Báo cáo tốt nghiệp: “Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung” pot - Pdf 15


Báo cáo tốt nghiệp
“Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Đầu tư và
phát triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung” MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
I. Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản 8
II. Vai trò cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 10
1. Lịch sử ra đời hoạt động cho vay tiêu dùng 10
2. Nhu cầu cho vay tiêu dùng của dân cư và phân loại các khách hàng cá
nhân 11
2.1. Nhu cầu cho vay tiêu dùng của dân cư 11
2.2. Phân loại các khách hàng cá nhân 12
2.2.1 Phân theo mức thu nhập 12
2.2.2 Phân loại khách hàng theo công việc của họ 13
3. Sự cần thiết khách quan phải hình thành và phát triển hoạt động cho
vay tiêu dùng ở các ngân hàng thương mại 13

2.3 Thấu chi 24
2.4 Thẻ tín dụng 24
IV Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 24
V. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
thương mại 28
1. Quan niệm về mở rộng cho vay tiêu dùng 28
2. Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
thương mại 30
2.1. Nhóm nhân tố vĩ mô: 30
2.2. Nhóm nhân tố vi mô 32
CHƯƠNG II: MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH
QUANG TRUNG HÀ NỘI 34
I. Tổng quan về ngân hàng đầu tư và phát triển 34
1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng đầu tư và phát triển 34
II. Hoạt động kinh doanh cơ bản của chi nhánh BIDV Quang Trung 36
1.Tình hình hoạt động của chi nhánh quang Trung 36
2 Hoạt động và những kết quả thu được trong năm qua 37
2.1 Tổng tài sản của chi nhánh 38
2.2 Tình hình huy động vốn 38
2.3 Tín dụng 39
2.4 Chỉ tiêu dịch vụ 40
III. Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh Quang Trung 42
1 Quá trình phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh Quang
Trung 42
2 Quy trình tổng quát đối với hoạt động cho vay tiêu dùng 43
3. Điều kiện để có thể vay tại ngân hàng 44
4. Hạn mức vay 44
5. Lãi suất cho vay đối với tín dụng tiêu dùng 45
6. Về tài sản đảm bảo được quy định như sau 45

nhánh giao dịch ngày càng một phát triển 64
5. Nâng cao chất lượng thông tin về nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra các yếu
tố có liên quan tới cho vay tiêu dùng 65
6. Hoàn thiện công tác định giá trong cho vay có tài sản đảm bảo là nhà
đất 66
7. Tiếp tục phát huy tiềm lực công nghệ ngân hàng 67
8.Tăng cường đội ngũ cán bộ về cho vay tiêu dùng cả về số lượng và chất
lượng 68
9. Nâng cao năng lực cạnh tranh của chi nhánh BIDV Quang Trung trên
địa bàn thành phố trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng 70
III. Một số kiến nghị 70
1. Kiến nghị với chính phủ và các cơ quan bộ nghành có liên quan 70
2. Kiến nghị với ngân hàng nhà nước 72
DANH MỤC BẢNG Bảng số 1: Số liệu về huy động vốn của chi nhánh Quang Trung 38
Bảng số 2: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007 của chi nhánh Quang
Trung 41
Bảng số 3: Số liệu về cho vay tiêu dùng 3 năm của chi nhánh Quang Trung . 42
Bảng số 4: Số liệu về tỷ trọng cho vay tiêu dùng so với tổng dư nợ cho vay . 46
Bảng số 5: cơ cấu dư nợ tín dụng theo sản phẩm 47
Bảng số 6: Số liệu nợ quá hạn qua các năm 48
Bảng số 7: Số liệu về thu lãi cho vay tiêu dùng của chi nhánh Quang Trung . 49 LỜI NÓI ĐẦU

