LUẬN VĂN:Giải quyết việc làm ở Thái Bình: thực trạng và giải pháp - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Giải quyết việc làm ở Thái Bình:
thực trạng và giải pháp mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, vấn đề việc làm luôn được xã hội và mọi người quan tâm.
Ngày nay, quan niệm về "phát triển" được hiểu một cách đầy đủ là: tăng trưởng kinh tế
đi đôi với tiến bộ xã hội; phải xóa đói, giảm nghèo, giảm thiểu thất nghiệp, đảm bảo được
công bằng xã hội. Vì vậy, việc làm là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn
cầu, là mối quan tâm lớn của toàn nhân loại, của tất cả các quốc gia, đặc biệt là của các

Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI chỉ rõ: "Coi trọng và phát huy nhân tố con người;
chăm lo giải quyết các vấn đề bức xúc về xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện và nâng
cao đời sống nhân dân là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để góp phần
giữ vững ổn định kinh tế - xã hội" [26, tr. 90].
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm ở Thái Bình nhằm đánh giá đúng
đắn thực trạng, tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu để sử dụng hợp lý, có
hiệu quả nguồn lao động của tỉnh là một đòi hỏi bức xúc có ý nghĩa thiết thực cả về lý
luận và thực tiễn. Do đó, tôi chọn đề tài " Giải quyết việc làm ở Thỏi Bỡnh: thực trạng
và giải pháp " làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc làm là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của
các quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
ở nước ta, từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, liên quan đến chủ đề luận
văn đã có nhiều công trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu có bài viết xoay quanh vấn đề
này, tiêu biểu như:
- Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của TS. Nguyễn Hữu Dũng, TS.
Trần Hữu Trung (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997);
- ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam của
GS.TS Đỗ Thế Tùng (Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 6-2002);
- Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và phát triển của thạc sĩ Nguyễn
Thị Lan Hương (Nxb Lao động - xã hội, 2002);

- Lao động việc làm những bước tiến quan trọng của Nguyễn Thị Hằng (Tạp chí
Cộng sản, số 23 - 8/2003);
- Một số vấn đề lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay
do thạc sĩ Đinh Đặng Định chủ biên (Nxb Lao động, Hà Nội, 2004);
- Vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay của GS.TS Phạm
Đức Thành, PGS.TS Phạm Quý Thọ, ThS. Thang Mạnh Hợp (Tạp chí Lao động và Công
đoàn, số 298 - 12/2003);
Ngoài ra, cũng có một số đề tài luận văn thạc sĩ viết về vấn đề việc làm như ở

vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng và Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa xoay quanh vấn đề việc làm. Bên cạnh đó, đề
tài có kế thừa, chọn lọc một số đề xuất, số liệu thống kê của một số công trình khoa học
có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng phương pháp truyền thống của khoa học kinh tế chính trị: sử
dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu,
đồng thời còn sử dụng các phương pháp khác như: khảo sát, điều tra nghiên cứu thực tế,
tổng hợp, đối chiếu và phân tích, thống kê…
5. Những đóng góp chủ yếu của đề tài
+ Làm rõ quan niệm về việc làm và ý nghĩa kinh tế - xã hội của vấn đề giải quyết
việc làm ở tỉnh Thái Bình.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Thái Bình từ năm
1999 đến nay.

+ Đề xuất những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu có tính khả thi
nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Thái Bình.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 8 tiết.

lao động và tư liệu lao động. Trong bất kỳ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất hiện đại,
lao động bao giờ cũng là nhân tố cơ bản, là điều kiện không thể thiếu của sự tồn tại và
phát triển đời sống xã hội loài người. Lao động là hoạt động sáng tạo của con người, nhờ
có lao động mà con người khẳng định mình là chủ thể sáng tạo mọi giá trị vật chất và tinh
thần của xã hội.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chỉ rõ: trong các nguồn lực cơ bản
(lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoa học công nghệ), mỗi nguồn lực đều có thể
bị khan hiếm, cạn kiệt nhưng nguồn lực con người là vô tận nếu quốc gia đó có chính
sách đúng đắn về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và khai thác nguồn lực này một cách khoa

