BÁO CÁO TỐT NGHIỆP “Tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại
công ty tài chính dầu khí”
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN CHO DỰ ÁN
TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH 3
1.1. Công ty tài chính 3
1.1.1. Khái niệm và phân loại công ty tài chính 3
1.1.1.1 Khái niệm 3
1.1.1.2 Phân loại công ty tài chính 4
1.1.2. Các hoạt động của công ty tài chính 6
1.2. Hoạt động thu xếp vốn cho dự án của công ty tài chính 10
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động thu xếp vốn cho dự án 10
1.2.2 Nguồn vốn cho hoạt động thu xếp vốn cho dự án 13
1.2.3 Quy trình thu xếp vốn cho dự án 15
2.3.1 Kết quả đạt được 45
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 50
2.3.2.1 Hạn chế 50
2.3.2.2 Nguyên nhân 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU XẾP VỐN CHO DỰ ÁN CTTC
DẦU KHÍ 53
3.1 Chiến lược phát triển của CTTC dầu khí giai đoạn 2007 – 2015 và định
hướng đến năm 2025 53
3.1.1 Chiến lược phát triển của tổng công ty tài chính dầu khí Việt Nam đến
năm 2025 53
3.1.2 Nội dung chiến lược phát triển PVFC giai đoạn 2007 – 2015 và định
hướng đến năm 2025 56
3.1.3. Chiến lược khách hàng 59
3.1.3.1. Chiến lược về tổ chức và mạng lưới hoạt động 60
3.1.3.2. Chiến lược về con người 60
3.1.3.3. Chiến lược về công nghệ và quản lý 60
3.2 Giải pháp tăng cường hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại công ty tài chính
dầu khí 61
3.2.1 Nâng cao chât lượng nhân sự trong bộ phận thu xếp vốn 61
3.2.2 Tăng cường phối hợp giữa các tổ chức năng, phòng ban, các tổ chức tín dụng 633.2.3 Thiết lập hệ thống thông tin thẩm định dự án 65
3.2.4 Đẩy mạnh hoạt động Marketing 66
3.2.5 Đa dạng hóa các nguồn huy động thu xếp vốn dự án 68
3.3 Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền 68
3.3.1 Kiến nghị với tổng công ty tài chính dầu khí Việt Nam 68
3.3.2 Kiến nghị với chính phủ và nhà nước 69
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Bảng 2.1 : Một số chỉ tiêu tổng hợp
Bảng 2.2 : Dự kiến kế hoạch đầu tư tài chính giai đoạn 2007 – 2011
Bảng 2.3 :Dự kiến vốn huy động giai đoạn 2007 – 2011
Bảng 2.4 : Dự kiến hoạt động tín dụng giai đoạn 2007 – 2011
Bảng 2.5 : Một số dự án công ty thu xếp vốn trong 3 năm 2005,2006,2007.
Bảng 2.6 : Chỉ tiêu tài chính chủ yếu của dự án Tàu đa năng 2
Bảng 2.7 : Độ nhạy của dự án Tàu đa năng 2
Sơ đồ 2.1 : Quy trình tiếp nhận cho vay vốn ủy thác
Bảng 2.8 : Bảng phí thu xếp vốn
Bảng 2.9 : Độ nhạy của dự án Cảng đạm phú Mỹ
Biểu đồ 2.1 : Tổng giá trị thu xếp vốn (2003 – 2007)
Bảng 2.10 : Vốn điều lệ của PVFC
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện kinh tế Việt Nam đã, đang và chủ yếu trong tương lai là một
bộ phận của chiến lược kinh tế toàn cầu, đối với các nhà kinh tế - đặc biệt là các nhà
kinh tế trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng không thể không nghiên cứu, nhận thức
và vận dụng các vấn đề về vốn, các hình thức tạo vốn, thị trường vốn trong các nền
kinh tế thị trường vào thực tiễn Việt Nam để trên cơ sở đó xác lập một chiến lược
huy động vốn qua hệ thống CTTC nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn cho sự nghiệp phát
triển của đất nước.
Là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, Công ty tài chính Dầu khí thành viên
100% vốn của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam ra đời với phương châm hoạt động.
