LUẬN VĂN: Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay doc - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Vai trò của pháp luật trong quản lý
nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ
rừng ở Việt Nam hiện nay

vẫn bị khai thác một cách bất hợp pháp. Đáng nghiêm trọng là những vụ phá rừng tập thể
nhằm chuyển đổi mục đích kinh doanh vì mục tiêu trước mắt, rồi những vụ buôn bán các

sản vật từ rừng diễn ra với quy mô lớn, bất chấp pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. Do
nhu cầu phát triển kinh tế, nhiều diện tích rừng đã bị phá cho việc phát triển cơ sở hạ tầng
như đường sá, trang trại hoặc đất nông nghiệp, các đô thị và khu công nghiệp, Hơn nữa,
do cơ chế chính sách và quan trọng hơn là do hệ thống pháp luật về quản lý rừng chưa
đồng bộ, chưa theo kịp với tốc độ phát triển của xã hội và chưa đáp ứng được yêu cầu về
quản lý bảo vệ rừng (QLBVR),… đã dẫn đến những hoạt động phá hoại rừng ở nhiều nơi
mà không thể kiểm soát. Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống
quản lý hành chính lâm nghiệp, đội ngũ cán bộ công chức hành chính lâm nghiệp chưa đáp
ứng được yêu cầu đòi hỏi về QLBVR trong giai đoạn hiện nay làm cho hệ thống pháp luật
về QLBVR không phát huy được hiệu lực.
Với thực tế trên, việc đánh giá thực trạng vai trò pháp luật trong quản lý nhà nước
(QLNN) đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở nước ta là hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng
to lớn cả về lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài: “Vai
trũ của phỏp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay” nhằm
đóng góp một phần trong việc nâng cao hơn nữa vai trò của pháp luật trong quản lý và bảo
vệ rừng ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Việt Nam đang bước vào sự chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội… Vì vậy, vấn đề cơ chế quản lý và
vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước ngày càng được đề cao, với mục đích xây
dựng, hướng tới xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân, và vì dân. Chính vì vậy, đã công trình nghiên cứu về vai trò của pháp luật trong
quản lý nhà nước đối với một số lĩnh vực của đời sống xã hội và đã đề cập được phần nào
những vấn đề lý luận và thực tiễn trong một số lĩnh vực nhất định. Căn cứ vào vấn đề
nghiên cứu, tác giả chia những công trình nghiên cứu khoa học ra làm 2 nhóm sau:
Nhóm 1: Nghiên cứu về vai trò của pháp luật trong một số lĩnh vực của đời sống xã
hội và QLNN bằng pháp luật trong nền kinh tế thị trường

của chủ thể quản lý khu rừng đặc dụng” của PGS.TS. Lê Hồng Hạnh (2003). Báo cáo này
đã đưa ra các kết quả điều tra về trình độ pháp lý của cán bộ nhà nước quản lý các khu
rừng đặc dụng, đề xuất các biện pháp đào tạo nâng cao năng lực thừa hành pháp luật của
chủ thể quản lý các khu rừng đặc dụng.
Dự án hợp tác quốc tế do chính phủ Cộng hoà liên bang Đức tài trợ cho Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) về “Cải cách hành chính Lâm nghiệp” đang
được thực hiện tại Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2006. Mục đích nghiên cứu của dự án
này là hoàn thiện hệ thống các cơ quan QLNN về Lâm nghiệp.
Luận văn thạc sĩ luật học “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt
Nam hiện nay” của Nguyễn Thanh Huyền, năm 2004. Tác giả này nghiên cứu một số vấn
đề cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng, đề xuất các giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật
bảo vệ rừng.
Luận văn thạc sĩ luật học “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ
rừng ở việt nam hiện nay” của Hà Công Tuấn, 2002. Tác giả nhấn mạnh trong các công cụ
quản lý nhà nước nói chung và quản lý bảo vệ rừng nói riêng thì công cụ pháp luật pháp
luật đóng một vai trò rất quan trọng.
Luận văn thạc sĩ luật học “Tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm ở nước ta hiện
nay” của Nguyễn Văn Vân, năm 2001. Đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu cơ cấu tổ
chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR)
năm 1991 và Nghị định 39/CP ngày 18 tháng 05 năm 1994 về hệ thống tổ chức và hoạt
động, nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm lâm, cho thấy được vai trò nòng cốt của lực lượng
Kiểm lâm trong việc bảo vệ rừng, đề xuất đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm
hiện nay.
Luận văn thạc sĩ luật học “Quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan,
Kiểm lâm trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Đình Long, năm 2000; “Pháp luật bảo vệ
môi trường rừng ở Việt nam thực trang và phương hướng hoàn thiện” của Nguyễn Hải Âu,

năm 2001. Ngoài ra còn nhiều bài viết trên các tạp chí, báo và các tham luận trong hội thảo
của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này ở các góc độ tiếp cận khác nhau.
Tuy nhiên, những công trình nói trên chỉ nghiên cứu ở các khía cạnh hay chỉ đề cập