học. Vì vậy, V.Lênin khẳng định: "Lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại là người
lao động" [18, tr. 430].
Trong nguồn lao động của mỗi quốc gia hay một địa phương nào đó thì người lao
động được xếp vào nguồn lao động. Nguồn lao động là số lượng của dân cư của quốc gia
đó hay của địa phương đó có khả năng lao động. Hay có thể hiểu rằng: nguồn lao động
là bộ phận dân cư có toàn bộ thể chất và tinh thần có thể sử dụng trong quá trình lao
động.
Tiềm lực của đất nước mạnh hay yếu trước hết phụ thuộc vào yếu tố nguồn lực
lao động; bởi vì, với tư cách là nguồn lực, lao động trực tiếp tham gia tạo cung của nền
kinh tế. Với tư cách là bộ phận dân số thực hiện quá trình tiêu dùng, nguồn lao động trở
thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế. Điều khác biệt cơ bản giữa nguồn lao động với các
nguồn lực khác là vừa tham gia tạo cung và tạo cầu của nền kinh tế, vừa trực tiếp điều tiết
quan hệ đó gắn với các thể chế kinh tế xã hội do con người tạo nên. Nguồn lao động vừa
có nhu cầu tự thân để phát triển với yêu cầu ngày càng cao và phong phú, vừa là chủ thể
sáng tạo ra công nghệ, điều chỉnh cơ bản kinh tế để thá¢a mãn các nhu
cầu đó.
Hiện nay trên thế giới, tiêu chí cơ bản để bố trí dân cư vào nguồn lao động được
dựa trên độ tuổi và tình trạng sức khỏe. Nhưng quy định giới hạn về độ tuổi lao động tối
đa và tối thiểu ở các nước có sự khác nhau. Ví dụ, độ tuổi lao động tối thiểu ở Braxin: 10
tuổi, ở Mỹ: 16 tuổi. Qui định về độ tuổi tối đa như: Mêhicô, Malayxia là 65 tuổi; Phần

quan giữa các yếu tố con người và yếu tố vật chất hay giữa sức lao động và tư liệu sản
xuất trong quá trình sản xuất vật chất.
Có nhiều cách quan niệm khác nhau về việc làm, song xét cho cùng thực chất
của việc làm là sự kết hợp sức lao động của con người với tư liệu sản xuất.
ở Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp,
người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người

làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể). Theo cơ chế
đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa
nhận có hiện tượng thiếu việc làm, thất nghiệp…
Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đến nay, quan niệm về việc
làm đã được nhìn nhận đúng đắn và khoa học. Điều 13, Chương II Bộ luật lao động nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ rõ: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" [3, tr. 42]. Với khái niệm
này, các hoạt động lao động sau đây được xác định là việc làm, bao gồm:
- Toàn bộ các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần không bị pháp luật
cấm, được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật;
- Tất cả những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập
cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng tiền hoặc
bằng hiện vật.
Như vậy, khái niệm việc làm theo Bộ luật lao động của nước ta bao gồm một
phạm vi rất rộng: từ những công việc được thực hiện trong các doanh nghiệp, công sở
đến mọi hoạt động lao động hợp pháp như các công việc nội trợ, chăm sóc con, cháu
trong gia đình… đều được coi là việc làm. Khái niệm trên làm cho nội dung của việc làm
được mở rộng và tạo ra khả năng to lớn giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc
làm cho nhiều người. Điều đó được thể hiện ở chỗ:
- Thứ nhất, thị trường lao động được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế,
trong mọi hình thức và cấp độ của tổ chức sản xuất kinh doanh và sự đan xen giữa chúng,
nó cũng không bị hạn chế về mặt không gian.
- Thứ hai, người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết, thuê

"Phát huy yếu tố con người và lấy con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động"
[8, tr. 36].