Vì sự phát triển vững mạnh của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Thành lập Công ty Tài
chính Dầu khí là một dấu mốc quan trọng, một tầm nhìn mới trong chiến lược phát
triển của ngành năng lượng Dầu khí và hướng tăng trưởng vững bền nền kinh tế
Việt Nam trong thế kỷ 21. Năm 2000, Cty tài chính Dầu khí (PVFC) là thành viên
1.1.1. Khái niệm và phân loại công ty tài chính
1.1.1.1 Khái niệm
Trên cơ sở các nghiệp vụ và quy định về loại hình tổ chức của Công ty tài
chính mà đưa ra khái niệm CTTC.
Ở Pháp, Công ty tài chính là các định chế tài chính sử dụng chủ yếu các nguồn
vốn vay thông qua các hợp đồng trên thị trường tiền tệ để cho vay.
Ở Đức, Công ty tài chính được định nghĩa là những doanh nghiệp không phải
là tổ chức tín dụng và hoạt động chủ yếu trên các lĩnh vực
- Mua những phần hùn vốn
- Mua lại những khoản tài sản Có phải đòi
- Ký kết những hợp đồng thuê bao
- Phát hành hoặc trao đổi các phương tiện thanh toán nước ngoài phục vụ
chính bản thân mình hoặc theo sự ủy nhiệm của khách hàng.
- Giao dịch các hợp đồng thời hạn, các quyền lựa chọn, các công cụ lãi suất
hoặc tỷ giá hối đoái phục vụ chính bản thân hoặc của khách hàng
- Tham gia vào các hoạt động phát hành chứng khoán và cung ứng những hoạt
động dịch vụ liên quan
- Tư vấn cho các doanh nghiệp về cơ cấu, về chiến lược công nghiệp và những
vấn đề liên quan cũng như việc tư vấn cho các doanh nghiệp trong việc hợp nhất
hoặc sáp nhập các doanh nghiệp và cung ứng các hoạt động dịch vụ phục vụ cho
các nghiệp vụ này
- Mô giới những khoản cho vay dài hạn giữa các tổ chức tín dụng
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
4
- Điều hành những tài sản được đầu tư vào chứng khoán hay các công cụ tài
chính phục vụ khách hàng hoặc tư vấn cho khách hàng trong việc đầu tư vốn vào
những tài sản này
Các nước theo hệ thống ngân hàng của Anh: Công ty tài chính là một loại
động sau: Tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư để cung ứng cho các thành viên trong tập
đoàn; quản lý và đầu tư các nguồn vốn chưa sử dụng trong tập đoàn; quản lý các
khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, điều hòa vốn giữa các thành viên; làm đầu mối tư vấn
cho tập đoàn; các công ty thành viên trong quan hệ với các ngân hàng; các đối tác
đầu tư; quản lý và áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro tài chính; cung cấp các
dịch vụ tư vấn tài chính cho các khách hàng bên ngoài…
* Căn cứ vào các hoạt động kinh doanh: CTTC được chia thành 3 loại:
- Các CTTC bán hàng: Do các công ty sản xuất và bán hàng làm chủ sở hữu
và thực hiện các khoản cho vay tài trợ cho khách hàng mua các sản phẩm, hàng hóa
dịch vụ của chính công ty.
- Các CTTC tiêu dùng: Thực hiện các khoản cho vay cho khách hàng mua các
loại hàng hóa cụ thể. Các CTTC tiêu dùng là các doanh nghiệp riêng biệt hay do các
ngân hàng là chủ sở hữu (VD: Citicorp, owns person – to – Person, Finance company,
hoạt động khắp các nước trên thế giới). Thông thường, các công ty này cho các khách
hàng không có khả năng vay từ các nguồn khác và định lãi suất cao hơn.
- Các công ty tài chính doanh nghiệp: Cung cấp các hình thức tín dụng chuyên
biệt cho các doanh nghiệp bằng cách thực hiện các khoản cho vay và tài khoản mua
bán (hóa đơn thanh toán thuộc về công ty khách hàng) với chiết khấu: Dạng tín
dụng này còn được gọi là factoring. VD: một xí nghiệp may mặc có hóa đơn chưa
thanh toán từ các cửa hàng bán lẻ đã mua hàng từ xí nghiệp với giá trị 100.000$.
