Luận văn
Phân tích thực trạng và
một số biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả tiêu thụ
hàng hoá ở Công ty Thiết bị
Giáo dục I trong nền kinh
tế thị trường
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề muôn thủa với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là
kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đó. Kết quả và hiệu quả ở
đây không chỉ đơn thuần là lợi nhuận, là tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp
mà nó còn phải gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp.
Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, muốn tồn
tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải có lãi. Muốn vậy thì doanh nghiệp
phải như thế nào để bán được nhiều hàng, với số lượng ngày càng tăng. Vì
vậy có thể nói tiêu thụ là một khâu quan trọng nhất trong quá trình tái sản
xuất. Nó là cầu nối giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng, là khâu cuối cùng
của hoạt động kinh doanh hàng hoá trong doanh nghiệp, đảm bảo cân đối
giữa cung và cầu đối với từng mặt hàng cụ thể, góp phần ổn định giá cả thị
trường. Đồng thời tiêu thụ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh khác
nhau trong doanh nghiệp diễn ra bình thường, ăn khớp với nhau, nhất là hoạt
động sản xuất cung ứng và dự trữ. Ngày nay tiêu thụ hàng hoá quyết định
toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Chính vì lẽ đó, là một sinh viên khoa Quản lý Doanh nghiệp trường
Đại học Quản lý và Kinh doanh, dựa trên kiến thức, lý luận đã được học
trong nhà trường và trong quá trình tìm hiểu khảo sát thực tế tiêu thụ hàng
các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời và lấy hoạt động kinh
doanh làm nghề nghiệp chính kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc toàn
bộ công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hay thực
hiện dịch vụ nhằm thu lợi.
Doanh nghiệp sản xuất là doanh nghiệp có chức năng chủ yếu là tạo ra
sản phẩm hàng hoá cung cấp cho thị trường. Trước đây trong cơ chế tổ chức
bao cấp thì doanh nghiệp sản xuất chỉ thực hiện việc sản xuất, còn tiệu thụ đã
có Nhà nước đứng ra lo phân phối. Nhưng ngày nay trong cơ chế thị trường
doanh nghiệp sản xuất phải tự mình tiêu thụ sản phẩm, nghĩa là doanh nghiệp
phải tìm thị trường và phát triển, mở rộng nó làm sao cho nhanh nhất.
b/ Khái niệm tiêu thụ hàng hoá.
Tiêu thụ hàng hoá là quá trình gồm nhiều hoạt động: nghiên cứu thị
trường, nghiên cứu người tiêu dùng, lựa chọn xác lập các kênh phân phối,
các chính sách và hình thức bán hàng, tiến hành quảng cáo xúc tiến, cuối
cùng thực hiện các công việc bán hàng tại điểm bán.
Tiêu thụ hàng hoá tuỳ theo những góc độ tiếp cận khác nhau mà người
ta đưa ra các khái niệm khác nhau:
3
- Tiêu thụ hàng hoá là quá trình chuyển quyền sở hữu và sử dụng hàng hoá -
tiền tệ giữa các chủ thể kinh tế.
- Tiêu thụ hàng hoá là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá, hàng hoá
được chuyển từ trạng thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển
vốn kinh doanh của doanh nghiệp đã hoàn thành.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp phải tự mình
giải quyết 3 vấn đề trung tâm là: sản xuất cái gì? sản xuất bằng cách nào? sản
xuất cho ai? hoạt động hàng hoá trong thời kỳ này là phụ thuộc vào khả năng
trưởng kinh tế.
+ Đối với xã hội: Tiêu thụ hàng hoá phát triển thì doanh nghiệp mới mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh, mới tạo thêm được việc làm, thu hút thêm lao
động trong xã hội. Mặt khác thông qua hoạt động ngân sách nhà nước, Nhà
nước sử dụng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện phúc lợi
xã hội, đầu tư cho y tế giáo dục góp phần nâng cao đời sống thành viên
trong xã hội theo hướng tiến bộ hơn, văn minh hơn.
3/ Hiệu quả tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp.
a/ Khái niệm hiệu quả tiêu thụ hàng hoá.
Hiệu quả tiêu thụ hàng hoá là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực được thể hiện thông qua mối quan hệ so
sách giữa kết quả đạt được (đầu ra) với chi phí bỏ ra (đâù vào) trong quá
trình tiêu thụ hàng hoá.
