LUẬN VĂN: Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Những vấn đề đặt ra và các giải pháp
nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở An
Giang trong mùa nước nổi
MỞ ĐẦU

tiến dần đến chủ động sống chung với lũ, kiểm soát một cách hiệu quả hiện tượng tự
nhiên này.
An Giang là tỉnh đầu nguồn, có toàn bộ diện tích nằm trong vùng lũ và phải chịu
ảnh hưởng của lũ lâu dài và nặng nề nhất. Thời gian chịu lũ kéo dài khoảng 6 tháng trong
năm nên vấn đề được đặt ra là làm thế nào để khai thác một cách có hiệu quả nhất những
công trình, cơ sở hạ tầng kiểm soát lũ đã được đầu tư phục vụ cho việc chủ động sống
chung với lũ, khai thác tối đa những lợi thế của lũ cũng như trong phát triển kinh tế - xã
hội, hạn chế thấp nhất những thiệt hại do lũ mang lại.
Quyết định 99/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 9/2/1996 về định hướng dài
hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 đối với việc phát triển thủy lợi, giao thông và xây
dựng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển
kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long, cho quá trình chủ động sống chung với
lũ. Song quá trình này cũng đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải nghiên cứu như: xây dựng
các cụm tuyến dân cư vượt lũ nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân
trong mùa lũ nhưng cũng làm thay đổi phong tục, tập quán, cách sống của nhân dân; xây
dựng đê bao chống lũ kết hợp với phát triển đường giao thông nông thôn nhưng cũng
ngăn không cho nước tràn đồng, có thể làm tăng mực nước lũ trên các dòng chính
Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề: "Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm
phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi "
là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc chủ động sống chung với lũ, thúc đẩy
nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn An Giang. Qua đó,
tổng kết kinh nghiệm và góp phần thúc đẩy quá trình khai thác lợi thế mùa nước nổi của
người dân vùng lũ bao đời nay từ tự phát lên tự giác dưới sự định hướng và hỗ trợ của
Nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu về lũ ở châu thổ sông Cửu Long đã các công trình sau:
GS.TS Nguyễn Ngọc Trân (Chủ biên): "Đồng bằng sông Cửu Long tài nguyên -
môi trường - phát triển", Ủy ban Khoa học Nhà nước (Chương trình điều tra cơ bản tổng
hợp vùng đồng bằng sông Cửu Long), Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng bằng

ở đồng bằng sông Cửu Long, đưa ra một số nhận định về việc thực hiện đê bao triệt để,
đê bao tháng 8 và không đê bao.
Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí, các đề tài nghiên cứu khoa
học cấp bộ, địa phương. Các công trình trên đã nghiên cứu về mùa lũ ở châu thổ sông
Cửu Long và vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long dưới nhiều góc độ khác nhau và đề
cập đến một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, điều tra tổng hợp về kinh tế - xã hội - môi trường - văn hóa - giáo dục
vùng đồng bằng sông Cửu Long, cung cấp số liệu cho công tác quy hoạch phát triển vùng
đồng bằng sông Cửu Long.
Hai là, đánh giá tác động và đưa ra những khuyến nghị về việc phát triển đồng
bằng sông Cửu Long trong mối quan hệ với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nhất là
trong mối quan hệ với Thành phố Hồ Chí Minh.
Ba là, đánh giá bước đầu ảnh hưởng của việc thực hiện chương trình đê bao
chống lũ triệt để ở một số địa phương.
Bốn là, đưa ra những kiến nghị nhằm khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội -
môi trường và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long trong
điều kiện chung sống với lũ.
Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long
với tư cách là một nguồn lực - nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long nói chung và trên địa
bàn tỉnh An Giang nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở phát huy hiệu quả của các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc
chủ động chung sống và phát triển kinh tế - xã hội trong mùa nước nổi; nghiên cứu
những lợi thế của mùa nước nổi có thể khai thác để phục vụ cho quá trình phát triển kinh
tế - xã hội ở An Giang; từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước
nổi, nêu lên được những vấn đề đã và đang đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội ở An Giang và đề xuất một số giải pháp cơ bản để giải quyết những vấn đề đó.
- Khái quát những vấn đề cấp thiết đang đặt ra đối với phát triển kinh tế - xã hội
ở An Giang trong mùa nước nổi.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết những vấn đề được đặt ra để
phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết. Chương 1
LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ CỦA MÙA NƯỚC NỔI
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở AN GIANG