Thực tiễn những năm qua cho thấy, với các chính sách về lao động và việc làm
của Đảng và Nhà nước ta đã có tác động tích cực, tạo ra nhiều việc làm mới cho người
lao động; vì vậy, đời sống của đại bộ phận nhân dân lao động được cải thiện, nâng cao rõ
rệt. Tuy nhiên, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động vẫn nổi lên là một trong
những vấn đề bức xúc, đặc biệt là đối với những vùng, những địa phương đất chật, người
đông, nhiều người lao động còn không có hoặc thiếu việc làm.
* Thiếu việc làm
Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về vấn đề này, theo
TS. Trần Thị Thu đưa ra khái niệm mà nhiều nhà nghiên cứu cho là hợp lý và khoa học:
"Thiếu việc làm còn được gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình là hiện tượng
người lao động có việc làm ít hơn mức mà mình mong muốn" [25, tr. 17]. Đó là tình
trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người lao động,
họ phải làm việc không hết thời gian theo pháp luật quy định, hoặc làm những công việc
mà tiền công thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm
để bổ sung.
1.1.1.3. Thất nghiệp
Theo lý thuyết của các nhà kinh tế học hiện đại: trong nền kinh tế thị trường, thất
nghiệp là một hiện tượng khách quan gắn liền với một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên xác định.
Người ta không thể loại bỏ được nó mà chỉ có thể hạn chế tỷ lệ thất nghiệp tới mức thất
nghiệp tự nhiên. Bởi vì, khi mức thất nghiệp cao (quá mức tự nhiên), tài nguyên bị lãng
phí, thu nhập của người dân bị giảm sút và rơi vào tình trạng nghèo đói, dẫn đến nền kinh
tế suy thoái, ảnh hưởng đến cuộc sống của cộng đồng dân cư. Tỷ lệ thất nghiệp là một
trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá thực trạng của một nền kinh tế, là mối quan
tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia và của mọi thành viên trong xã hội.
Có nhiều quan niệm khác nhau về thất nghiệp, nhưng nội dung cơ bản của thất
nghiệp là đề cập về việc: người lao động có khả năng làm việc, mong muốn làm việc nhưng
không được làm việc. Samuelson - nhà kinh tế học của trường phái hiện đại cho rằng:

nhưng không tìm ra việc [14, tr. 142].
Với khái niệm trên, theo Bộ luật lao động ở nước ta hiện nay: những người trong
độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) có khả năng lao động,
không có việc làm hoặc đang tìm việc làm là những người thất nghiệp.
Tuy nhiên, các đối tượng sau đây mặc dù nằm trong độ tuổi lao động nhưng
không thuộc những người thất nghiệp và không nằm trong lực lượng lao động:
- Người không có khả năng lao động
- Người không có nhu cầu tìm việc làm
- Người đang đi học
- Người làm công việc nội trợ cho gia đình mình
Thất nghiệp là một vấn đề xã hội rất nhạy cảm, là mối quan tâm lớn của tất cả
các quốc gia, khi mức thất nghiệp tăng quá mức tự nhiên (cho phép) tài nguyên sẽ bị lãng
phí, thu nhập của người lao động giảm và rơi vào tình trạng nghèo đói; nền kinh tế suy
thoái, lạm phát cao dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội. Do đó, tỉ lệ thất nghiệp là một
trong những chỉ tiêu trọng yếu để xem xét, đánh giá tình trạng của một nền kinh tế, sự
tiến bộ xã hội, là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
1.1.2. Những khó khăn trong quá trình giải quyết việc làm ở nước ta
ở nước ta, nguồn lao động hàng năm vẫn tăng ở mức cao (khoảng
3,4 - 3,5%), số lao động chưa có việc làm ở thành thị rất lớn chiếm khoảng
9 - 12% tổng lao động thành thị, là tỷ lệ vượt quá giới hạn cho phép để đảm bảo an toàn
xã hội. Khu vực nông thôn là nơi tập trung 80% dân số và lao động, nhưng do chuyển
dịch cơ cấu kinh tế chậm, kinh tế hàng hóa còn ở trình độ thấp, do đó nạn thiếu việc làm
là rất phổ biến và nghiêm trọng. Trong điều kiện bình quân đất canh tác trên một lao
động rất thấp (0,3 ha/1 lao động), nếu làm thuần nông sẽ dư thừa 1/2 số lao động [7, tr.
96]. Theo dự báo, "năm 2005, lực lượng lao động ở nước ta sẽ là 42,4 triệu người, năm
2010 sẽ tăng lên 47,7 triệu người" [17, tr. 147]. Đây là nguồn lực to lớn nhưng đó cũng là

sức ép nặng nề đối với vấn đề giải quyết việc làm và là bài toán khó giải. Có thể khái
quát những khó khăn như sau:
Một là, nhu cầu việc làm ngày càng lớn với khả năng giải quyết còn rất hạn hẹp,