Các khoản chi phí ở đây bao gồm các yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất kinh doanh như: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn chủ
sở hữu, vốn vay
b/ Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp được đánh giá theo các chỉ tiêu nhất
định. Những chi tiêu này bị lệ thuộc bởi các mục tiêu hoạt động của doanh
nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Các mục tiêu hoạt động của doanh
nghiệp thường là kết quả cụ thể mà doanh nghiệp phải phấn đấu đạt được và
thường ấn định theo các lĩnh vực cụ thể sau:
- Mức lợi nhuận.
- Năng suất, chi phí.
- Vị thế cạnh tranh, tăng thị phần.
- Nâng cao chất lượng phục vụ.
- Duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp.
* Đối với Nhà nước:
Nâng cao hiệu quả tiệu hàng hoá giúp doanh nghiệp thực hiện tốt và
đầy đủ hơn nghĩa vụ đóng góp của mình đối với Nhà nước thông qua nộp
thuế, phí và lệ phí. Qua đó giúp Nhà nước có điều kiện tốt hơn để thực hiện
6
các chính sách kinh tế của mình, góp phần tăng trưởng kinh tế, giảm lạm
phát, tăng nguồn thu cho ngân sách.
Có thể nói rằng, tiêu thụ hàng có vai trò rất quan trọng đối với doanh
nghiệp. Do đó nghiên cứu hoạt động tiêu thụ và nắm bắt các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động tiêu thụ là tiền đề tốt cho mỗi doanh nghiệp để
đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình một cách chính xác, qua đó xác định
hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp trong tương lai nhằm khai thác mọi
tiềm năng để nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó cần tăng
cường tích luỹ để tái sản xuất kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả kinh
doanh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
II/ HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TIÊU THỤ
HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP.
1/ Các chỉ tiêu tổng hợp.
a/ Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp.
M
HQ =
_______________________
G
V
+ F
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu:
LN
HQ
en
=
____________________
* 100%
M
Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời gian nhất định doanh nghiệp thu được
bao nhiêu đồng lợi nhuận trên 1 đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao
thì hiệu quả càng cao.
2/ Chỉ tiêu bộ phận
a/ Tốc độ chu chuyển hàng hoá được tính bằng 2 chi tiêu: số lần (số vòng)
chuyển và số ngày chu chuyển.
- Số lần chu chuyển hàng hoá: là số lần quay vòng của khối lượng hàng hoá
dự trữ trong một thời kỳ nhất định.
M
(GV)
L =
_______________________
D
(GV)
M
(GV)
: Mức tiêu thụ hàng hoá trong thời kỳ tính theo giá vốn.
L : Số lần chu chuyển hàng hoá trong kỳ.
Số lần chu chuyển hàng hoá càng lớn chứng tỏ tốc độ chu chuyển hàng hoá
càng nhanh, điều này sẽ nâng cao được lợi nhuận thông qua việc tiết kiệm
vốn kinh doanh do tăng số lần chu chuyển hàng hoá và ngược lại.
- Số ngày chu chuyển hàng hoá: Phản ánh thời gian của một lần dự trữ được
đổi mới, còn gọi là thời gian của một vòng quay hàng hoá. D
N =
__________________
m
(GV)D: Mức dự trữ hàng hoá.
N: Số ngày chu chuyển hàng hoá.
m
(GV)
: Mức lưu chuyển hàng hoá bình quân 1 ngày, tính theo giá vốn.
M
m
(GV)
=
_______________
T
L = __________________
V
LĐL: Số vòng quay của vốn lưu động.
M: Doanh thu tiêu thụ thuần trong kỳ.
V
LĐ
: Vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh số lần chu chuyển của vốn lưu động trong kỳ. Chỉ tiêu
này càng tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tốt và ngược lại.
- Số ngày chu chuyển của vốn lưu động.
V
LĐ
10
N =
____________________
m
N: Số ngày chu chuyển vốn lưu động.
m: Doanh thu tiêu thụ thuần bình quân 1 ngày trong kỳ.
M
m = _____________
t
Để nâng cao hiệu quả tiêu thụ hàng hoá cần phải tác động vào các yếu
tố cấu thành nên nó. Đó là kết quả và chi phí theo hướng tăng kết quả và
giảm chi phí. Nhưng trên thực tế điều này rất khó đạt được vì chẳng có ai đi
buôn mà lại không cần vốn. Vì vậy, phương hướng tốt nhất, hữu hiệu nhất
hiện nay được các doanh nghiệp áp dụng là tăng kết quả, tăng chi phí với
điều kiện tốc độ tăng kết quả lớn hơn tốc độ tăng chi phí.