Nếu xí nghiệp này cần tiền mặt ngay để mua trang thiết bị, họ có thể bán tài khoản
thanh toán này cho CTTC với giá ví dụ là 90.000$ và giao quyền thu lại số nợ
100.000$ cho CTTC. Ngoài nghiệp vụ factoring, CTTC doanh nghiệp còn chuyên
môn hóa vào cho thuê trang thiết bị máy móc (ví dụ: ô tô, xe tải, toa hàng, máy bay,
tàu thủy, máy tính…) mà họ mua về và cho các doanh nghiệp vay trong một khoảng
thời gian nào đó.
* Căn cứ vào quan hệ sở hữu: Đây là phương pháp phân loại các Công ty tài
chính theo pháp luật của Việt Nam.
Chuyên đề tốt nghiệp
viên trong tập đoàn, quản lý và cung ứng tiền mặt cho các công ty thành viên, quản
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
7
lý và tiến hành đầu tư các khoản tiền, vốn chưa sử dụng đến trong tập đoàn, làm đầu
mối và tư vấn cho các công ty thành viên trong quan hệ với ngân hàng, các đối tác
đầu tư, quản lý và áp dụng những biện pháp giảm thiểu rủi ro tài chính trong toàn
tập đoàn. Các rủi ro này bao gồm: Rủi ro tín dụng, lãi suất, thời kỳ đáo hạn, hối
đoái, và các rủi ro về mất cân đối giữa tài sản Có và tài sản Nợ.
Bên cạnh việc quản lý tài chính trong nội bộ tập đoàn, ở một số tập đoàn lớn,
các Công ty tài chính còn cung cấp tài chính cho những khách hàng bên ngoài nếu
họ muốn mua hàng của tập đoàn hay các công ty thành viên khác.
Thậm chí một số công ty trong tập đoàn còn hoạt động giống như Công ty tài
chính độc lập đối với những khách hàng bên ngoài tập đoàn như cho vay, bảo lãnh,
tư vấn cả khi khách hàng này không có quan hệ gì với tập đoàn. Thường đây là
Công ty tài chính trong một tập đoàn lớn với mức vốn tự có lên đến hàng trăm, hàng
ngàn triệu USD, có tầm cỡ hoạt động quốc tế. VD như GE Capital và ABS Finance.
Các công ty này đã phát triển mạnh thành những định chế tài chính lớn cung cấp
hàng loạt sản phẩm từ thuê mua tài chính, tài trợ XMC đến bảo hiểm. Các công ty
này cũng đầu tư vào các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến
hoạt động của tập đoàn và các công ty thành viên khác.
Ở Việt Nam, hoạt động của Công ty tài chính còn rất hạn hẹp. Thông thường,
hoạt động chủ yếu của Công ty tài chính là tài trợ cho các dự án dưới hình thức đầu tư
hoặc cho vay trung và dài hạn, ngoài ra còn thực hiện một số nghiệp vụ khác như: Cho
thuê tài chính, cho thuê vận hành, mua bán chuyển nhượng chứng khoán, bảo lãnh…
Nhưng các Công ty tài chính hiện nay ở Việt Nam chủ yếu cho vay ngắn hạn.
Song nhìn chung lại, hoạt động vủa Công ty tài chính bao gồm các hoạt động
cơ bản sau:
* Hoạt động huy động vốn: Đây là hoạt động khởi đầu của các hoạt động khác
phát hành trái phiếu, nó không bị ràng buộc về dự trữ, lãi suất số lượng do ngân
hàng nhà nước quy định do nó không phải là một tổ chức tín dụng.
