Báo cáo tốt nghiệp: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Công thương Từ Sơn doc - Pdf 15



BÁO CÁO TỐT NGHIỆP Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân
hàng Công thương Từ Sơn MỤC LỤC

Lời mở đầu 1
Chương 1:Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng trung và dài hạn của
ngân hàng thương mại 9
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 9
1.1.1. Khái niệm,đặc điểm của ngân hàng thương mại 9
1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại. 10
1.2 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 17
1.2.1 Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 17

2.2.2.1 Nợ quá hạn, dư nợ quá hạn của tín dụng trung và dài hạn trong
các năm gần đây 49
2.2.2.2 Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi của Chi nhánh trong 3
năm gần đây. 51
2.2.3 Cơ cấu dư nợ quá hạn trung và dài hạn phân theo hình thức sở
hữu doanh nghiệp 53
2.3 Đánh giá hoạt động nâng cao tín dụng trung và dài hạn của Chi
nhánh NHCT Từ Sơn trong các năm gần đây. 55
2.3.1 Các kết quả đạt được 55
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 56
2.3.2.1 Hạn chế 56
2.3.2.2 Nguyên nhân của các hạn chế 57
Chương 3:Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại
Ngân Hàng Công Thương Từ Sơn 59
3.1 Định hướng phát triển của Ngân Hàng Công Thương Từ Sơn 59
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân
Hàng Công Thương Từ Sơn 62
3.2.1. Phải phù hợp với quan điểm phát triển tín dụng - ngân hàng
của Đảng 62 3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định 62
3.2.3. Nâng cao trình độ và phẩm chất cán bộ tín dụng 63
3.2.4. Nắm vững và theo dõi sát sao tình hình sử dụng vốn vay của
khách hàng 64
3.2.5. Đa dạng hoá loại hình cho vay trung và dài hạn 64
3.2.6. Đẩy mạnh công tác Marketing trong ngân hàng 65
3.2.7. Đẩy mạnh công tác huy động vốn trung và dài hạn 65
3.3 Kiến Nghị 66
3.3.1. Đối với Chính phủ 66
Lời mở đầu

Cùng với sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất
nước. Hệ thống ngân hàng nước ta đã có những bước tiến đáng kể trong hoạt
động của mình để đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế.
Từ những yêu cầu của hệ thống ngân hàng, nước ta đã có những đổi
mới căn bản về cơ cấu tổ chức cũng như công nghệ của ngân hàng. Nét nổi
bật của những đổi mới đó là sự phân chia thành hai cấp của hệ thống ngân
hàng, trong đó Ngân hàng Thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền
tệ và cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, còn Ngân hàng Nhà nước với
vai trò quản lý toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng Thương mại đã góp phần quan
trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Khi nền kinh tế càng phát triển mạnh
thì những đòi hỏi yêu cầu đặt ra với hệ thống ngân hàng ngày càng lớn, buộc
các ngân hàng phải không ngừng đổi mới và phát triển hơn nữa để đáp ứng và
thoả mãn những yêu cầu của nền kinh tế.Với nhận thức: để tồn tại và phát
triển vững mạnh trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt thì các
Ngân hàng Thương mại không còn cách nào khác là phải mở rộng hoạt động
kinh doanh cũng như không ngừng nâng cao chất lượng của những hoạt động
đó. Đối với ngành ngân hàng hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong đó, tín dụng trung và dài
hạn là nghiệp vụ quan trọng mang lại hiệu quả cao trong hoạt động tín dụng

hàng Công thương Từ Sơn.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn
tại Ngân hàng Công thương Từ Sơn.
Do kiến thức,thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên bài viết
chuyên đề này chắc chắn sẽ khó tránh khỏi những sai lầm thiếu sót.Em mong
rằng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp bổ ích từ các thầy giáo,cô giáo ,các bạn và những người quan tâm để chuyên đề này được bổ sung và hoàn chỉnh
hơn.
Chương 1:Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng trung và
dài hạn của ngân hàng thương mại

1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm,đặc điểm của ngân hàng thương mại
Khái niệm: Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng
đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thể
tham gia nói riêng. Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng quan niệm như thế
nào về một Ngân hàng, và sự phân biệt nó với các tổ chức phi Ngân hàng
không phải là điều đơn giản. Rõ ràng, có thể định nghĩa Ngân hàng thông qua
chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ
không chỉ chức năng của các Ngân hàng thay đổi, mà có sự “thâm nhập” vào
chức năng hoạt động Ngân hàng của các đối thủ cạnh tranh. Do đó tuỳ theo
đIều kiện của mỗi nước và sự phát triển của hệ thống tài chính nước đó mà có
những định nghĩa khác nhau về Ngân hàng.
Theo luật Ngân hàng của Pháp thì Ngân hàng được định nghĩa:”Ngân
hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận của

bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư,
Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác.
1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động chủ yếu của Ngân hàng
thương mại tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ nhận tiền gửi và cho vay, đó là
hai mặt hoạt động tín dụng. Trong xu thế hiện nay, các Ngân hàng thương mại
hoạt động theo loại hình đa năng thì hoạt động của nó tập trung vào ba hoạt
động chính: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn, hoạt động trung
gian.
Hoạt động huy động vốn đối với Ngân hàng đây là hoạt động “đầu
vào” của Ngân hàng. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu của một Ngân hàng được hình thành từ những nguồn chính sau đây: vốn tự có của doanh nghiệp, vốn
vay (vay của các tổ chức tài chính, vay của dân cư, vay của Ngân hàng trung
ương), lợi nhuận để lại, ngoài ra đối với một số Ngân hàng nguồn vốn hoạt
động có thể hình thành từ vốn đIều lệ hay vốn uỷ thác Trong quá trình hoạt
động của mình, Ngân hàng thương mại phần lớn dựa vào việc huy động các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Hoạt động nguyên thuỷ của Ngân hàng là nhận tiền gửi của khách
hàng và đây vẫn là nguồn đầu vào chủ yếu của Ngân hàng. Có nhiều yếu tố
ảnh hưởng tới quy mô tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng như: lãi suất,
phương thức huy động của Ngân hàng, tình hình kinh tế xã hội từng thời kỳ,
phong tục tập quán của từng vùng, uy tín của từng Ngân hàng, các dịch vụ do
Ngân hàng cung cấp vv. Nắm được yếu tố đó, Ngân hàng có thể đIều chỉnh
lượng vốn huy động sao cho phù hợp với nhu cầu vốn của mình.
Các loại tiền gửi mà Ngân hàng cung cấp để huy động vốn là: tiền gửi
thanh toán không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu tín dụng và đa dạng hoá hoạt động kinh
doanh, Ngân hàng có thể vay vốn từ dân cư , các đơn vị kinh tế, các tổ chức

khoán trên thị trường để thu lợi nhuận và một phần đảm bảo khả năng thanh
toán của Ngân hàng.
Hoạt động trung gian là việc Ngân hàng cung cấp cho khách hàng
một loạt các dịch vụ có liên quan. Ngân hàng sẽ nhận được một khoản thu
dưới hình thức hoa hồng. Công nghệ Ngân hàng càng phát triển thì hoạt động
này càng phong phú và doanh thu càng lớn. Các hoạt động tiêu biểu là:
chuyển tiền, thanh toán hộ khách hàng thông qua các hình thức ghi chép trên
tài khoản của khách hàng tại Ngân hàng, phát hành séc, uỷ nhiệm thu, uỷ
nhiệm chi, thư tín dụng, môi giới mua bán chứng khoán, quản lý hộ tài sản
cho khách hàng, tư vấn cho doanh nghiệp vv. Ngày nay, xu hướng của Ngân hàng là hoạt động đa năng trên nhiều
lĩnh vực với nhiều nghiệp vụ khác nhau. Các nghiệp vụ có quan hệ chặt chẽ,
hỗ trợ cho nhau nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận cao nhất.
Đồng thời ngân hàng còn là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho
công chúng và doanh nghiệp, thành công của ngân hàng sẽ phụ thuộc vào
năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu,thực hiện các
dịch vụ đó một cách có hiệu quả.
*Mua bán ngoại tệ:
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao
đổi (mua bán) ngoại tệ-một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy
loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.Trong thị trường tài chính ngày nay,mua
bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những
giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ
chuyên môn cao.
*Nhận tiền gửi:
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao,do đó các ngân hàng đã
tìm mọi cách để huy động đựoc tiền.Một trong những nguồn quan trọng là các
khoản tiền gửi(thanh toán và tiết kiệm của khách hàng).Ngân hàng mở dịch

thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành.
*Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi
các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chỉ
bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh
toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dung tiền mặt,tức là
người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi
trả cho khách( séc),khách hang mang đến ngân hàng sẽ nhận được tiền.Các
tiện ích của thanh toán không dung tiền mặt đã góp phần rút ngắn thời gian
kinh doanh và nâng cao thu nhập của các doanh nhân. Điều này đã khuyến
khích các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán
hộ. Như vậy,một dịch vụ mới,quan trọng nhất được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit)cho phép người gửi tiền viết sé thanh toán
cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này
được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiêph
ngân hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thong tin,nhiều thể thức
thanh toán được phát triển như: Uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng
điện, thẻ…
*Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần
lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối
lien hệ chặt chẽ với nhiều khách hang.Do có kinh nghiệm trong quản lí ngân
quỹ và có khả năng trong việc thu ngân,nhiều ngân hàng đã cung cấp cho
khách dịch vụ quản lí ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu
và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt
tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi
khách hang cần tiền mặt để thanh toán.
*Tài trợ các hoạt động của chính phủ: Khả năng huy động và cho
vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các
chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường cấp bách trong khi thu không