Sự tăng lên của kết quả có thể tận dụng các nguồn lực chưa khai thác
được, các nguồn lực hiện nay có hay đã được khai thác nhưng chưa hợp lý.
Song thông thường khi các nguồn lực hiện có đã được khai thác triệt để và
hiệu quả thì đạt được sự gia tăng kết quả cần thiết phải gia tăng các yếu tố
đầu vào. Xuất phát từ cơ sở trên có thể đưa ra một số biện pháp cụ thể sau
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ hàng hoá ở các doanh nghiệp.
1/ Khảo sát nắm nhiệm vụ trong năm kế hoạch.
2/ Tổ chức lại quá trình thu mua nguyên vật liệu nhằm khai thác tốt nguồn
hàng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
3/ Tổ chức tốt khâu dự trữ nhằm đảm bảo liên tục cho hàng hoá bán ra, tránh
tình trạng thiếu hoặc thừa hàng.
4/ Hoàn thiện các kênh tổ chức cung ứng nhanh, kịp thời vụ nhằm đẩy mạnh
nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ hàng hoá.
5/ Tăng cường công tác thông tin quảng cáo, các biện pháp kích thích trên
thương trường.
6/ Các biện pháp quản lý tài chính: dựa vào năng lực tài chính của công ty,
kiện toàn hệ thống tổ chức kế toán, vòng quay vốn nhanh và tận dụng các
biện pháp hữu hiệu để tăng vốn lưu động.
7/ Công tác cán bộ.
8/ Các biện pháp chống lãng phí, tăng tiết kiệm để giảm chi phí lưu thông,
giảm giá thành, tăng lợi nhuận để công ty tồn tại và phát triển.
công ty Cơ sở vật chất và Thiết bị với Liên hiệp hỗ trợ phát triển Khoa học
và Công nghệ. Công ty có trụ sở chính tại 49B - Đại Cồ Việt - Hà Nội, tên
giao dịch đối ngoại Educational Equipment Company No.1 (viết tắt là
EECo.1)
Công ty là doanh nghiệp nhà nước với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất,
cung ứng đồ dùng dạy học (kể cả xuất nhập khẩu trực tiếp) các thiết bị
trường học phục vụ yêu cầu của sự nghiệp giáo dục. Công ty có tư cách pháp
nhân đầy đủ, hạch toán kinh tế độc lập, có con dấu riêng theo qui định của
doanh nghiệp nhà nước, Công ty trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý.
13
Qua hầu hết các thời kỳ hoạt động, có hai nhiệm vụ cung ứng thiết bị
trường học và tham mưu chỉ đạo toàn ngành đều được giao và thực hiện gắn
bó mật thiết từ trung ương tới các công ty Sách và Thiết bị trường học ở các
tỉnh trong cả nước.
Giá trị tài sản của Công ty tính đến hết ngày 31/12/2001 là 16 tỷ đồng
trong đó:
- Mặt bằng nhà xưởng khoảng 15.000 m
2
.
- Vốn lưu động là 1,7 tỷ đồng.
- Vốn cố định là 5,6 tỷ đồng.
Doanh thu dự kiến cho năm 2002 là 70 tỷ đồng. Mặt hàng thiết bị giáo
dục bao gồm 600 loại khác nhau, có khả năng đáp ứng nhu cầu của các
trường, các cấp học, các ngành học trong phạm vi cả nước. Công ty Thiết bị
Giáo dục I có qui mô vào loại lớn của cả nước.
phân công trách nhiệm và quyền hạn là mối quan hệ của các cá nhân với các
bộ phận trong bộ máy của Công ty do Giám đốc qui định.
Nhìn chung cán bộ công nhân viên làm việc ở các bộ phận khác nhau
nhưng trình độ chuyên môn tương đối đồng đều. Công nhân ở các phân
xưởng có tay nghề khá chiếm tỷ lệ cao. Tổ chức nhân sự tính đến hết năm
2001 là 14 đơn vị phòng ban, trung tâm, phân xưởng trực thuộc với tổng số
235 cán bộ công nhân viên, trong đó có 266 người thuộc biên chế nhà nước
và hợp đồng dài hạn, còn lại là hợp đồng ngắn hạn mang tính thời vụ.