* Hoạt động cho vay:
Sau khi huy động được vốn, để bù đắp chi phí huy động vốn và có lợi nhuận
thì Công ty tài chính phải tìm cách sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn này để thu
lãi. Đây là hoạt động chủ yếu và đem lại tỷ trọng thu nhập lớn nhất cho Công ty tài
chính. Các phương thức cho vay của Công ty tài chính được phân loại thành:
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
9
- Căn cứ vào thể thức cho vay, hoạt động cho vay gồm:
+ Tín dụng ứng trước: Được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó
khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp) được sử dụng một mức cho vay trong một thời
hạn nhất định,
+ Thấu chi (tín dụng hạn mức): Là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt
thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư
nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định.
+ Chiết khấu thương phiếu: Người cung cấp hàng hóa, dịch vụ lập ra các
thương phiếu thể hiện cố hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp và chuyển nhượng quyền
sở hữu thương phiếu cho Công ty tài chính để được thanh toán trước hạn số tiền
bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí, Công ty tài
chính chịu trách nhiệm thu tiền ở người mua hàng khi đến hạn.
- Căn cứ vào đối tượng cho vay, hoạt động này bao gồm:
+ Cho vay để kinh doanh: Là hình thức cho vay theo ngành công nghiệp,
thương mại, dịch vụ, nông nghiệp…
+ Cho người tiêu dùng vay để mua vật dụng như: Xe hơi, các sản phẩm lâu
bền (mua nhà, mua thẻ tín dụng…)
+ Cho các tổ chức tín dụng vay: Đối với các Công ty tài chính thuộc tập đoàn
kinh doanh và các công ty thành viên vay.
tư cách là trung gian giữa bên vay và bên cho vay nhằm đáp ứng đầy đủ và kịp thời
nhu cầu vốn vay của dự án. Khách hàng của thu xếp vốn là chủ đầu tư dự án, bao
gồm tổng công ty, các đơn vị thành viên trong tổng công ty, các dơn vị khác cụng
ngành kinh tế kỹ thuật và các ngành khác”.
Một số đặc điểm TXV:
Hoạt động thu xếp vốn mang tính trung gian: . CTTC là cầu nối giữa khách
hàng và các cá nhân, tổ chức kinh tế (chủ yếu là các tổ chức tín dụng khác) để đáp
ứng một lượng vốn nhất định theo nhu cầu của khách hàng. CTTC đứng ra thực
hiện một tập hợp các nghiệp vụ nhằm thu xếp vốn một khoản vốn tín dụng cho
khách hàng bằng cách đưa ra các phương án tài trợ dự án để chủ đầu tư có thể lựa
chọnVới cùng một yêu cầu đặt ra là phải có một lượng vốn tín dụng cho dự án, nếu
đứng trên góc độ của chủ đầu tư thì đó là hình thức huy động vốn, còn đứng trên
góc độ của CTTC thì đó được xem là một hoạt động thu xếp vốn cho khách hàng,
tức là CTTC được khách hàng ủy quyền đại diện, thay mặt khách hàng làm việc với
các TCTD khác để thu xếp khoản vốn theo yêu cầu. Như vậy, hoạt động thu xếp
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
11
vốn đã trở thành một kênh cung cấp hàng hóa cho các NHTM, giúp cho thị trường
tài chính được mở rộng, bao trùm được nhu cầu vốn của xã hội, và vận hành có hiệu
quả hơn.
Hoạt động thu xếp vốn mang tính “tín dụng”: CTTC tìm kiếm một khoản
vốn vay cho chủ đầu tư dự án chứ không phải là một hoạt động đầu tư. Tính tín
dụng còn được thể hiện rõ ràng hơn trong trường hợp CTTC thu xếp vốn tín dụng
cho dự án bằng nguồn vốn của mình. Khi đó, quan hệ giữa CTTC và chủ đầu tư dự
án là quan hệ vay mượn trực tiếp (các nguồn vốn mà CTTC tìm kiếm để thu xếp
vốn cho khách hàng sẽ được trình bày ở phần sau)
Hoạt động thu xếp vốn là một loại hình dịch vụ tài chính: Thu nhập của
việc cung cấp loại hình dịch vụ này được tính bằng phí. Thu nhập của hoạt động
12
Hoạt động thu xếp vốn có đối tượng là các dự án trung và dài hạn có mức
độ rủi ro cao: Các dự án thường có tổng số vốn đầu tư ban đầu là rất lớn nên một tổ
chức tín dụng không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn của dự án mà cần có một trung
gian đứng ra dàn xếp số vốn đó cho khách hàng từ nhiều nguồn khác nhau, đồng
thời đây cũng là biện pháp giảm thiểu rủi ro cho các nhà tài trợ thông qua việc đa
dàng hóa các nguồn tài trợ. Ngược lại, hoạt động thu xếp vốn không thích hợp với
các khoản vay ngắn hạn vì (1) Những khoản vay này thường dùng để tài trợ cho tài
sản lưu động, nhu cầu vay vốn không lớn và khả năng của một tổ chức tín dụng
hoàn toàn có thể đáp ứng mà không vi phạm các quy định uủa pháp luật về đảm bảo
tỷ lệ an toàn tối thiểu, (2)Hoạt động thu xếp vốn vần nhiều thời gian để tiến hành
giao dịch, thu xếp các khoản vay, thẩm định và quản lý khoản vay, do đó không
thích hợp cho những khoản vay có thời hạn dưới 1 năm.