tiêu dùng có tác dụng nâng cao đời sống của người dân góp phần giảm thời gian qua
việc tiết kiệm để có thể mua được một món hàng có giá trị lớn. Bên cạnh đó loại
hình này còn giúp cho nền kinh tế giảm hình thức thanh toán bằng tiền mặt làm tăng
hệ số nhân tiền trong nền kinh tế. Mặt khác loại hình này đã định hướng được một
hướng đi chính xác cho hệ thống ngân hàng trong tương lai trong lĩnh vực kinh
doanh đầy triển vọng này.
Loại hình tín dụng cho vay tiêu dùng được phát triển rất mạnh mẽ ở các nước
phát triển và nó đã trở thành một nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng trong khi đó thì
loại hình này vừa mới được áp dụng tại Việt Nam trong những năm gần đây khi
cùng với sự phát triển của kinh tế do vậy chúng ta đặt ra là làm sao để loại hình này
có thể phát triển một cách mạnh mẽ nâng cao mức sống của người dân do đó với
kiến thức được học tại trường cùng với sự học hỏi tại ngân hàng BIDV Quang
Trung đã giúp cho em viết đề tài “Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân
hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung” và em mong muốn
rằng trong tương lai không xa thì nghiệp vụ này sẽ ngày càng phát triển và nó sẽ là
một nguồn thu cho ngân hàng, đồng thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền
vững.
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản
Như chúng ta đã biết ngay từ đầu thế kỉ XV những hình thức sơ khai của
ngân hàng bắt đầu xuất hiện ban đầu là những thương nhân thực hiện việc mua bán
hàng hóa từ nơi này tới nơi khác, đó là những nhu cầu đổi tiền để có thể mua và bán
của địa điểm mà chúng ta đang thực hiện việc buôn bán, tiếp sau đó là những kẻ cho
vay nặng lãi ra đời chúng thực hiện những khoản vay với các cá nhân, đối với vua
quan, đặc biệt là ngân hàng còn có thể cho vay để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của

với các cá nhân là chủ yếu
Tài trợ dự án: hình thức cho vay này đòi hỏi phải có vốn lớn, vì dự án thường
là những công trình thường đòi hỏi vốn lớn, ngân hàng thường huy động vốn
trung và dài hạn để tài trợ dự án
4) Bảo quản vật có giá: ngân hàng thường nắm giữ hộ khách hàng những vật có
giá trị lớn như vàng bạc đá quý các giấy tờ quan trọng
5) Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán : Ngân hàng muốn
có khách hàng họ cần phải biết lôi kéo khách hàng mà do vậy các ngân hàng
luôn tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng và đồng thời mở rộng ra các dịch
vụ mới trong đó có việc mở tài khoản thẻ cho cá nhân chính là hình thức lôi
kéo khách hàng về với ngân hàng của mình, bên cạnh việc mở tài khoản thẻ thì
ngân hàng cũng thực hiện luôn hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
6) Quản lý ngân quỹ : khi nói tới ngân quỹ là chúng ta nói tới quan hệ của ngân
hàng với các doanh nghiệp, ngân hàng thực hiện việc quản lý dòng tiền cho
các doanh nghiệp, hoạt động này giúp cho ngân hàng có thể có thêm được
nhiều các khách hàng và đồng thời ngân hàng sẽ có rất nhiều thông tin về các
doanh nghiệp 7) Tài trợ các hoạt động của chính phủ : chính phủ thường thực hiện các dự án
yêu cầu về nguồn vốn lớn, trong một lúc không thể giải ngân ra tất cả số tiền
như vậy được vì giải ngân sẽ gây ra tình trạng ngập tiền do vậy mà chính phủ
sẽ quyết định cho một ngân hàng nào đó giải ngân cho dự án cụ thể theo từng
thời kì và sau khi kết thúc dự án chính phủ sẽ hoàn trả
8) Bảo lãnh: là hình thức mà ngân hàng dựa vào uy tín của mình để bảo lãnh cho
các hoạt động của các doanh nghiệp nhằm tạo ra lòng tin cho các doanh nghiệp
cùng làm ăn buôn bán với họ
9) Cho thuê các thiết bị trung và dài hạn: các thiết bị máy móc mà doanh nghiệp
cần có thể có giá rất lớn doanh nghiệp không có khả năng mua hoặc là máy chỉ
có giá trị sử dụng trong thời gian ngắn và sau đó không còn dùng tới nữa như