người kinh doanh chứng khoán.Trong một vài trường hợp các ngân hàng tổ
chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán.
*Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: các ngân hàng bán bảo hiểm cho
khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị
chết, bị tàn phế hoặc gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán.
*Cung cấp các dịch vụ đại lý: Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt
động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều
ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lí cho các ngân hàng khác như
thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ,…
1.2 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
1.2.1 Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
1.2.1.1. Khái niệm
Thuật ngữ tín dụng đang được sử dụng phổ biến hiện nay có xuất xứ
từ chữ La-tinh “creditum”, nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Trong thực tế, thuật
ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Ngay cả trong quan hệ tài
chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung
riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau:
Dưới góc độ chuyển dịch quỹ cho vay: Tín dụng được coi là phương
pháp chuyển dịch quỹ từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết
kiệm.
Theo chức năng hoạt động của ngân hàng: Tín dụng là một giao dịch
về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế
tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác).
Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng một thời

1.2.1.2. Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn
Thời hạn cho vay dài: Vì hoạt động tín dụng trung và dài hạn nhằm
đáp ứng nhu cầu vốn cố định của khách hàng để mua sắm máy móc, trang
thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
Vốn đầu tư lớn : Việc đầu tư được thực hiện bởi các dự án lớn và
những hoạt động mang tầm chiến lược của các doanh nghiệp nên tỷ trọng vốn
vay lớn gấp nhiều lần so với những khoản vay ngắn hạn.
Mức độ rủi ro cao: Vì thời gian thu nợ kéo dài nên trong khoảng thời
gian đó có thể xảy ra nhiều biến động về lạm phát, về quy chế, chính sách
pháp luật… Những biến động này sẽ làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, làm cho họ chưa trả được nợ hoặc không
trả được nợ cho ngân hàng dẫn tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn của
ngân hàng bị giảm sút. Lãi suất cao: Lãi suất cho vay, ngoài lãi suất cơ bản còn phụ thuộc
vào cấu trúc rủi ro và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Mức độ rủi ro cao, thời hạn
vay dài thì lãi suất sẽ cao. Như chúng ta thấy, chi phí huy động vốn trung và
dài hạn - nguồn vốn chủ yếu dùng để cho vay trung và dài hạn là rất lớn.
Trong tín dụng trung và dài hạn, rủi ro cao hơn bởi đây là hình thức
tài trợ dự án:
1.2.1.3.Vai trò của tín dụng trung và dài hạn
a) Đối với nền kinh tế.
Cung cấp vốn phục vụ sự phát triển kinh tế -xã hội Tín dụng trung và
dài hạn góp phần giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nền kinh tế về nhu cầu
vốn tiền tệ, nó thực hiện việc điều hoà vốn nhằm phục vụ sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Bên cạnh đó, tín dụng trung và dài hạn còn là đòn bẩy thúc
đẩy sản xuất và cơ cấu lại sản xuất trong nền kinh tế. Hoạt động tín dụng lành
mạnh, chính sách tín dụng đúng đắn sẽ góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định
tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và tăng uy tín quốc gia.

tính toán sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, hạn chế rủi ro ở mức thấp
nhất. Mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nếu không nói là hàng đầu mà
bất cứ một NHTM nào cũng muốn đạt được, đó là tối đa hoá lợi nhuận trong
phạm vi cho phép. Nếu phủ nhận lợi nhuận sẽ dẫn đến một hoạt động không
có hiệu quả. Với tư cách là hoạt động sinh lời chủ yếu thì việc nâng cao chất
lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng trung và dài hạn nói riêng sẽ
tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro xảy ra, kinh doanh càng lớn thì khả
năng thu lợi nhuận càng cao nhưng đồng thời với nó là khả năng gặp rủi ro
càng lớn.Trong hoạt động cho vay thì hình thức cho vay trung và dài hạn đặc
biệt được quan tâm, bởi nó đem lại lợi nhuận cao nhưng đi kèm lại là rủi ro
rất lớn. Khi đã có rủi ro xảy ra thì hậu quả rất nặng nề do những khoản vay
trung và dài hạn thường có giá trị lớn.
Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho tín dụng ngắn hạn phát
triển: Như chúng ta thấy, các dự án đầu tư của doanh nghiệp sẽ không thực
hiện được và trở nên vô nghĩa khi thiết bị, công nghệ lạc hậu, không được cải
tiến, đổi mới cho phù hợp. Vì vậy, nhờ có các khoản đầu tư trung và dài hạn –
nền tảng cho sự phát triển thì các doanh nghiệp mới yên tâm sử dụng các
khoản vay ngắn hạn của ngân hàng để sản xuất và kinh doanh. Do đó, tín
dụng trung và dài hạn chính là động lực từng bước thúc đẩy tín dụng ngắn hạn
phát triển.
c)Đối với khách hàng
Bên cạnh vai trò đối với ngân hàng và nền kinh tế thì tín dụng trung
và dài hạn còn có vai trò hết sức quan trọng đối với khách hàng.
Tạo điều kiện mở rộng quy mô, phát triển sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Sở dĩ như vậy, là do tín dụng trung và dài hạn rất phù hợp với điều