Hoạt động thu xếp vốn đòi hỏi các dịch vụ tư vấn tài chính đi kèm: Bên
cạnh việc được CTTC thu xếp đủ vốn và kịp thời, chủ đầu tư còn được tư vấn về
các phương án tài trợ vốn tín dụng sao cho lãi suất là cạnh tranh, giảm thiểu chi phí
trả cho khoản vay, thuận tiện và nâng cao hiệu quả dự án đầu tư. Chức năng tư vấn
của hoạt động thu xếp vốn còn được thể hiện ở chỗ CTTC có trách nhiệm đến cùng
đối với dự án thông qua việc hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả đối với các vấn đề phát
sinh trong quá trình giải ngân cho dự án; đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý
khoản vay (chịu trách nhiệm về các giao dịch thu gốc, thu lãi) và sử dụng hiệu quả
các nguồn vốn; dàn xếp thuê mua tài chính…
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
13
1.2.2 Nguồn vốn cho hoạt động thu xếp vốn cho dự án
Sơ đồ 1.1: Nguồn vốn cho hoạt động thu xếp vốn
CTTC – Đầu mối thu xếp vốn
Nguồn vốn
từ các tổ
chức tín
dụng trong
và ngoài
nước (3)
Nguồn gốc
ủy thác cho
vay của
các cá nhân,
tổ chức
(2)
Nguồn
vốn tự
có của
CTTC
(1)
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
14
Đối với các TCTD, đây là nghiệp vụ để họ có thể giải quyết vấn đề hạn mức
tín dụng khi cho vay. Nhờ nghiệp vụ ủy thác cho vay, không những CTTC có thể
huy động được lượng vốn lớn với thời hạn dài cho các dự án, mà các NHTM cũng
có thể tiếp tục cho vay những dự án tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao thông qua
CTTC. Đồng thời, đây cũng là một kênh để các NHTM tiếp cận được với dự án
ngành, đòi hỏi phải có sự am hiểu nhất định về ngành khi thẩm định dự án cho vay.
Ngoài ra, CTTC thường nhận vốn ủy thác cho vay từ chính phủ, tổng công ty
và các đơn vị thành viên để cho vay dự án. Như thế, CTTC có thể thực hiện được
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ đề nghị thu xếp vốn của khách hàng. Bộ hồ sơ thu
xếp vốn bao gồm: Giấy đề nghị thu xếp vốn; hồ sơ pháp lý; hồ sơ kinh tế (chứng
minh khả năng tài chính của chủ đầu tư); hồ sơ dự án; hồ sơ về đảm bảo tiền vay
(nếu vay có đảm bảo tài sản)
Trong trường hợp có lí do để từ chối thu xếp vốn, CTTC phải thông báo với
khách hàng dưới hình thức công văn chính thức hoặc từ chối miệng.
Bước 2: Thu thập thông tin, đánh giá khách hàng và thẩm định dự án.