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cở sở lý luận của luận văn:
Luận văn này được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về lý luận nhà nước và pháp
luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể: Lịch sử cụ thể; phân tích tổng hợp;
nghiên cứu hệ thống kết hợp phỏng vấn.
6. Những đóng góp mới về khoa học mới của luận văn
- Luận văn luận giải và bổ sung về mặt lý luận các khái niệm, đặc điểm, nội dung và
một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ
rừng.
- Đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng,
chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh
vực bảo vệ rừng trong thời gian qua.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của pháp luật
trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng.
7. ý nghĩa của luận văn
Luận văn sẽ đóng góp một số vấn đề lý luận về vai trò của pháp luật trong QLNN đối
với lĩnh vực bảo vệ rừng có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách, nhà lập pháp và
những người làm công tác nghiên cứu có thêm một phần thông tin lý luận về vai trò của
pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng, từ đó đóng góp vào việc xây dựng, tổ

chức thực hiện và bảo vệ pháp luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu
tham khảo cho sinh viên các trường chuyên luật hoặc không chuyên luật, cho học viên
đang học tập trong hệ thống các trường chính trị, cho những người quan tâm nghiên cứu về
pháp Luật BV&PTR và vai trò của pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3
chương, 10 tiết.

rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên
khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ
nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái.
Như vậy, bảo vệ rừng bao gồm những hoạt động sau:
- Tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá
rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản;
xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào
rừng trái quy định của pháp luật.
- Thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ sâu bệnh hại.
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong
lĩnh vực bảo vệ rừng.
Theo khái niệm trên bảo vệ rừng bao gồm cả phát triển rừng. Theo quy định của
khoản 3 Điều 3 Luật BV&PTR thì:
Phát triển rừng là việc trồng rừng mới, trồng lại rừng sau khi khai thác, khoanh nuôi
xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật
lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp
lâm sản, khả năng phòng hộ và giá trị của rừng [11, tr. 63].
Vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX thế giới đã quan tâm đến "phát triển bền vững".
Khái niệm "phát triển bền vững" hay "khả năng bền vững" được đưa ra trong "chiến lược
bảo tồn thế giới" nhằm đáp lại nhận thức và những mối lo ngại ngày càng tăng về sự suy
kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự xuống cấp môi trường toàn cầu. Quan điểm
chung của sự phát triển bền vững là bảo đảm sao cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm
nay không làm tổn hại đến việc đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau.

"Phát triển bền vững" có mối quan hệ chặt chẽ và trực tiếp với việc "quản lý rừng
bền vững". Một định nghĩa về quản lý rừng bền vững được tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới
(ITTO) đưa ra như sau:
Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý đất rừng cố định để đạt được
một hoặc nhiều mục tiêu được xác định rõ ràng của công tác quản lý trong vấn
đề sản xuất liên tục các lâm phẩm và dịch vụ rừng mà không làm giảm đi đáng

những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết
quả nhấn định trong quản lý. Còn khách thể trong quản lý là trật tự - trật tự này được quy
định bởi nhiều loại quy phạm khác nhau như: quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy
phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật.
Vậy khái quát lại: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý
nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
QLNN là một dạng của quản lý xã hội, đây là một quá trình phức tạp, đa dạng nên
trong nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn, QLNN được hiểu theo hai cấp độ: QLNN
theo nghĩa rộng là đề cập đến chức năng của cả bộ máy nhà nước (từ hoạt động lập hiến,
lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tư pháp); còn tiếp cận theo nghĩa hẹp chỉ là
hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan QLNN. Hoạt động này chủ yếu giao cho hệ
thống cơ quan hành chính thực hiện. Đó là các chủ thể quản lý.
QLNN không phải là sự quản lý đối với nhà nước, mà là sự quản lý có tính chất nhà
nước, của nhà nước đối với xã hội. QLNN được thực hiện bởi quyền lực nhà nước. Quyền
lực đó được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế
nhà nước. Theo nghĩa hẹp, QLNN có những đặc trưng cơ bản sau: QLNN mang tính chất
quyền lực nhà nước, có tính tổ chức cao và mang tính mệnh lệnh của nhà nước; QLNN
mang tính tổ chức và điều chỉnh chủ yếu; QLNN mang tính tổ chức và kế hoạch; QLNN
mang tính liên tục.
QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng là một lĩnh vực trong QLNN nên nó có những
đặc trưng chung vốn có, ngoài ra nó có chủ thể, đối tượng quản lý riêng, có thể khái quát