của cuộc sống khi mà chính bản thân người tiêu dùng chưa có đủ điều kiện để có
thể sắm các tài sản này và hoạt động này cũng dựa trên nguyên tắc ngân hàng sẽ
cho cá nhân vay một khoản tiền và yêu cầu cá nhân trả đúng hạn cả vốn cả lãi cho
ngân hàng như đã thỏa thuận giữa hai bên. Qua đó chúng ta thấy được cho vay tiêu
dùng là hình thức mà ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng là cá nhân, người tiêu
dùng trong nền kinh tế. Nghiệp tín dụng cho vay tiêu dùng ở các nước phát triển đã
ra đời từ rất lâu và hiện tại bây giờ vẫn còn đang rất phát triển còn ở nước ta thì
mảng nghiệp vụ này mới dần được đưa vào hoạt động.
2. Nhu cầu cho vay tiêu dùng của dân cư và phân loại các khách hàng cá
nhân
2.1. Nhu cầu cho vay tiêu dùng của dân cư
Trong cuộc sống ngày nay khi mà nền kinh tế phát triển một cách chóng mặt,
đời sống của người dân được nâng cao nhanh chóng do vậy mà nhu cầu tự nhiên
của cá nhân con người ngày càng đa dạng và phong phú nhưng những nhu cầu đó
cũng gắn liền với những nhu cầu bức thiết mà bản thân con người cần phải có, trong
ngày nay thì cơm không phải là cơm để no bụng nữa mà phải là ngon miệng, áo
mặc thì cần phải đẹp, có thể sánh ngang cùng bạn bè… tuy nhiên bên cạnh đó thì
nhu cầu của mỗi cá nhân còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán của người đó sau
khi đã vay một khoản tiền, phụ thuộc vào đặc tính của mỗi cá nhân như là công việc làm ăn có mức thu nhập cao không, sở thích của người đó như thế nào( hình thành
thói quen sử dụng hàng hiệu thì mức chi cho tiêu dùng sẽ cao hơn rất nhiều.
Nhu cầu của con người là không giới hạn nhưng nó lại phụ thuộc vào khả năng
thanh toán của cá nhân. Ngay trong cuộc sống của chúng ta luôn luôn có những nhu
cầu và chúng ta chưa thể có khả năng có nó ngay tại thời điểm chúng ta muốn có
một cái gì đó. Chúng ta xét mỗi bản thân con người sẽ có các nguồn khác nhau như
là bố mẹ, bạn bè… nhưng những nguồn đó sẽ không giúp ta tự chủ được vấn đề do
vậy mà chúng ta sẽ lựa cho là đi vay tại các ngân hàng thương mại theo hình thức
vay tín dụng tiêu dùng để phục vụ cho các khoản tiêu dùng của cá nhân.

dùng, người làm ở công sở sẽ có nhu cầu khác những người làm ngoài công trường
như kĩ sư xây dựng sẽ có nhu cầu khác
- Những cá nhân có công việc làm ăn buôn bán, kinh doanh: họ có thu nhập
tương đối, thường là những cá nhân làm việc nhẹ nhàng
- Những người làm việc trong cơ quan nhà nước : họ là những người hưởng
lương từ ngân sách nhà nước
- Công nhân, nhân viên: là những người làm công ăn lương, làm việc trong
các cơ quan xí nghiệp
- Những người lao động tự do: là những cửu vạn, những người không có
công ăn việc làm cụ thể
Khi nghiên cứu về công việc của khách hàng là nghiên cứu về tình hình đời sống
của mỗi cá nhân, mỗi người làm mỗi công việc khác nhau sẽ có các mức thu nhập
khác nhau, khi đo ngân hàng nghiên cứu theo tiêu thức này thì sẽ có các chỉ tiêu để
đánh giá cá nhân và có thể cung cấp khoản tín dụng một cách hợp lí, tránh trường
hợp mất khả năng chi trả.
3. Sự cần thiết khách quan phải hình thành và phát triển hoạt động cho vay
tiêu dùng ở các ngân hàng thương mại
3.1. Nghiệp vụ cho tín dụng ra đời là tính tất yếu trong ngân hàng thương mại
Trong suốt những thế kỉ trước khi mà nguồn vốn của ngân hàng còn hạn chế
thì việc ngân hàng rất hạn chế trong việc cho vay các khoản nhỏ lẻ, vì hình thức này
thường mang tính rủi cao, ngân hàng không thu được nợ. Khi mà trong giai đoạn ngày nay rất nhiều ngân hàng thương mại ra đời việc cạnh tranh để có thể huy động
được vốn từ người dân rất khó khăn nên các ngân hàng phải có những biện pháp
khắc phục mà đặc biệt đó là thay đổi các loại hình dịch vụ trong đó có việc mở rộng
các khoản cho vay nhỏ lẻ nhằm thu hút các nguồn vốn huy động từ dân cư, và trực
tiếp cạnh tranh với các ngân hàng khác cũng như các tổ chức tài chính khác. Để có
thể nâng cao chất lượng cạnh tranh thì mỗi ngân hàng không chỉ phát huy ở những
nghiệp vụ truyền thống là nhận tiền gửi, mua bán ngoại tệ, … mà cần phát huy các

