đầu tư
thì đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng lớn, bình quân đạt 91.055%, còn lại là
8.94% là chi cho hoạt động đầu tư phát triển khác (chủ yếu là sử dụng cho hoạt động
di tu bảo dưỡng, bảo trì…)
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tập trung chủ yếu

năm thời kỳ 2005 – 2009 đạt 20% (thời kỳ 2000 - 2004 là 11,4%); năm 2010 dự kiến
giá trị gia tăng ngành xây dựng (theo giá hiện hành) đạt 6.960 tỷ đồng, chiếm 14,4%
GDP toàn tỉnh.
Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
ở tỉnh Thanh Hóa được chia làm 6 lĩnh vực :
+ Lĩnh vực nông nghiệp
+ Lĩnh vực giao thông
+ Lĩnh vực giáo dục
+ Lĩnh vực y tế
+ Lĩnh vực văn hóa - thể thao
+ Lĩnh vực khác
Đây là các lĩnh vực rất quan trọng có tác động rất lớn đến tình hình kinh tế - xã
hội của tỉnh và những con số ở bảng dưới đây sẽ cho ta thấy trong giai đoạn
2005-2009 Thanh Hóa đang tập trung quan tâm đến lĩnh vực nào và có những dự tính
gì cho giai đoạn sắp tới.
25

Trích đoạn Tác động đến văn hoá xã hội Tác động đến môi trường đầu tư Công tác quy hoạch còn nhiều bất cập Hạn chế quản lý vốn đầu tư trong các khâu của quá trình đầu tư Công tác thanh kiểm tra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status