như sau: QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng là quá trình các chủ thể QLNN xây dựng chính
sách, ban hành pháp luật và sử dụng công cụ pháp luật trong hoạt động QLNN nhằm đạt
được yêu cầu, mục đích bảo vệ rừng nhà nước đã đặt ra.
QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng có những đặc điểm sau:
Một là, rừng - đối tượng quản lý nhà nước đặc thù.
Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính quyết định trong việc bảo
vệ môi trường sinh thái toàn cầu. Rừng bao gồm các yếu tố thực vật, động vật, vi sinh vật,
đất rừng, các yếu tố này có quan hệ liên kết cùng tạo nên hoàn cảnh rừng đặc trưng.

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng là hoạt động đa dạng và phức tạp. Để
điều khiển, chỉ đạo các hành vi xã hội trong lĩnh vực này phải đặt trong mối quan hệ biện
chứng với cac lĩnh vực khác nhằm huy động sức mạnh vật chất của cộng đồng để đạt được
mục đích bảo vệ rừng của nhà nước trong quản lý nhà nước trong thời kỳ nhất định, quản
lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng có những nội dung cụ thể sau:
- Ban hành, tổ chức thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật về bảo vệ rừng;
- Tổ chức điều tra, xác định ranh giới các loại rừng trên bản đồ và trên thực địa;
- Thống kê, kiểm kê rừng theo định kỳ, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng;
- Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, tổ chức
đăng ký sở hữu, quyền sử dụng rừng;
- Tổ chức, quản lý các hoạt động bảo vệ hệ sinh thái rừng, bảo vệ thực vật rừng,
động vật rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật hại rừng và kinh doanh,
vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật
rừng, động vật rừng;
- Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ bảo vệ rừngtiên tiến, đào tạo nguồn
nhân lực cho bảo vệ rừng; hỗ trợ và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ rừng;
- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng;

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và kiểm soát
buôn bán quốc tế các loài động thực vật rừng;
- Bảo đảm các điều kiện vật chất và các cân đối khác cho hoạt động quản lý nhà
nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật trong quản lý nhà nước đối
với lĩnh vực bảo vệ rừng
1.1.2.1. Khái niệm
Theo học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, pháp luật là một hiện tượng
lịch sử vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển
trong xã hội có giai cấp, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, là công cụ để thực
hiện quyền lực nhà nước, nhằm duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị.
Cũng giống như bất kỳ một kiểu pháp luật nào trong lịch sử, pháp luật XHCN cũng

tính quy phạm, nó chứa đựng những quy tắc xử sự của con người, là khuôn mẫu được mọi
người làm theo, là tiêu chuẩn để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp trong công
tác bảo vệ rừng; các quy tắc xử sự trong bảo vệ rừng do các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn nên có tính bắt buộc chung thể hiện ý chí của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản
Việt Nam, là công cụ quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng; các quy
phạm pháp luật trong bảo vệ rừng do cơ quan QLNN ban hành có tính thống nhất nội tại
cao và có mối quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác.
Là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật bảo vệ rừng cũng có
đặc trưng riêng được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, pháp luật trong QLNN về lĩnh vực bảo vệ rừng do các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành, trong đó chủ yếu là các cơ quan QLNN về bảo vệ rừng ban
hành.