- Trong cơ chế cũ, chúng ta đã xây dựng một hệ thống chính sách khuyến khích
người lao động tìm việc làm trong khu vực Nhà nước là chủ yếu và bao cấp rất nặng nề.
Nhà nước bố trí công ăn việc làm đến tận từng người lao động, điều đó đã kìm hãm tiềm
năng lao động, triệt tiêu động lực của họ trong phát triển việc làm và tự chịu trách nhiệm
về đời sống của chính bản thân mình. Ngày nay, chuyển sang nền kinh tế thị trường đã
mở ra khả năng to lớn giải phóng tiềm năng lao động của toàn xã hội, song hệ thống
chính sách lại chưa đồng bộ để tạo ra tiền đề, điều kiện và môi trường thuận lợi nhằm giải
phóng triệt để mọi tiềm năng (lao động, vốn, đất đai ) để phát triển sản xuất, tạo mở việc
làm; chưa có hệ thống đào tạo phù hợp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng
nhu cầu đòi hỏi của thị trường sức lao động.
- Về tổ chức, chưa xây dựng một hệ thống sự nghiệp hoàn chỉnh giải quyết việc
làm; đặc biệt là các Trung tâm xúc tiến việc làm; Trung tâm chuyển giao công nghệ sử dụng
nhiều lao động Chương trình quốc gia về việc làm chưa được tập trung, chỉ đạo còn
phân tán. Quỹ quốc gia về việc làm còn nhỏ bé và chưa được đầu tư đúng mức.
- Quản lý nhà nước về lao động và việc làm còn nhiều bất cập, năng lực hoạch
định chính sách và điều hành thực thi chính sách về lao động và việc làm còn nhiều hạn
chế, qua nhiều khâu trung gian, thiếu sự kiểm tra giám sát chặt chẽ.
1.1.3. ý nghĩa của vấn đề giải quyết việc làm
Việc làm và thất nghiệp là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu,
là mối quan tâm lớn của mỗi quốc gia. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã tổng kết: có
ba yếu tố cơ bản nhất để phát triển con người là phải đảm bảo an toàn lương thực, an
toàn việc làm và an toàn môi trường. Như vậy, thế giới ngày nay cho rằng, mọi chiến
lược phát triển đều phải hướng vào việc phát triển con người, lấy con người làm trung
tâm trong phát triển xã hội và tiến bộ xã hội; trong đó việc làm là một tiêu chí quan trọng

để xem xét, đánh giá sự phát triển của xã hội, là thước đo tiến bộ của xã hội.
Xét về mặt xã hội, mọi người có sức lao động đều có quyền đòi hỏi có được việc
làm vì đó là một trong những quyền cơ bản của con người. Hồ Chí Minh - danh nhân văn
hóa thế giới đã từng nói: "Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền được sống, quyền được

Dân số tăng nhanh dẫn tới việc phân bố dân cư không hợp lý, không gắn kết
được lao động với các nguồn lực khác (đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn…) khiến cho
tạo việc làm mới càng khó khăn, thất nghiệp càng cao.
Dân số gia tăng sẽ buộc ngân sách nhà nước nói chung, xã hội nói riêng phải
giảm chi cho đầu tư phát triển, tăng chi cho tiêu dùng. Vì vậy, đầu tư cho phát triển
nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng nguồn lao động giảm xuống, cơ hội để tìm việc
làm càng gặp khó khăn.
Do đời sống của người lao động gặp khó khăn, nhu cầu về việc làm lớn, cơ hội
có việc làm ở khu vực nông thôn ít, nhất là những lúc nông nhàn dẫn đến tình trạng di
dân tự do từ nông thôn đổ ra đô thị để tìm việc làm kiếm sống. Nguồn lao động này phổ
biến là có sức khỏe, có kiến thức, có tay nghề, là lực lượng nòng cốt ở nông thôn; hậu
quả làm cho khu vực nông thôn mất đi nguồn lực quan trọng, cần thiết phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Ngược lại, nguồn lao động
di cư tự do này gây ra sức ép khó khăn cho các đô thị vì nguồn lao động này khó có thể
cạnh tranh và có được việc làm ở những ngành kinh tế hiện đại mà chủ yếu làm những
công việc dịch vụ; từ đó gây nên khó khăn trong công tác quản lý hành chính nhà nước
về hộ tịch, hộ khẩu, làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội ở đô thị.
Dân số là cơ sở hình thành nguồn lao động, là căn cứ để xác định nhu cầu giải quyết
việc làm. Bước vào thế kỷ 21, Việt Nam với tư cách là một nước có dân số đông, song đã
bước đầu tiến vào thời kỳ ổn định. Tốc độ tăng dân số dự kiến sẽ giảm 1,3% vào năm
2005 xuống còn 1,1% vào năm 2010 [17, tr. 152]. Đây là những thuận lợi rất cơ bản và