1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Quan niệm mùa nước nổi
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên là 3.956.900 ha, được hình
thành từ phù sa của phần hạ lưu vực sông Mêkông. Sông Mêkông dài 4.200 km, có diện
tích lưu vực 795.000 km
2
, chảy qua Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và
Việt Nam. Phần hạ lưu chảy vào Việt Nam theo hai nhánh chính là sông Tiền và sông
Hậu, chảy ra biển theo 9 cửa là: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ
Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Đình An, cửa Bát Xác và cửa Tranh Đề, nên đoạn sông
Mêkông chảy vào Việt Nam được gọi là sông Cửu Long và đồng bằng sông Cửu Long
cũng được gọi theo tên sông.
Là một vùng đất trù phú, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều lợi thế để phát triển
nhưng đồng bằng sông Cửu Long cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt. Hàng năm,
vào khoảng tháng 6 đến tháng 12, nước từ sông chính, theo các nhánh phụ và hệ thống

với đồng bằng sông Cửu Long, việc xác định lũ lớn hay nhỏ không phụ thuộc vào cường
độ lũ, lưu lượng, tổng lượng mà yếu tố quan trọng là dựa vào mực nước. Theo phân cấp
của Tổng cục Khí tượng Thủy văn, mực nước trên sông Tiền tại Tân Châu thấp hơn 3,83
m là lũ nhỏ, từ 3,83 m đến 4,83 m là lũ trung bình và trên 4,83 m là lũ lớn.
Ba là, lũ ở đồng bằng sông Cửu Long thường là lũ một đỉnh, đạt lớn nhất vào
khoảng từ cuối tháng 9 đến nửa đầu tháng 10. Tháng 8 thường xuất hiện một "đỉnh phụ",
bởi sau đỉnh này, vào đầu tháng 9, lũ hoặc bị hạ thấp đôi chút hoặc nằm ngang hay tăng
chậm hơn so với thời kỳ trước và sau đó. Đôi khi đỉnh lũ này lại cao hơn đỉnh lũ chính
tháng 10 (lũ năm 1978, 1991).
Bốn là, không chỉ chảy theo các nhánh sông chính, lũ còn tràn vào đồng bằng
sông Cửu Long bằng cách tràn qua và lấp đầy các khu trũng thấp dọc theo biên giới (nhất
là ở hai vùng ngập chính Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên). Diện tích ngập lũ
khoảng 2 triệu ha, chiếm khoảng 2,5% diện tích lưu vực sông Mêkông nhưng phải gánh
chịu tổng lượng lũ khoảng 400 tỷ m
3
của toàn lưu vực đổ về. Trong đó, lượng theo các sông chính khoảng 320 tỷ m
3
, còn lại thì tràn đồng và theo hệ thống kênh rạch đổ ra sông
chính. "Trong các trận lũ lớn, lượng nước lũ theo dòng chính chiếm khoảng 83,2 -
90,86% và tràn đồng khoảng 9,14 - 16,8%. Nước lũ tràn đồng là tác nhân chính gây ngập
lụt cho vùng trũng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên" [47, tr. 25].
Có nhiều nguyên nhân làm tác động đến mùa lũ ở vùng ngập lũ đồng bằng sông
Cửu Long như: triều cường của thủy triều biển Đông, mùa mưa hàng năm, lũ thượng
nguồn, chế độ mưa nội đồng, sự điều tiết của Biển Hồ, tác động khai phá thiên nhiên của
con người Trong đó, tác nhân chính tạo nên tính đặc trưng của mùa lũ ở vùng ngập lũ
đồng bằng sông Cửu Long là: do địa hình đặc trưng của lưu vực sông Mêkông và lượng
mưa hàng năm.