Pháp luật bảo vệ rừng là một bộ phận của hệ thống pháp luật nói chung nên các quy
phạm pháp luật này ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý
nhà nước về lĩnh vực bảo vệ rừng. Các quy phạm pháp luật này do các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành như Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội: Luật bảo vệ và phát
triển rừng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật hình sự do Quốc hội ban hành;
Nhưng các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực bảo vệ rừng khác chủ yếu do các cơ
quan quản lý nhà nước ban hành như Chính phủ, UBND các cấp, Bộ NN$PTNT để điều
chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực này.
Thứ hai, pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
- Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng
lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, mang quyền và nghĩa vụ nhất định
với một bên có nhiệm vụ phục tùng theo quy định của pháp luật hành chính.
Từ khái niệm đó, chúng ta có thể hiểu chủ thể của quan hệ pháp luật trong lĩnh vực
bảo vệ rừng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao quyền nhân danh nhà
nước tham gia vào quan hệ QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng với các tổ chức, cá nhân

Trong đó, mất rừng gây nên diễn thể suy thoái các kiểu thảm thực vật rừng, các loài
chim thú rừng mất nơi cư trú, số lượng quần thể suy giảm nghiêm trọng, các loài cây có
giá trị dưới tán rừng cũng mất theo, ảnh hưởng sâu sắc tới các điều kiện sinh thái và cảnh
quan của nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là tại các cửa sông, ven biển, các hệ sinh thái rừng
ngập mặn
Mất rừng, các vùng canh tác ven biển sẽ thường xuyên phải gánh chịu nạn cát bay;
thủy triều sẽ làm xói lở các vùng đất ven biển; mưa và gió sẽ làm xói mòn đất mặt
Những năm gần đây những trận lũ lịch sử diễn ra ở các vùng Tây Bắc, vùng ven biển miền
Trung và bão lớn ở Nam Bộ gây tác hại lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân các địa
phương này là những minh chứng của lịch sử về hậu quả tai hại của sự mất rừng.

Mất rừng còn kéo theo những mất mát vô giá mà hiện nay không thấy hết được. Đó
là các hệ sinh thái tối ưu và các nguồn gen mà thiên nhiên đã hoàn thành qua hàng chục
triệu năm phát triển và tiến hóa.
Với vai trò và tác dụng to lớn của rừng đối với môi trường sống nói chung và sự tồn
vong của loài người nói riêng cho thấy việc bảo vệ rừng cần thiết hơn bao giờ hết. Đòi hỏi
Nhà nước phải sử dụng đồng bộ các công cụ kế hoạch, chính sách, pháp luật và các công
cụ quản lý khác. Trong hệ thống các công cụ và biện pháp nhà nước sử dụng để quản lý
hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng thì pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất và
không thể thiếu được ở bất kỳ quốc gia nào.
1.1.2.3. Nội dung
Pháp luật bảo vệ rừng điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ rừng,
nhằm tạo ra cơ chế pháp lý để mở rộng dân chủ, bảo đảm cho cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà
nước cùng tham gia vào công tác bảo vệ rừng; đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp
pháp của họ đối với tài nguyên rừng. Chính vì mục đích đó pháp luật bảo vệ rừng có những
nội dung cơ bản sau:
Một là, pháp luật bảo vệ rừng quy định một hệ thống chính sách trong quản lý đối
với lĩnh vực bảo vệ rừng, biểu hiện cụ thể như sau:
- Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc bảo vệ rừng gắn liền, đồng bộ với các
chính sách kinh tế - xã hội khác, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ bản cơ sở hạ tầng, phát triển

rừng, trừ rừng đặc dụng.
- Được hưởng thành quản lao động, kết quản đầu tư trên diện tích được giao, cho
thuê; bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác.
- Được kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch
sinh thái - môi trường theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ rừng theo quy định
của Luật BV&PTR và các quy định khác của pháp luật có liên quan khi nhà nước có quyết
định thu hồi rừng.

- Được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước để bảo
vệ rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại.
- Được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối vói rừng được giao, cho
thuê.
Nghĩa vụ chung của chủ rừng:
- Bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững; sử dụng rừng đúng mục đích,
đúng ranh giới đã quy định trong quyết định giao, cho thuê rừng và theo quy chế quản lý
rừng.
- Tổ chức bảo vệ rừng theo quy hoạch, kế hoạch, dự án, phương án đã được phê
duyệt.
- Định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và
các hoạt động liên quan đến khu rừng cảu các cơ quan có trách nhiệm thống kê, kiểm kê
theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.
- Giao lại rừng khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn sử
dụng rừng.
- Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện quy định của Luật BV&PTR và các quy định khác của pháp luật; không làm
tổn hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan.
Bốn là, pháp luật bảo vệ rừng quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ rừng (được trình bày ở mục 1.2 ở chương 1 và mục 2.4 ở chương 2).
1.2. Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ rừng