vay ngân hàng quá nhiều nữa,mặt khác so với các khoản vay của doanh nghiệp hay
là các hộ gia đình vay để buôn bán kinh doanh thì các món vay tiêu dùng của cá
nhân không thấm tháp vào đâu so với các khoản đó do vậy mà quy mô của từng
món vay là nhỏ. Số lượng vay là rất nhiều vì thực sự hoạt động này trực tiếp đi sâu
vào những cá nhân, các tầng lớp xã hội khác nhau do vậy mà số lượng người tới vay
sẽ rất nhiều, là cho số lượng các khoản vay là nhiều
3.2.2. Lãi suất trong hoạt động cho vay tiêu dùng thường cao hơn các hoạt động cho
vay để hoạt động kinh doanh
Các món vay để hoạt động sản xuất kinh doanh thường có lãi suất được thả
nổi, lãi suất là sự thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng sao cho cả hai bên cùng
có lợi và không bên nào phụ thuộc vào bên nào, và lãi suất thực tế sẽ dao động theo
lãi suất của thị trường và chịu sự tác động trực tiếp của thị trường trong nước và
ngoài nước. Bên cạnh đó thì lãi suất cho vay tiêu dùng thường được ấn định cụ thể
không phụ thuộc vào biến động lãi suất của thị trường , mặt khác thì các khoản vay
tiêu dùng được định kì trả cả lãi và gốc theo nhiều lần do vậy mà lãi suẫt cũng cần
biến động và ngân hàng cũng đã tính tới sự thay đổi của dòng tiền và cộng vào lãi
suất do đó mà lãi suất của các khoản cho vay tiêu dùng thường cao hơn các loại lãi
suất kinh doanh. Mặt khác do các khoản cho vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng
vẫn đòi hỏi phải có nguồn nhân lực để quản lí do vì thế nên để có thể mang lại
nguồn cho ngân hàng thì lãi suất của khoản cho vay nay phải cao hơn
3.2.3. Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao
Cho vay tiêu dùng là loại hình mang tính rủi ro cao nhất, vì thực tế loại hình
này cho vay không sinh lợi không có một dòng tiền được xác định chắc chắn sẽ có trong tương lai để thanh toán, do đó chỉ người khách hàng đó mất việc hay là nên
kinh tế bị suy thoái người đó sẽ không thể nào có tiền để thanh toán cho ngân hàng
do vậy mà loại hình này doanh nghiệp chấp nhận rủi ro rất cao.
Một cái nữa đó là cho vay tiêu dùng này còn phụ thuộc vào chu kì của phát
triển của nền kinh tế khi nền kinh tế phát triển thì cho vay tiêu dùng được mở rộng