gây ra" [70, tr. 1066].
Cả hai khái niệm trên chỉ diễn tả được những tính chất chung nhất của lũ lụt
nhưng không thể hiện được những đặc trưng cơ bản của mùa lũ ở vùng đồng bằng sông
Cửu Long.
Theo PGS.TS Trần Thanh Xuân thì:
Thuật ngữ lũ chỉ hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng
thời gian nhất định, sau đó giảm dần. Trong mùa lũ, những trận mưa liên tiếp
trên lưu vực sông (vùng hứng nước mưa và sinh dòng chảy) làm cho nước
sông cũng từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra những trận lũ trong sông
suối. Khi lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông (đê) chảy vào những chỗ trũng và
gây ra ngập lụt trên một diện rộng [69, tr. 7].
Các cách gọi như trên là đúng nhưng chưa đủ, để chỉ lũ ở đồng bằng sông Cửu
Long thì chúng ta phải dùng cả cụm từ là "mùa lũ (lũ) ở châu thổ sông Cửu Long". Đây
là cách gọi đúng và đủ nhưng mang nặng tính bi quan, thiên về những tác hại do lũ gây ra
(lũ, lụt được ông cha ta từ xưa xếp vào một trong những thiên tai nguy hiểm nhất), bao
hàm những ý nghĩa tiêu cực của những thiệt hại về tài sản, tính mạng không bao hàm
được tính lạc quan trong chung sống với lũ.
Vì thế, ta không thể dùng khái niệm lũ, lụt, hay lũ lụt để gọi chung cho mùa lũ ở
đồng bằng sông Cửu Long.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: Mùa nước nổi: Mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long do nước sông Tiền
và Hậu tràn bờ, làm ngập cả châu thổ với các độ sâu khác nhau và thời gian
dài ngắn khác nhau khiến chỉ cấy được một vụ lúa nổi nhưng có tác dụng rửa
mặn, xổ phèn, cả châu thổ có nước ngọt đưa vào một lượng phù sa đáng kể
[70, tr. 1049].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì:
Mùa nước nổi: mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long. Mùa nước nổi đưa
về một khối lượng nước ngọt lớn, cùng với phù sa chi phối toàn bộ hoạt động

trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang.
1.1.2. Một số khái niệm thường dùng trong phòng chống lũ lụt
Có nhiều khái niệm được dùng trong phòng chống lũ lụt, trong phạm vi nghiên
cứu của luận văn, chúng ta chỉ tập trung tìm hiểu một số khái niệm thường dùng trong
phòng chống lũ lụt có liên quan như:
Điều tiết lũ là sử dụng các dung tích lớn như các hồ chứa, khu trũng
để phân bố lại dòng chảy lũ theo thời gian, tích nước khi có lũ, xã nước khi
sông cạn kiệt.
Điều khiển lũ là sử dụng các biện pháp công trình như đê bao ngăn lũ,
kênh thoát lũ, cống điều tiết để phân bố lại dòng chảy lũ theo không gian.
Kiểm soát lũ là khái niệm rộng hơn, trong đó chủ yếu là làm thay đổi
hướng truyền lũ, thoát lũ (theo không gian), song cũng có phần phân bố lại lũ theo
thời gian (như sử dụng một số dung tích trống, vùng trũng để làm chậm lũ, cắt
lũ, trữ nước cuối mùa lũ [46, tr. 91].
Với cách hiểu như trên, điều tiết lũ là giải pháp phòng chống lũ theo thời gian, có
tác dụng làm chậm tốc độ gia tăng của lũ trên phạm vi cả khu vực ngập; điều khiển lũ là
giải pháp phòng chống lũ theo không gian, có thể làm giảm lũ ở vùng này và gia tăng lũ ở
vùng khác, tránh hướng lũ vào những vùng có thể gây nhiều thiệt hại, đưa hướng lũ vào
những vùng ít thiệt hại; Kiểm soát lũ là giải pháp tổng hợp của hai giải pháp điều tiết lũ
và điều khiển lũ. Kiểm soát lũ là mục tiêu lâu dài không thể chỉ thực hiện trong phạm vi
vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long mà phải có một chiến lược cấp vĩ mô liên quan
đến các nước, nơi lưu vực sông đi qua, là cái đích cuối cùng mà các nhà hoạch định chính sách đang hướng tới. Hiện tại, các công trình phòng chống lũ ở đồng bằng sông Cửu
Long mà chúng ta đang xây dựng là hệ thống những giải pháp nhằm từng bước kiểm soát
lũ thông qua các kênh thoát lũ, cống, đê bao kết hợp giao thông…
Với những đặc trưng riêng có của mình, mùa nước nổi có những tác động nhất
định đến phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long nói chung
và An Giang nói riêng.