- Số có trình độ tiến sỹ: 8 người.
- Số có trình độ đại học: 105 người.
- Số có trình độ trung cấp, cao đẳng: 49 người.
- Công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ khác: 163 người.
Tỷ lệ lao động trực tiếp trong tổng số cán bộ công nhân viên là 76%
(247 người). Tỷ lệ cán bộ công nhân viên thuộc biên chế và hợp đồng dài
hạn trong tổng số cán bộ công nhân viên là 76,1% (188 người). Điều này cho
thấy việc bố trí số công nhân trực tiếp sản xuất trong công ty là phù hợp với
điều kiện và tính chất của một Công ty vừa sản xuất vừa kinh doanh.
Công ty có 4 phòng, 5 trung tâm và 5 phân xưởng. Dưới đây là sơ đồ tổ
chức bộ máy quản lý của Công ty Thiết bị Giáo dục I. 15
các kênh tiêu thụ sản phẩm, xây dựng phương hướng đường lối chiến lược
kinh doanh lâu dài.
3.3/ Phòng kế hoạch tổng hợp.
Có nhiệm vụ, trên cơ sở kế hoạch của phòng Kinh doanh đã được giám đốc
phê duyệt để lập ra các phương án sản xuất cho từng phân xưởng, nhằm đảm
bảo đúng chất lượng, giá cả hợp lý, đúng tiến độ, thời gian.
3.4/ Phòng Kế toán tài vụ
Nhiệm vụ chính là tổ chức hạch toán mọi hoạt động tài chính, kinh tế diễn ra
tại Công ty theo đúng chế độ kế toán tài chính của Nhà nước qui định. Xây
dựng kế hoạch thu chi tiền mặt theo kế hoạch sản xuất của Công ty, thông tin
kịp thời cho ban lãnh đạo và các phòng ban liên quan.
3.5/ Trung tâm xuất nhập khẩu và hợp tác quốc tế.
Có nhiệm vụ tổ chức hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực giáo dục; Làm đại lý tiêu thụ và phân phối sản phẩm cho
các cơ sở sản xuất của ngành giáo dục, các tổ chức kinh tế trong và ngoài
nước; Nhập khẩu hàng hoá thiết bị vật tư được Nhà nước cho phép phục vụ
cơ sở giáo dục và đào tạo trên phạm vi cả nước.
3.6/ Trung tâm kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.
Với đội ngũ giảng viên, chuyên viên kỹ thuật có trên 20 năm kinh nghiệm
trong lĩnh vực giáo dục sư phạm, thiết bị nhà trường cũng như kinh nghiệm
tiếp cận các trang thiết bị dạy học hiện đại của các nước phát triển. Trung
tâm có khả năng hỗ trợ nhà trường từng bước hiện đại hoá cơ sở dạy học với
hiệu quả cao nhất trong khuôn khổ không vượt quá khả năng tài chính hiện
nay.
Ví dụ: Các phòng lý, hoá, sinh đại cương (cho các trường đại học, cao đẳng,
sư phạm dạy nghề) bàn thí nghiệm tiêu chuẩn chuyên ngành, bàn ghế, phòng
học, thư viện, hội trường, phòng học ngoại ngữ, tin học với tiêu chuẩn tiên
tiến chất lượng cao. Các thiết bị do trung tâm cung cấp sẽ được các chuyên
viên khoa học kỹ thuật, cán bộ sư phạm của trung tâm lắp đặt tại chỗ và
hướng dẫn sử dụng.
hàng, bàn tính 3 gióng, qui tính, khối hộp chữ nhật, lập phương
* Xưởng nội thất học đường: Từ năm 1999 các sản phẩm của xưởng đã được
Công ty chính thức đưa vào danh mục phát hành hàng năm như: bàn ghế học
sinh, bàn ghế giáo viên, bảng học đường, giường tủ dành cho trường nội trú,
các bàn thí nghiệm dùng cho các môn lý, hoá, sinh, kỹ thuật công nghiệp
4/ Đặc điểm mặt hàng kinh doanh
18
- Mặt hàng chính của Công ty Thiết bị Giáo dục I là thiết bị đồ dùng phục vụ
công tác giảng dạy ở tất cả các ngành học, cấp học với chủng loại rất đa
dạng. Thiết bị giáo dục nói chung không phải là những mặt hàng dân dụng,
do vậy sản xuất kinh doanh những mặt hàng này là khó khăn (vì phải bảo
đảm tính sư phạm) và khó có lãi, nhất là những mặt hàng phục vụ cho số
trường lớp và học sinh không lớn như PTTH có trên 1000 trường, do đó số
bản in, số lượng thiết bị cần sản xuất chỉ trong khuôn khổ ít nghìn chiếc, bộ.