dụng đáng giá( tất nhiên là những mơ ước đó luôn nằm trong giới hạn thanh toán
của mỗi chúng ta ) do cuộc sống của chúng ta đang ngày càng một đi lên. Tuy nhiên
đối với mỗi bạn sinh viên mới ra trường thì để có thể có được một khoản tiền kha
khá như là để mua một cái xe máy là rất khó nhưng trong một thời gian trong tương
lai chắc chắn họ sẽ mua được nhưng hiện tại bây giờ thì họ chưa có, vì vậy nếu xét
trên thực tế là họ cần phải tích trữ một khoảng thời gian thì mới có thể mua được,
và khi đã đủ tiền thì lợi ích của nó có thể đã giảm đi đáng kể vì thực tế lúc mới đi
làm cá nhân ta rất cần một phương tiện để đi lại, mà mãi tận mấy năm sau mới có
thể mua được. Như vậy mỗi chúng ta cần kết hợp giữa khả năng thanh toán trong
tương lai và nhu cầu của hiện tại. Do đó mà chúng ta cần đến ngân hàng để vay một
khoản tiền với một mức lãi suất nhất định để có mua sắm chiếc xe là phương tiện để
chúng ta đi làm như chúng ta đang đề cập. Thực tế cho thấy việc đi vay tiêu dùng là
phải chịu một khoản lãi suất cao nhưng đó cũng chỉ là chi phí đổi lại chúng ta có
ngay tài sản mà chúng ta mong muốn tại thời điểm hiện tại. Do đó có thể thấy lợi
ích của cho vay tiêu dùng đối với cá nhân trong nền kinh tế là rất lớn.
4.2. Đối với ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại chính là nhận tiền gửi của dân
cư hộ gia đình và các doanh nghiệp trong nền kinh tế, và tìm cũng tìm các phương
pháp để các nguồn tiền huy động được cho vay ra các hộ gia đình và các doanh
nghiệp, để làm được điều này thì ngân hàng phải khai thác triệt để các thị trường mà
mình có như cho vay doanh nghiệp cho vay hộ gia đình. Và bên cạnh đó cần chú ý
tới khách hàng là cá nhân vì đây mới là khách hàng cơ bản của ngân hàng, ngân
hàng có trở nên uy tín hay không thì đầu tiền là cần có những khách hàng là cá nhân
quảng bá. Do vậy mà ngân hàng cần quan tâm các khách hàng cá nhân mà đặc biệt
ở đây là mở rộng cho vay tiêu dùng lúc đó ngân hàng đã có thể phát triển thị trường. 4.3. Đối với nền kinh tế
Nền kinh tế có tăng trưởng ở mức cần thiết hay không đó là nhờ vào mức tiêu
dùng của cá nhân trong nền kinh tế, nền kinh tế có mức tiêu dùng càng lớn càng

Dùng trong một khoản thời gian, tức là trong thời hạn trả nợ của khách hàng
tài sản vẫn dùng tốt, lúc đó thái độ để khách hàng thanh toán cho khách hàng không
bị ảnh hưởng, do vậy khi cho khách hàng vay ngân hàng cần xem xét loại tài mà
khách hàng sẽ mua sau khi vay vốn, loại tài sản này khấu hao phải trong thời gian
lâu. Lúc đó người đi vay sẽ được hưởng lợi ích trong thời gian dài, và tránh được
tâm lí không còn tài sản mà vẫn phải thanh toán khoản nợ của tài sản đó, những lúc
đó ít nhiều cũng ảnh hưởng tới tâm lý trả nợ của khách hàng, và trực tiếp ảnh hưởng
đến thu nhập của ngân hàng.
Số tiền phải trả trước
Trong hình thức cho vay trả góp thì ngân hàng yêu cầu khách hàng phải
thanh toán cho ngân hàng một khoản tiền nhất định nhằm hạn chế rủi ro khi mà
khách hàng không thanh toán được cho ngân hàng trong tương lai. Số tiền trả trước
cho ngân hàng phải đủ lớn nhằm hạn chế rủi ro cao nhất cho ngân hàng. Số tiền mà
khách hàng trả trước cho ngân hàng cũng phần nào tạo ra tâm lí cho khách hàng là
họ đang sở hữu tài sản đó chứ không phải tài sản này là của ngân hàng hoàn toàn.
Đến lúc trường hợp xấu nhất là khách hàng không có đủ khả năng thanh toán lúc đó
ngân hàng có thể phát mại tài sản và bù vào phần tài sản đầu tiên.
Số tiền trả trước phụ thuộc vào tài sản mà ngân hàng cho vay
- Loại tài sản: đối với các loại tài sản có mức khấu hao nhanh độ giảm giá nhanh
thì số tiền yêu cầu số tiền phải trả trước là nhiều và ngược lại tài sản với mức khấu hao
chậm thì số tiền trả trước là tùy sử thỏa thuận nhưng không đòi hỏi ở mức cao.
- Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng: nếu tài sản sau khi sử dụng
vẫn còn có khả năng mua bán, trao đổi không bị mất giá là bao nhiêu thì số tiền phải
trả trước cho ngân hàng là thấp, ngược lại nếu tài sản sau khi dùng mà mua bán trao
đổi qua lại khó khăn thì số tiền phải trả trước cho ngân hàng là cao đề phòng độ rủi
ro cao - Năng lực tài chính của người đi vay: nếu là người có năng lực tài chính tốt,
có thu nhập cao, thì mức trả ban đầu cho khách hàng là tùy vào sự thỏa thuận của