Lượng phù sa bồi tích nhiều nhất ở điểm đặt khai số 1: 19092,2 g/m
2
;
điểm số 4: 14314,4 g/m
2
; điểm số 8: 12585,5 g/m
2
; điểm số 22: 10851,0 g/m
2
;
điểm số 23: 10734,4 g/m
2
; điểm số 19: 7696,4 g/m
2
; điểm có lượng thấp nhất
là 1124,5 g/m
2
- điểm số 5, lượng bồi tích trung bình: 7965,6 g/m
2
, như vậy có
thể suy ra lượng phù sa phủ lên đồng ruộng trên 1 ha khoảng 80 tấn/ha .
Thành phần hóa học của phù sa có ưu thế về "chất lượng" hơn so với
thành phần phần hóa học đất ở tầng 0 - 5 cm trước lũ
thể hiện rõ nét qua các chỉ tiêu pH, Ca
2+
, đạm dễ tiêu và lân tổng
số [21, tr. 7-8].
Lượng phù sa mới, có chất lượng cao hơn lớp đất mặt được bồi đắp hàng năm do
mùa nước nổi mang lại góp phần nâng dần độ cao cho vùng trũng của đồng bằng (Tứ
giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười) và là một nhân tố chính làm cho đồng bằng sông

sa, cá bống tượng, cá lóc
Vào mùa nước nổi, cá từ sông, theo nước vào tìm mồi, sinh sống và sinh sản ở
nội đồng - những vùng ngập nước vì những nơi đó vào mùa này có rất nhiều thức ăn và
thuận lợi trong cư trú. Trong những tháng mùa nước, với những điều kiện thuận lợi trên,
cá sinh sản và sinh trưởng nhanh tạo nên một trữ lượng cá tự nhiên nội đồng khá lớn. Khi
nước rút, từ nội đồng, cá lại quay về sông và người dân rất dễ dàng đánh bắt bằng những
biện pháp đơn giản như: làm đăng, đặt dớn, kéo lưới mang lại nguồn lợi khai thác tự
nhiên to lớn cho cư dân vùng ngập lũ.
Cũng trong mùa nước nổi, lượng cá bột tự nhiên từ thượng nguồn theo nước đổ
về đã góp phần hình thành những nghề như vớt cá bột, ươm cá giống, nuôi cá Cư dân
vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long đã sớm khai thác ưu thế được thiên nhiên ưu đãi
về lượng nước, dòng chảy, nguồn cá bột tự nhiên để nuôi trồng các loài thủy sản có giá
trị xuất khẩu cao. Tuy nhiên, từ năm 1999 đến nay, khi ngành nghề nuôi trồng thủy sản
phát triển mạnh, lượng con giống tự nhiên không đủ cung cấp và việc vớt cá bột ươm
giống đã bị cấm theo pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản nên đã hình thành và phát triển
nghề sinh sản con giống nhân tạo. Trong đó phát triển mạnh nhất là nuôi cá da trơn, chủ
yếu là cá tra, ba sa… đã và đang là những thương hiệu hàng hóa có uy tín, và chiếm lĩnh
được thị trường trong nước và trên thế giới. Bên cạnh đó, mùa nước nổi còn đem lại cho vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu
Long một khối lượng nước ngọt lớn, trên một diện tích rộng hàng trăm ngàn ha, trong
thời gian tương đối dài, có độ ngập nông sâu khác nhau tùy vùng đất, tạo nhiều điều kiện
thuận lợi để khai thác diện tích mặt nước trên đồng cho nuôi nhiều loại thủy sản và trồng
nhiều loại cây thủy sinh.
1.2.3. Tháo chua, rửa phèn, giảm dịch hại và độc chất trong đất làm sạch đất
tạo điều kiện thuận lợi cho khai hoang, làm tăng diện tích đất nông nghiệp
Do tác động của các yếu tố thiên nhiên, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long
có nhiều loại đất, khi nghiên cứu, các nhà khoa học thường phân chia thành 7 nhóm đất
chính là đất phù sa, đất phèn, đất mặn, đất phèn mặn, đất phù sa cổ, đất than bùn, đất núi.