Vì vậy giá thành sản xuất cao, mà giá bán lại thấp. Việc cung ứng thiết bị
dạy học cho các trường mang tính thời vụ chủ yếu từ tháng 8 năm nay cho
đến tháng 2 năm sau. Từ đặc thù trên hàng năm Công ty tổ chức các cuộc hội
nghị khách hàng, gặp gỡ các giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, từ
đó xác định nhu cầu xây dựng kế hoạch sản xuất cho từng quý và cả năm.
Công ty đã và đang cung cấp hầu hết các loại thiết bị (tranh ảnh, bản
đồ, mô hình dụng cụ thí nghiệm Lý - Hoá - Sinh, máy vi tính, thiết bị dùng
chung ) cho các trường thuộc ngành học Mầm non, các trường tiểu học, các
trường THCS và THPT, cao đẳng, dạy nghề trong cả nước.
II/ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG
TY THIẾT BỊ GIÁO DỤC I.
+ Chiết khấu 920.939
1.297.147
208.300
+ Giảm giá
+ Hàng bị trả lại 23.947
35.500
14.201
+ Thuế doanh thu 371.563
518.858
615.061
3 Doanh thu thuần 35.839.898
50.033.883
61.984.408
4 Giá vốn hàng bán 28.121.649
1.023.455
9 Thu nhập từ hoạt động
TC
419.155
446.833
560.821
10 Chi phí hoạt động TC 314.526
402.561
445.628
11 Lợi tức từ hoạt động TC 104.629
44.272
115.193
12 Các khoản thu bất thường 37.386
101.641
71.000
13 Chi phí bất thường 10.252
Qua bảng trên ta thấy:
+ Tổng doanh thu (bao gồm cả thuế) năm 2000 tăng lên 14.792.014.000đ so
với năm 1999, tốc độ tăng là 39,64%, năm 2001 tăng lên 10.936.584.000đ so
với năm 2000, tốc độ tăng 21,08%. Tuy tốc độ tăng năm 2001, có giảm so
với năm 2000 nhưng tốc độ tăng doanh thu 21,08%/năm vẫn là một tốc độ
(mỗi năm đều tăng trên 10 tỷ đồng). Đây là một kết quả rất đáng khích lệ đối
với mọi doanh nghiệp nói chung và Công ty Thiết bị Giáo dục I nói riêng.
Đặc biệt nó lại rơi vào sau khi Công ty sáp nhập, lãnh đạo công ty vừa phải
20
tiến hành ổn định lại cơ cấu tổ chức, sắp xếp bố trí nhân lực, vừa phải giải
quyết những khó khăn tồn đọng rất lớn nảy sinh trong quá trình sáp nhập,
vừa chủ động tiến hành kinh doanh giải quyết những vấn đề mới phát sinh.
+ Các khoản giảm trừ năm 2001 so với năm 2000 đã giảm đáng kể, chỉ còn
837.563.000đ so với 1.851.505.000đ, như vậy đã giảm được 1.013.941.000đ
tỷ lệ giảm là 54,76%. Trong khi đó so với năm 1999 các khoản giảm trừ năm
2000 lại tăng lên 535.029.000đ tỷ lệ tăng 40,64% trong đó chiết khấu tăng
40,58% tương ứng với số tiền là 11.553.000đ, các chỉ tiêu này năm 2001 đều
giảm. Điều này cho thấy Công ty đã chú trọng hơn trong việc nâng cao chất
lượng và bảo quản hàng hoá, qua đó tiết kiệm được chi phí, nâng cao kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Doanh thu thuần tương ứng với tổng doanh thu, doanh thu thuần hàng năm
của công ty cũng tăng đều đặn 10 tỷ đồng mỗi năm. Cụ thể, năm 2000 doanh
thu thuần tăng 14.193.985.000đ, tốc độ tăng 39,6% so với năm 1999; năm
2001 so với năm 2000 doanh thu thuần tăng 23,88% ứng với số tiền
11.950.525.000đ.