chất lượng đi đôi với hạ giá thành sản phẩm để đứng vững trong cạnh tranh.
Từ đó, người vay vốn sẽ phải sử dụng vốn vay một cách tiết kiệm nhất, hiệu
quả nhất để có thể trả được nợ vay ngân hàng và tái sản xuất mở rộng.
1.2.2. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển được, các doanh
nghiệp phải trả lời ba câu hỏi lớn đó là: sản xuất cái gi? Sản xuất cho ai? Và
sản xuất bằng cách nào? đây là ba vấn đề cơ bản mà các doanh nghiệp gặp
phải trong nền kinh tế thị trường. Để làm được đIều này các doanh nghiệp
phải quan tâm đến một yếu tố rất quan trọng đó là chất lượng của sản phẩm.
Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ trên thị
trường, những khoản cho vay cũng là một sản phẩm, nó cũng có giá cả và
chất lượng như những hàng hoá khác.
Chất lượng của một khoản tín dụng là : "Mức độ đáp ứng yêu cầu của
khách hàng (cả người vay lẫn người cho vay tiền), phù hợp với các điều kiện
kinh tế - xã hội và điều kiện đặc thù của bản thân ngân hàng, đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của ngân hàng “ Chất lượng cho vay được xem xét trên những góc độ:
- Đối với khách hàng: Đó là vay được tiền phù hợp với mục đích sử
dụng với các điều khoản về lãi suất, kỳ hạn nợ, thủ tục đơn giản, thuận tiện
đảm bảo thanh toán phù hợp với lợi ích của khách hàng và luật pháp hiện
hành nhằm đảm bảo khả năng duy trì và mở rộng sản xuất, tăng cường hiệu
quả sản xuất kinh doanh của khách hàng.
- Đối với Ngân hàng thương mại: cho vay cung cấp phù hợp với thực
lực tài chính và quản lý của Ngân hàng, phù hợp với chiến lược khách hàng,
phù hợp với nguyên tắc cho vay, chiến lược cạnh tranh và phát triển, đảm bảo
nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi với giá thành hợp lý, đảm bảo việc
tuân thủ pháp luật hiện hành và thực hiện vai trò của Ngân hàng trong nền

Đối với nền kinh tế:
Chỉ tiêu định tính được thể hiện ở khả năng đáp ứng vốn phù hợp với
nhu cầu phát triển của nền kinh tế, một khoản vay trung và dài hạn muốn có
chất lượng tốt thì phải đảm bảo được đầu tư đúng theo đường lối phát triển
kinh tế-xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.
Hơn nữa môi trường kinh tế phát triển, môi trường chính trị, pháp luật
ổn định… cũng chính là điều kiện tốt để nâng cao chất lượng tín dụng trung
và dài hạn bởi thời hạn cho vay trung và dài hạn thường rất dài và tiềm ẩn
nhiều rủi ro.
Đối với ngân hàng:
Tính định tính đối với ngân hàng thể hiện trước hết ở khả năng thu
hút khách hàng của ngân hàng. Một ngân hàng muốn thu hút được nhiều
khách hàng về phía mình thì phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm
ngân hàng mà đặc biệt là phải nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trung
và dài hạn. Bởi đây là hoạt động có nhiều khách hàng tiềm năng trong tương
lai. Vì vậy, khi lượng khách hàng ngày một tăng sẽ cho thấy chất lượng tín
dụng trung và dài hạn của ngân hàng ngày càng tốt.
Đối với khách hàng:
Chỉ tiêu định tính được thể hiện trước tiên ở khả năng đáp ứng nhu
cầu của khách hàng. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng
được coi là tốt khi nó đáp ứng được nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đúng
đắn của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi, từ đó tạo ra lợi nhuận
cho ngân hàng.
Đồng thời việc tôn trọng hợp đồng tín dụng của khách hàng vay vốn –
cơ sở pháp lý của ngân hàng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao
chất lượng các khoản vay trung và dài hạn. Bởi điều này cho thấy các quy
chế, thể lệ của ngân hàng đã được chấp hành nghiêm túc, từ đó tạo ra tính an


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status