Ta có thể nhìn thấy tác động tháo chua, rửa phèn của mùa nước nổi đối với vùng ngập lũ
đồng bằng sông Cửu Long theo một quy trình chung nhất qua kết quả nghiên cứu sau:
Bảng 1.2: Quá trình tháo chua, rửa phèn cho đất nhiễm phèn
trong mùa nước nổi
Thời điểm Đất phèn Nước
Đầu mùa khô (I-II) Bắt đầu ôxy hóa. Độ chua
gia tăng nhanh.
Ít đến không chua sau thời
gian dài ngâm lũ.
Giữa đến cuối mùa
khô (III-V)
Độ chua ngày càng gia tăng,
đạt cực điểm vào cuối mùa
khô.
Độ chua tăng dần theo quá
trình tiêu nước vụ Đông
xuân.
Đầu mùa mưa (VI) Rửa trôi các ion vào môi
trường nước. Độ chua vẫn
cao vì khoáng chất bắt đầu bị
công phá.
Chua cực độ do dịch phèn
đậm đặc hòa tan trong nước.

Đầu mùa lũ (VII-
VIII)
Độ chua bắt đầu giảm. Độ chua vẫn còn cao. Giữa mùa lũ (IX-X) Độ chua giảm mạnh đến


được ; các công trình thủy lợi, giao thông vận tải bị tàn phá làm gián đoạn hoạt động
kinh tế, văn hóa, xã hội bình thường của cư dân.
Trong sản xuất nông nghiệp, lũ sớm đe dọa thu hoạch vụ lúa hè thu, gây mất
trắng hay giảm chất lượng lúa do gặt ép (lúa còn chưa thật sự chín); lũ muộn làm chậm
thời gian xuống giống vụ Đông - Xuân, làm mất tính thời vụ của vụ lúa. Làm ngập úng,
giảm năng suất thậm chí làm chết các vườn cây ăn trái, cây công nghiệp khi nước vượt
ngưỡng trung bình; phá vỡ hệ thống đê bao; một bộ phận không nhỏ nông dân có thời
gian nông nhàn khá dài trong mùa nước nổi
Trong bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, dòng nước mang
hàm lượng phù sa lớn gây khó khăn trong xử lý nước sinh hoạt nhất là vùng nông thôn
quen sử dụng nước sông là nước sinh hoạt chính; dòng nước bị ô nhiễm với chất thải,
chất vi sinh, các hóa chất khác từ các vùng khác trên lưu vực chảy về; một số vùng,
nước còn bị nhiễm phèn; tốn kém nhiều chi phí trong xây dựng nhà vệ sinh tự hoại;
xử lý rác thải sinh hoạt Những nguy hiểm trên nếu không có biện pháp phòng chống
thích hợp, có thể sẽ là nơi phát sinh những "ổ dịch" lớn và nguy hiểm như: sốt xuất
huyết, dịch tả …
Ta có thể thấy tác hại của mùa nước nổi qua một số năm nước lớn (báo chí thường
gọi là lũ lớn) như: năm 1994 (tương ứng mực nước 453 cm, tại trạm Tân Châu), làm cho
407 người chết, gây thiệt hại tài sản trị giá khoảng 2.284 tỷ đồng. Trận lũ năm 1996
(tương ứng mực nước 487 cm, tại trạm Tân Châu), làm cho 217 người chết, gây thiệt hại
tài sản trị giá khoảng 2.182 tỷ đồng Trận lũ năm 2000 (tương ứng mực nước 506 cm, tại
trạm Tân Châu), làm cho 453 người chết, gây thiệt hại tài sản trị giá khoảng 4.000 tỷ
đồng.
Trận lũ lịch sử năm 2000 là trận lũ lớn và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất trong
hơn 70 năm qua. Tính đến 5/11/2000, thiệt hại do lũ gây ra ở đồng bằng sông Cửu Long
như sau:
Bảng 1.3: Thiệt hại trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2000
Thiệt hại Đơn vị tính Số lượng