+ Tổng chi phí:
nghiệp. Cụ thể tỷ trọng chi phí giảm mạnh trong các năm gần đây:
- Năm 1999:
Tỷ trọng chi
phí quản lý
DN
=
CP quản lý DN
_____________________
*
100%
Tổng chi phí
=
5.414.754.000
__________________
* 100%
35.193.917.000
= 15,4%
- Tương tự với cách tính trên, tỷ trọng chi phí quản lý doanh nghiệp các năm
2000 là 14,95%; năm 2001 là 13,7%.
+ Lợi tức gộp năm 2000 so với năm 1999 tăng 3.063.540.000đ, tỷ lệ tăng
39,7%. Năm 2001 so với năm 2000 tăng 2.308.693.000đ, tỷ lệ tăng 21,41%.
Lợi tức gộp năm 2001 tỷ lệ tăng thấp hơn năm 2000, chủ yếu là do giá vốn
75,3
Các khoản phải nộp 112.407.000
39,64 32.847.000
18,54
Lợi nhuận sau thuế 219.254.000
41,19 50.687.000
6,10
Bên cạnh đó, để tăng doanh thu, mở rộng thị phần, đảm bảo quyền lợi
cho khách hàng, củng cố mối quan hệ bền chặt với khách hàng, Công ty đã
không ngừng tăng thêm chi phí bán hàng (chiết khấu, khuyến mại) mức chi
các năm có sự gia tăng đáng kể.
- Năm 1999 chi 1.657.514.000đ chiếm tỷ trọng 15,4%
5.414.754.000 đ
__________________________
x 100% = 15,4%
35.193.917.000 đ
- Năm 2000 chi 2.470.315.000đ chiếm tỷ trọng 14,95% trong tổng chi phí,
tăng lên 8.128.000đ so với năm 1999 tốc độ tăng 49,04%.
- Năm 2001 chi 3.662.970.000đ chiếm tỷ trọng 13,7% trong tổng chi phí,
tăng lên 1.192.655.000đ tốc độ tăng 48,28% so với năm 2000.
xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nếu như nguồn vốn càng lớn thì doanh
nghiệp càng có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là
mối quan hệ hữu cơ trong các doanh nghiệp thương mại, và đối với Công ty
Thiết bị Giáo dục cũng vậy.
BIỂU 2: TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THIẾT BỊ GIÁO DỤC I
ĐVT: 1.000đ.
T
CHỈ TIÊU
Năm 2000 Năm 2001 So sánh
T Giá trị %
I Tổng nguồn vốn 31.472.230
38.741.027
7.268.797
23,09
1 Vốn tự có 14.499.567
14.783.759
284.192
1,96
23,09
24
1 Tài sản lưu động 12.240.320
16.231.044
3.990.724
32,60
2 Dự trữ (tồn kho) 7.233.321
8.103.000
869.679
12,02
3 Tài sản cố định 11.998.589
14.424.984
2.426.395
20,22
III
- Năm 2000 vốn tự có của doanh nghiệp là 14.499.567.000đ.
- Năm 2001 vốn tự có của doanh nghiệp là 14.783.759.000đ tăng
284.192.000đ so với năm 2000, tỷ lệ tăng tương ứng là 1,69%.
Bên cạnh đó, tổng nguồn vốn kinh doanh cũng được gia tăng nhanh
chóng, bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của Công ty, cụ thể:
- Năm 2000 tổng nguồn vốn là 31.472.230.000đ; Năm 2001 tổng nguồn vốn
là 38.741.027.000đ tăng 7.269.798.000đ so với năm 2000, tỷ lệ tăng tương
ứng là 23,09%.
Khả năng thanh toán của Công ty vẫn được duy trì ở mức độ khá cao,
năm 2000 là 1,225; năm 2001 là 1,028 đảm bảo an toàn tài chính cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Mức thuế mà công ty đóng góp cho ngân sách nhà nước cũng có sự
tăng đáng kể: năm 2000 là 518.855.000đ, năm 2001 là 615.061.000 tăng
18,54% ứng với số tiền tăng lên là 96.203.000 đ.
Tổng nguồn vốn của Công ty được bổ sung thường xuyên, sự gia tăng
này kéo theo sự gia tăng của tài sản lưu động theo mối quan hệ tỷ lệ thuận.
Nếu năm 2001 tài sản lưu động tăng 3.990.724.000đ, tỷ lệ tăng 32,6%, thì
vốn vay cũng tăng lên 6.984.605.000đ, tỷ lệ tăng là 41,15%.