tiên là số tiền vay nhân với lãi, đến kì sau số tiền vay ban đầu và cộng với số lãi của
kì đầu tiên.
1.2.2. Cho vay tiêu dùng phi trả góp
Phương thức cho vay này là phương thức số tiền sẽ được thanh toán một lần
khi đến hạn phải trả, khoản cho vay này thường áp dụng đối với các món vay nhỏ,
kì hạn ngắn dễ áp dụng phương pháp này.
1.2.3. Cho vay tiêu dùng tuần hoàn
Phương thức cho vay áp dụng đối với các khách hàng có sử dụng dịch vụ của
ngân hàng, các loại thẻ tín dụng có thể rút tiền tại ngân hàng. Trong một mức thỏa
thuận thì ngân hàng có thể sử dụng quá mức hạn mức cho phép. Theo phương pháp
này thì tín dụng cho vay tiêu dùng được thỏa thuận trước và trong một hạn mức, hết
hạn mức khách hàng phải thanh toán và sau đó tiếp tục sử dụng dịch vụ này
Lãi phải trả cho hình thức này được tính như sau:
Lãi được tính theo số dư nợ đã được điều chỉnh: số dư nợ là số dư nợ cuối
cùng của mỗi thang sau khi khách hàng đã thanh toán nợ cho ngân hàng
Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi điều chỉnh
Lãi được tính trên cơ sở dư nợ bình quân
1.3. Căn cứ vào nguồn gốc các khoản nợ
1.3.1. Cho vay tiêu dùng gián tiếp
Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do
những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng. Loại
hình này cũng có ưu điểm là ngân hàng dễ tăng doanh thu, tiết kiệm tối đa chi phí
của ngân hàng, đồng thời có thể mở rộng quan hệ với khách hàng thông qua các tổ
chức các công ty bán lẻ, trong trường hợp quan hệ tốt với những công ty bán lẻ tốt
thì có thể an toàn hơn đối với cho vay tín dụng gián tiếp, nhưng bên cạnh những
mặt ưu điểm đó nó cũng tồn tại những mặt hạn chế như là ngân hàng không trực
tiếp tiếp xúc với khách hàng đó là hạn chế lớn nhất, như vậy sẽ không trực tiếp thẩm định được khách hàng, thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ

Đây là khoản vay trực tiếp được ngân hàng thực hiện với khách hàng. Mà cụ
thể là ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng cho khách hàng vay cũng như là
trực tiếp thu nợ từ khách hàng, mỗi phương thức đều có mặt ưu điểm và mặt hạn chế
Xét mặt ưu điểm: ngân hàng có thể tận dụng tốt nguồn nhân lực của mình,
tận dụng những khả năng của từng cán bộ tín dụng trong một lĩnh vực nào đó, có
người thì quen với người này ở cơ quan này người khác thì lại quen đối tượng khác
tạo nên một thị trường rất rộng lớn. Đặc biệt là ngân hàng còn tận dụng được ưu
điểm, sở trường của từng cán bộ tín dụng đã được đào tạo có nhiều kinh nghiệm
trong lĩnh vực tín dụng vì vậy mà các quyết định tín dụng sẽ cảm thấy an toàn hơn,
các món vay sẽ có chất lượng hơn do vậy mà sẽ giảm rủi ro cho ngân hàng. Mặt
khác nó ưu điểm ở chỗ nửa đó là quan hệ tín dụng này sẽ không có người thứ 3 do
vậy mà giá cả sẽ phải chăng hơn, không phải chia sẻ cho các công ty bán lẻ một
khoản hoa hồng nào. Bên cạnh đó ngân hàng còn tạo ra cho khách hàng về một hình
ảnh đẹp trong con mắt của họ, và từ đó sẽ có được nhiều khách hàng hơn trong tương
lai, mặt khác mối quan hệ tốt đẹp này có thể tạo cho ngân hàng các khách hàng ruột,
lúc đó những khách hàng này có thể sẽ được nhận sự ưu đãi của ngân hàng.
Bên cạnh đó thì nó cũng có mặt hạn chế: đó là cho vay trực tiếp này là thứ
nhất ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn, và có thể bị mất toàn bộ vốn vay, mặt khác
mối quan hệ với khách hàng chắc chắn sẽ không nhiều bằng khi kết hợp với các
công ty bán lẻ
2. Các hình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp mà ngân hàng cung cấp
2.1. Giải ngân tiền vay trực tiếp cho khách hàng
Sau khi đã hoàn thành xong các thủ tục phân tích đánh giá hồ sơ khách hàng
của cán bộ tín dụng, và tiếp theo là công đoạn giải ngân vốn cho khách hàng. Số
tiền vay sẽ được khách hàng nhận trực tiếp tiền mặt từ ngân hàng theo một định
mức đã được thỏa thuận tùy vào hình thức kinh doanh, tùy vào công việc kinh
doanh mà ngân hàng sẽ cho vay theo hình thức nào. Và đến kì hạn thì yêu cầu
khách hàng phải hoàn trả xong cả vốn và lãi.
khách hàng để kiểm tra về tính chính xác cũng như là giá trị ngầm của khách hàng
qua vị trí địa lí hay là lợi thế cạnh tranh
- Hoặc là tìm kiếm các thông tin qua các đối tác đã từng làm việc với ngân
hàng cũng như đã từng làm việc với khách hàng để có được những thông tin quan
trọng, vì thực tế để tìm hiểu được một khách hàng trong thời gian ngắn không phải
là chuyện dễ. Vì vậy tìm hiểu bằng nhiều phương pháp sẽ giúp cho ngân hàng tiết
kiệm được thời gian cũng như là để giải ngân sớm cho khách hàng
- Ngân hàng có thể có được các thông tin thông qua các bản báo cáo mà
khách hàng đã gửi cho khách hàng. Ngân hàng yêu cầu khách hàng gửi cho ngân
hàng các bản báo cáo tài chính, bản cân đối kế toán, báo cáo ngân quỹ.
Phân tích và đánh giá khả năng cho vay
Đánh giá tài sản của khách hàng : thông qua các tài sản có của ngân hàng
được thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Đối với doanh nghiệp thì ngân hàng xem
tài sản qua bảng cân đối kế toán còn đối với cá nhân thì ngân hàng dựa trên tình
hình về lương hàng tháng và các khoản thu nhập khác. Các thông tin trên sẽ quyết
định khả năng giải ngân của ngân hàng vì ngân hàng đã có thể quản lí được tài sản
đảm bảo.
Ngân quỹ: bao gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt trong két, các khoản phải thu.
Ngân quỹ là một dạng tài sản của doanh nghiệp dùng để chi trả các khoản phát sinh
Các chứng khoán có giá: đây là các loại giấy tờ có giá, giúp cho doanh
nghiệp có tiền mặt khi cần
Hàng hóa tồn kho: đây là loại hàng hóa mà doanh nghiệp còn tồn trong kho
chưa bán được trong kì. Hàng tồn kho này có thể đó là một chiến lược dài hạn của
doanh nghiệp khi chưa vội bán ra hoặc là lượng hàng ứ đọng không bán ra được do
kém phẩm chất hay là thị trường tiêu thụ chậm. Ngân hàng cần đánh giá lại giá trị
của lượng hàng tồn kho để có các biện pháp đánh giá tài sản hợp lí
Tài sản cố định: Nhà cửa, tran thiết bị, các phương tiện vận tải

Trích đoạn Đẩy mạnh kế hoạch marketing của ngân hàng Tăng cường loại hình cho vay tín chấp với cán bộ công nhân viên Đẩy mạnh việc triển khai phương thức cho vay tiêu dùng trả góp tại ch Nâng cao chất lượng thông tin về nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra các yếu Tiếp tục phát huy tiềm lực công nghệ ngân hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status