có những tác dụng sau đây với thị trường sức lao động:
- Giảm nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ sử dụng, đặc biệt đối
với dịch vụ y tế, sức khá¢e và giáo dục cũng như các chi phí giáo dục có liên quan khác;
- Giảm tỷ lệ người ăn theo, thông qua đó tăng thu nhập bình quân
đầu người;
- Tăng tỷ lệ tiết kiệm của dân cư. Theo quy luật co giãn của thu nhập so với tiết
kiệm, khi thu nhập tăng lên thì mức độ tiết kiệm của dân cư tăng lên, tức là tăng khả năng
đầu tư mở rộng cầu lao động, từ đó tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động.

2010 đạt 56,8 triệu, chiếm 64% tổng dân số" [17, tr. 146]. Đây là bài toán khó giải nhưng
bắt buộc chúng ta phải giải quyết có hiệu quả để đất nước ta tiếp tục phát triển nhanh và
bền vững; vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội - Con đường duy nhất đúng đắn mà Đảng,
Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
1.2.2. Tiến bộ khoa học - công nghệ
Tiến bộ của khoa học, công nghệ sẽ làm tăng yêu cầu việc làm cho lao động phức
tạp, có kỹ thuật và ngược lại, làm giảm việc làm đối với lao động giản đơn. Quá trình phát
triển của mỗi quốc gia ngày nay được cấu trúc lại dựa trên những lợi thế của nguồn lực
con người với hàm lượng trí tuệ ngày một gia tăng. Nhờ có sự tiến bộ của khoa học -
công nghệ mà phần tỷ lệ lao động chân tay kết tinh vào sản phẩm ngày một giảm rõ rệt,
hàm lượng lao động "chất xám" kết tinh vào sản phẩm ngày càng cao. Theo dự báo: "Đến
năm 2010, phần tỷ lệ lao động chân tay trong sản phẩm chỉ còn 1/10" [33, tr. 31].
Như vậy, sự phát triển của khoa học - công nghệ mang lại nhiều cơ hội để người
lao động tạo ra việc làm, phát huy khả năng cống hiến của mình cho xã hội, đồng thời
cũng đặt ra nhiều thách thức. Kinh nghiệm ở các nước đang phát triển cho thấy: khi đưa
khoa học, công nghệ tiến bộ vào sản xuất sẽ làm cho những nước có nguồn lao động giản
đơn dư thừa nhưng thiếu lao động phức tạp, có kỹ thuật cao như Việt Nam hiện nay mất
đi ưu thế của lao động nhiều giá rẻ. Xu hướng chung hiện nay là tăng lao động phức tạp

có kỹ thuật cao, giảm lao động giản đơn. Như vậy, vấn đề giải quyết việc làm của mỗi
quốc gia phụ thuộc vào chất lượng nguồn lao động (thể lực và trí lực) mà điểm quan
trọng có tính quyết định là trí tuệ của nguồn lao động; bởi vì, sự yếu kém của trí tuệ là
lực cản nguy hại nhất dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người. Điều này đã
được C. Mác khẳng định: "Sự ngu dốt là sức mạnh của ma quỷ và chúng ta lo rằng, nó sẽ
là nguyên nhân của nhiều bi kịch nữa" [22, tr. 438].
Ngày nay, khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, là lực lượng trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất vật chất. Vì vậy, đòi hỏi người lao động phải có phẩm
chất trí tuệ cao; nghĩa là người lao động phải có năng lực sáng tạo, áp dụng những thành
tựu của khoa học - công nghệ tiên tiến, khả năng biến tri thức của mình thành kỹ năng
nghề nghiệp, thể hiện qua trình độ tay nghề thành thạo, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, làm