và được tổ chức thống nhất từ trung ương tới địa phương; với hệ thống cơ quan QLNN có
thẩm quyền chung và cơ quan QLNN có thẩm quyền chuyên môn.
Hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chung trong lĩnh vực bảo vệ rừng bao gồm
Chính phủ và UBND các cấp. Chính phủ là cơ quan đứng đầu của hệ thống cơ quan hành
pháp, thống nhất quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc

phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước. Chính phủ có toàn quyền giải quyết, quyết định
những vấn đề liên quan tới hoạt động QLNN trên phạm vi toàn quốc trong quyền hạn của
mình, trong đó có lĩnh vực bảo vệ rừng; UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thông
qua hoạt động chấp hành - điều hành của mình thực hiện chức năng QLNN trên lĩnh vực
kinh tế, văn hoá, xã hội, hành chính - chính trị trong phạm vi địa phương, là cơ quan giúp
việc chính phủ trong việc QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng.
Hệ thống cơ quan quản lý chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ rừng bao gồm: Bộ
NN&PTNT, sở NN&PTNT, cục kiểm lâm.
Bộ NN&PTNT là cơ quan chỉ đạo chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ rừng, là cơ
quan chịu trách nhiệm trước chính phủ trong hoạt động QLBVR, đứng đầu là Bộ trưởng
Bộ NN&PTNT. ở địa phương có các Sở NN&PTNT, có các giám đốc và phó giám đốc sở
là người giúp việc cho Bộ trưởng Bộ NN&PTNT trong lĩnh vực bảo vệ rừng; bên cạnh đó
có một hệ thống chuyên trách phụ trách việc QLBVR, đó là lực lượng kiểm lâm, được coi
là lực lượng nòng cốt giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quản lý và bảo vệ rừng, cơ cấu tổ
chức được thể hiện như sau:
ở Trung ương: Cục Kiểm lâm trực thuộc Bộ NN&PTNT.
ở cấp tỉnh nơi có rừng: Chi cục Kiểm lâm trực thuộc UBND tỉnh.
ở cấp huyện: Hạt Kiểm lâm trực thuộc Chi cục Kiểm lâm.
ở các đầu mối giao thông quan trọng: Hạt Phúc Kiểm lâm sản trực thuộc Chi cục
Kiểm lâm.
Như vậy, pháp luật trong QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng có một vai trò quan
trọng trong việc quy định cơ cấu tổ chức của ngành Kiểm lâm, lực lượng này được tổ chức
thành hệ thống, đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và sự chỉ
đạo, kiểm tra của UBND các cấp. Cơ quan Kiểm lâm là một hình thức cơ quan nhà nước

định hoạt động của cơ quan QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước do Nhà nước
thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước thông qua hoạt động chấp

hành, điều hành. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước do
Hiến pháp, luật, pháp lệnh và nhiều văn bản dưới luật quy định. Mặt khác, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước do vị trí, tính chất của nó trong hệ
thống các cơ quan quyết định. Quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước là phương
tiện pháp lý cần thiết mà nhà nước quy định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.
Tóm lại, cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước,
trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong phạm vi
thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành và tham gia vào các
chức năng quản lý nhân danh quyền lực nhà nước [32, tr.179].
Cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa
phương.
Theo sự phân tích và trên cơ sở pháp luật quy định, tác giả trình bày khái quát về hệ
thống hoạt động của cơ quan QLNN (cơ quan hành chính) trong lĩnh vực bảo vệ rừng theo
cấp độ quản lý từ Trung ương đến địa phương ở Việt Nam hiện nay.
Cơ quan QLNN có thẩm quyền chung bao gồm Chính phủ và UBND các cấp.
Theo Điều 109 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) quy định: "Chính phủ là cơ
quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [32, tr.182].
Chính phủ là cơ quan đứng đầu hệ thống cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý
việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối
ngoại của Nhà nước; đảm bảo hiệu lực của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương,
đảm bảo việc thực thi Hiến pháp và pháp luật; đảm bảo việc phát huy quyền làm chủ của nhân
dân và ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Như vậy, Chính phủ có
toàn quyền giải quyết, quyết định các vấn đề liên quan tới hoạt động QLNN trên phạm vi toàn
quốc trong phạm vi quyền hạn của mình. Quyền hạn và nghĩa vụ của Chính phủ được quy
định trong Điều 115 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status