1.Tiếp nhận hồ sơ đề nghị thu xếp vốn của khách
hàng hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ
2.Thu thập thông tin, đánh giá khách hàng,
và thẩm định dự án
3. Lập phương án thu xếp vốn
4.Ký kết hợp đồng thu xếp vốn, và các hợp đồng
liên quan khác (hợp đồng đồng tài trợ, hợp đồng ủy
thác cho vay, hợp đồng tín dụng…)
5. Thực hiện hợp đồng, theo dõi
và thu phí thu xếp vốn
6. Thanh lý các hợp đồng, kết thúc và lưu hồ sơ
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
16
Ngay sau khi nhận được đủ hồ sơ đề nghị thu xếp vốn của khách hàng, cán bộ
thu xếp vốn tiến hành thẩm định và lập báo cáo thẩm định trình lãnh đạo phòng
nghiệp vụ.
Trong báo cáo thẩm định, cán bộ thu xếp vốn đề xuất việc có hay không thực
hiện dịch vụ thu xếp vốn cho khách hàng (có nêu rõ lý do). Lãnh đạo phòng nghiệp
vụ có trách nhiệm xem xét báo cáo thẩm định và quyết định việc kết thúc giao dịch
thu xếp vốn hoặc tiếp tục lập phương án thu xếp vốn.
- Khái niệm: Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là trường hợp đặc biệt của lãi suất chiết
khấu ở đó NPV bằng không
- Ý nghĩa: IRR được xác định dựa trên giả định các dòng tiền thu được trong
các năm được tái đầu tư với lãi suất bằng lãi suất chiết khấu. Tuy nhiên nhược điểm
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hồng Yến Lớp Tài chính Doanh nghiệp 46A
17
của chỉ tiêu này là lãi suất chiết khấu sẽ thay đổi trong các năm, thể hiện chi phí cơ
hội của chủ đầu tư trong từng năm sẽ thay đổi.
3. Chỉ số doanh lợi (PI)
- Khái niệm: Chỉ số doanh lợi (Profit index) là chỉ số phản ánh khả năng sinh
lợi của dự án, tính bằng tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chi
cho vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.
- Công thức:
0
1
)1(
CF
k
CF
PI
n
i
i
- Ý nghĩa: PI cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ tạo bao nhiêu đồng thu
kết tài trợ (trường hợp có sử dụng nguồn khác ngoài nguồn của CTTC cho vay trực
tiếp), cán bộ tín dụng có trách nhiệm lập ít nhất một phương án thu xếp vốn dự phòng.
Bước 4: Ký hợp đồng thu xếp vốn. Sau khi có văn bản cam kết hợp tác tài trợ
vốn tín dụng dự án từ phía các cá nhân, tổ chức kinh tế; đông thời phương án thu
xếp vốn mà CTTC đưa ra được khách hàng chấp nhận. CTTC và chủ đầu tư sẽ ký
kết hợp đồng thu xếp vốn.
Bước 5: Thu phí thu xếp vốn. Trên cơ sở các hợp đồng đã ký kết và các giấy
tờ liên quan (Khế ước nhận nợ của bên vay…), phòng nghiệp vụ sẽ theo dõi quá
trình giải ngân để làm cơ sở tính phí và thông báo thu phí cho khách hàngBước 6:
Thanh lý hợp đồng. Sau khi CTTC và khách hàng thực hiện thanh lý hợp đồng, cán
bộ thu xếp vốn chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan vào kho lưu trữ tài liệu theo quy
định hiện hành.
1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá hoat động thu xếp vốn cho dự án
1.2.4.1 Các chỉ tiêu định lượng
Mặt lượng của hoạt động thu xếp vốn được đánh giá dựa trên những tiêu chí sau:
- Tổng giá trị vốn được thu xếp
- Số lượng dự án được thu xếp vốn được thực hiện tại CTTC, bao gồm cả số
dự án trong ngành và số dự án ngoài ngành.
- Tỷ trọng tru nhập do hoạt động thu xếp vốn mang lại trong tổng số thu nhập
của CTTC
Các tiêu chí nói trên được xác định căn cứ vào kế hoạch của từng CTTC.
Tăng cường hoạt động thu xếp vốn nghĩa là các tiêu chí số lượng nói trên đạt được
kế hoạch đề ra hàng năm và tăng theo thời gian.