trong quá khứ quá nhanh nên số người bước vào độ tuổi lao động ngày càng nhiều, tốc độ
tạo việc làm không thể tăng kịp với tốc độ gia tăng của nguồn lao động; vì vậy, vấn đề
đặt ra hiện nay đòi hỏi phải phát huy và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên
nhiên cùng với các nguồn lực khác như lao động, vốn, công nghệ… để tạo ra nhiều việc
làm mới cho người lao động, đảm bảo cho nền kinh tế tiếp tục phát triển nhanh và bền
vững, đưa sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục đi lên. Tuy vậy, có những quốc gia, thậm
chí một địa phương nào đó của một quốc gia có nguồn tài nguyên nghèo nàn, khan hiếm
như Nhật Bản mà vẫn tạo được nhiều việc làm cho người lao động. Bởi vì, họ đã xây
dựng được chính sách và giải pháp về việc làm đúng đắn và khoa học.
1.2.4. Xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động, Liên hợp quốc gọi là "Di dân quốc tế", là hình thức biểu
hiện cơ bản của thị trường lao động. Vấn đề giải quyết việc làm, giảm thiểu thất nghiệp
về thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu về lao động trên thị trường sức
lao động. Theo nghĩa đó, xuất khẩu lao động là hướng đi quan trọng vừa tăng cầu lao
động, giải quyết việc làm cho người lao động, vừa tạo ra nguồn thu nhập cho người lao
động và tăng thu cho ngân sách nhà nước, vừa nâng cao trình độ tay nghề cho người lao

động và tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến của nhân loại, vừa mở rộng giao lưu kinh
tế quốc tế.
Hiện nay, xuất khẩu lao động (đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài)
là hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội quốc tế. Nhiều nước đã coi xuất
khẩu lao động là một chính sách lớn, một lĩnh vực hoạt động kinh tế quan trọng nhằm
giải quyết việc làm, giảm thiểu thất nghiệp. Ngoài hình thức xuất khẩu lao động còn có
các hình thức khác như: hợp tác nghiên cứu khoa học, hợp tác triển khai và ứng dụng
công nghệ, trao đổi chuyên gia… cũng đang mở rộng. Tất cả những hình thức trên đã tạo
nên trào lưu dịch chuyển và phân công lao động quốc tế, giải quyết việc làm, giảm thiểu
thất nghiệp, phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động của mỗi quốc gia.
Vì vậy, xuất khẩu lao động được nhiều nước coi là một hướng quan trọng để giải
quyết việc làm cho người lao động. Ví dụ: "Năm 1988, số người lao động của Philippin làm
việc tại nước ngoài là 4 triệu người; năm 1995, lượng kiều hối gửi qua các kênh chính thức

Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, người nông dân có các
quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa IX) khẳng định: "Quyền sử dụng đất đai bước
đầu trở thành một nguồn vốn để Nhà nước và nhân dân phát triển sản xuất kinh doanh"
[13, tr. 58].
Nhờ có chính sách đúng đắn về đất đai đã tạo ra tiềm năng mới để giải phóng sức
sản xuất xã hội, tạo mở việc làm, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Khuyến khích
người có điều kiện (kể cả người trong nước và nước ngoài) đến khai hoang và kinh doanh
theo mô hình trang trại ở các vùng đất còn hoang hóa, quai đê lấn biển… tạo ra nhiều
việc làm mới, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước ta tăng trưởng với tốc độ cao trong
những năm qua. Tuy nhiên, dưới góc độ chính sách việc làm, cần tiếp tục hoàn thiện
chính sách đất đai hướng vào các nội dung sau:

- Khuyến khích và tạo điều kiện cho hộ nông dân dồn điền, đổi thửa tập trung
ruộng đất theo chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước.
- Thừa nhận quyền sử dụng ruộng đất là một loại hàng hóa đặc biệt, đòi hỏi phải
được lưu thông tự do và đảm bảo khả năng sinh lợi.
- Xây dựng khung giá đất phù hợp với thực tiễn khách quan đối với mỗi vùng,
mỗi địa phương sát với giá thị trường nhằm chống nạn đầu cơ trục lợi từ đất, chống thất
thu cho ngân sách nhà nước Chỉ trên cơ sở đó mới giải phóng mọi tiềm năng của sản
xuất, đặc biệt là tiềm năng lao động để tạo mở việc làm, giảm thiểu thất nghiệp, nâng cao
đời sống của nhân dân.
1.2.5.2. Chính sách huy động vốn
Vốn có vị trí quan trọng, là yếu tố cơ bản để giải quyết việc làm, nếu vốn được
gia tăng sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác
như: lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ… để phát triển sản xuất, tạo
mở việc làm. Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn, Đảng ta chỉ rõ:
Đảng và Nhà nước ta chủ trương huy động mọi nguồn vốn trong và
ngoài nước để đầu tư vào phát triển, trong đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết
định, vốn ngoài nước có ý nghĩa quan trọng, kết hợp tiềm năng sức mạnh bên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status