Sông Mêkông là sông lớn, có lưu vực rộng, gắn chặt với môi trường tự nhiên,
kinh tế và cả văn hóa của những quốc gia nơi lưu vực sông Mêkông chảy qua. Lũ ở lưu
vực sông Mêkông nói chung và lũ ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là một hiện
tượng tự nhiên gắn liền với quá trình khai thác, hình thành và phát triển của vùng đồng
bằng châu thổ sông Cửu Long. Đối sách với lũ ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu
Long phải được tiếp cận từ quan điểm lịch sử, hợp quy luật, đặc điểm riêng, từ việc
nhận dạng được tính hai mặt, là đặc trưng riêng có của mùa lũ ở vùng ngập lũ đồng
bằng sông Cửu Long.
Từ thế kỷ thứ 19, Ph. Ăngghen cũng đã chỉ ra rằng, con người có thể thống trị
được giới tự nhiên không phải bằng cách chinh phục và đối đầu với giới tự nhiên mà phải
tìm, nắm bắt và nhận thức được những quy luật của giới tự nhiên để phục vụ cho quá
trình phát triển của loài người.
… Và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên biểu hiện ở
chỗ là chúng ta có ưu thế hơn tất cả các sinh vật khác, nghĩa là chúng ta nhận
thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật
đó một cách chính xác.
Và trên thực tế, chúng ta học hỏi để hiểu được một cách chính xác hơn
những quy luật đó, và biết được những hậu quả gần gũi cũng như xa xôi của
những sự can thiệp tích cực của chúng
ta vào trong tiến trình bình thường của các sự vật trong giới tự nhiên [1, tr.
269-270].
Các kết quả nghiên cứu khoa học trong những năm gần đây cũng cho thấy bên
cạnh những tác hại, lũ ở đồng bằng sông Cửu Long cũng mang lại nhiều lợi ích thiết thực
mà nếu biết khai thác hợp lý vào quá trình phát triển thì đó sẽ chính là những tặng phẩm
quý giá mà thiên nhiên đã ban cho vùng đất này. Vì thế, đối sách với lũ được chọn cho
vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long là "không chống lũ triệt để như đồng bằng Bắc
bộ, không xa lánh lũ, hãy chung sống hòa thuận với lũ một cách chủ động, ổn định và
khai thác những lợi thế của lũ mang lại để phát triển", đây chính là là con đường đúng
đắn và hiệu quả nhất cho vấn đề ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ngập

An Giang là tỉnh nằm phía Tây Nam của Việt Nam, nằm giữa sông Tiền và sông
Hậu, có tọa độ từ 10
0
đến 11
0
và 104,7
0
đến 105,5
0
kinh Đông, phía đông giáp tỉnh Đồng
Tháp, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang, Cần Thơ, phía bắc giáp Campuchia. Có đường biên
giới Việt Nam - Campuchia dài gần 100 km với hai cửa khẩu quốc tế là Tịnh Biên (thuộc
huyện Tịnh Biên) và Vĩnh Xương (thuộc huyện Tân Châu); một cửa khẩu quốc gia là
Khánh Bình (thuộc huyện An Phú).
Diện tích toàn tỉnh là 3.424 km
2
với 11 đơn vị hành chính là: thành phố Long
Xuyên, thị xã Châu Đốc, 9 huyện là An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân,
Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu với 150 xã, phường, thị trấn. Trung tâm hành
chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh là thành phố Long Xuyên.
So với các tỉnh trong khu vực, An Giang là tỉnh có đặc trưng riêng biệt như: có
đồng bằng (trên 70% diện tích là đất phù sa hoặc có nguồn gốc phù sa do bồi đắp hàng
năm), có núi, có rừng, có tài nguyên khoáng sản và nhiều di tích văn hóa lịch sử giúp
tỉnh có thể phát triển một nền kinh tế tương đối đa dạng. Căn cứ vào địa lý kinh tế tự
nhiên, An Giang hình thành hai vùng rõ rệt:
Vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu chiếm 30% diện tích, thuộc địa
giới hành chính của 4 huyện cù lao: An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới là vùng đồng
bằng rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
Vùng tứ giác Long Xuyên nằm ở phía Tây sông Hậu, chiếm 70% diện tích của
tỉnh. Vùng này được chia thành hai tiểu vùng: đồng bằng và núi. Vùng núi ngoài những

khẩu chủ lực, chỉ đứng sau gạo và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP và cơ cấu
xuất nhập khẩu của An Giang. Phát triển mạnh nghề nuôi trồng thủy sản không chỉ tạo

Trích đoạn MÔ HÌNH NUÔI TÔM TRONG RUỘNG LÚA MÙA LŨ TẠI HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG MÔ HÌNH TRỒNG CÂY RAU NHÚT VÀ CÂY SEN TRONG MÙA LŨ TẠI AN GIANG NĂM Nhận định của người dân về trồng cây thủy sinh trong mùa lũ Lý do để người dân trồng cây thủy sinh mùa lũ Những trở ngại và hướng khắc phục cây trồng thủy sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status