Báo cáo tốt nghiệp: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam - Pdf 15


1
Báo cáo tốt nghiệp
Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng
Ngoại thương Việt nam

2
Mục lục
Giải pháp phát triển hoạt động TTQT tại
Ngân hàng Ngoại thương Việt nam
Lời mở đầu
Chương 1. Lí luận chung về TTQT
1.1. TTQT và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân
1.1.1. Sự hình thành của hoạt động TTQT.
1.1.2. Khái niệm TTQT.
1.1.3. Vai trò của TTQT.
1.1.3.1. Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung.
1.1.3.2. Đối với hoạt động inh doanh của ngân hàng.
1.1.3.3. Đối với các nhà xuất nhập khẩu.

dụng chứng từ.
2.2.1.1. Thị phần thanh toán xuất khẩu qua NHNTVN.
2.2.1.2. Tỷ trọng của phương thức tín dụng chứng từ và các phương
thức khác.
2.2.1.3. Tình hình các thị trường NHNTVN tham gia thanh toán xuất
khẩu bằng L/C.
2.3. Đánh giá về tình hình hoạt động thanh toán quốc tế của
Ngân hàng Ngoại thương trongnhững năm qua.
Chương 3. Một số giải phấp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt
động thanh toán quốc tế tại NHNTVN.
3.1. Mục tiêu và phương hướng hoàn thiện hoạt động thanh toán
xuất khẩu.
3.1.1. Các giải pháp vi mô.
3.1.1.1. ứng dụng Marketing trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
3.1.1.2. Giải pháp an toàn trong hoạt động TTQT.
3.1.1.3.Thực hiện tốt công tác quản trị điều hành.
3.1.1.4. Không ngừng nâng cao trình độ của các cán bộ TTQT.
3.1.1.5 Đa dạng hoá các dịch vụ kinh tế đối ngoại.

4
3.1.2. Các giải pháp vĩ mô
3.1.2.1 Hoàn thiện chính sách kinh tế của nhà nước và tạo môi
trường pháp lý cho hoạt động TTQT.
3.1.2.2. Cải thiện cán cân TTQT
3.1.2.3. Hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
3.1.2.4 Cũng cố và phát triển quan hệ đại lí với các ngân hàng nước
ngoài
3.1.2.5 Hiện đại hoá công nghệ thanh toán của hệ thống ngân hàng
3.2 Một số kiến nghị
3.2.1 Kiến nghị đối với ngân hàng Ngoai Thương Việt nam

đối ngoại của Việt nam trong những năm qua đã gặt hái được những thành
công đáng kể,phát huy được lợi thế so sánh,tận dụng hiệu quả nguồn lực
bên ngoài góp phần vào sự phát triển của đất nước.
Cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu thương mại cũng như
sự phát triển của nền kinh tế Việt nam trong những năm qua,hoạt động
thanh toán quốc tế đóng vai trò quan trọng,góp phần thúc đẩy ngoại thương
phát triển.Từ đó đẩy mạnh sự hợp tác giữa các nước với nhau trên nhiều
lĩnh vực, góp phần tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, phục vụ quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngân hàng Ngoại thương Việt nam với tư cách là một trong những
ngân hàng lớn nhất có vai trò quan trọng trong thực hiện thanh toán quốc
tế, cần tiếp tục nâng cao nghiệp vụ, công nghệ ngân hàng để hoà nhập cộng
đồng tài chính quốc tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày một đa dạng, mở
rộng trên phạm vi toàn thế giới đồng thời Ngân hàng Ngoại thương Việt
nam cũng đang đứng trước sự canh tranh gay gắt với hệ thống các ngân
hàng nước ngoài tại Việt nam và các ngân hàng thương mại khác, do vậy
việc nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế là hết sức cấp bách và
thường xuyên.

6
Sau thời gian thực tập tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam, trên cơ
sở những kiến thức đã học ở trường và qua nghiên cứu ở tài liệu, kết hợp
những kinh nghiệm thực tiễn thu được trong quá trình thực tập, em xin
mạnh dạn chọn đề tài “ giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc
tế tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam”
2. Mục đích nghiên cứu:
Giới thiệu các lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế như: khái niệm,
các phương tiện, phương thức, quy trình của từng phương thức thanh toán
quốc tế.
Tổng hợp và phân tích thực tế hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân

sánh giữa các quốc gia. Thương mại quốc tế gắn liền với sự lưu chuyển của
hàng hoá và tiền tệ, trong đó, sự lưu chuyển tiền tệ được gọi là thanh toán
quốc tế(TTQT).
Thương mại quốc tế và TTQT đã xuất hiện từ rất lâu nhưng nó thực
sự phát triển kể từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời và từ đó đến nay, nó trở
thành một bộ phận không thể tách rời khỏi nền kinh tế. Quan hệ kinh tế
quốc tế ngày được mở rộng. Hàng năm, một khối lượng lớn hàng hoá được
giao lưu trên thế giới, vì vậy, phát triển TTQT là một đòi hỏi khách quan
cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế. Yêu cầu đặt ra đối với
TTQT là phải có những phương thức thanh toán mới, hiện đại, phù hợp với
xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, hệ thống các nước xã hội chủ
nghĩa(XHCN) được thành lập, quan hệ kinh tế giữa các nước này được
hình thành và phát triển, kéo theo quan hệ quốc tế TTQT cũng được mở
rộng. Trong giai đoạn này, Liên Xô là nước cung cấp hàng hoá chủ yếu cho
các nước XHCN nên quan hệ TTQT chủ yếu là thanh toán song phương
giữa Liên Xô và các nước XHCN còn lại. Nền kinh tế các nước XHCN dần
dần được phục hồi và phát triển dần đến quan hệ trao đổi hàng hoá và tiền
tệ cũng được mở rộng thành quan hệ đa phương. Đây là tiền đề cho sự phát
triển quan hệ TTQT trong những giai đoạn tiếp theo.Quá trình phát triển

8
quan hệ TTQT giữa Việt nam và các nước XHCN cũng xuất phát từ thanh
toán song phương bằng đồng Rúp chuyển khoản(RCK).
Kể từ khi Việt nam tham gia vào hiệp định thanh toán đa
phương(ngày 27/05/1977) và trở thành hội viên chính thức của Hội đồng
tương trợ kinh tế SEV(tháng 6/1978),quan hệ TTQT giữa Việt nam và các
nước bạn được chia thành hai loại: Thanh toán Clearing với các nước:
Triều Tiên, Anbani, Lào, Campuchia và thanh toán bằng RCK với các nước
thuộc khối SEV. Bước sa sút và tan rã. Do đó, cơ chế thanh toán đa phương

coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát
triển kinh tế của mình.
TTQT là quá trình giải quyết và dung hoà các mâu thuẩn giữa các
chủ thể và các bên liên quan (nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, Ngân hàng của
nhà xuất khẩu, Ngân hàng của nhà nhập khẩu), đó là các mâu thuẫn về các
vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên được quy định
thành những điều kiện TTQT. Các điều kiện là:
- Điều kiện và địa điểm.
- Điều kiện và tiền tệ.
- Điều kiện và thời gian.
- Điều kiện về phương tiện và phương thức thanh toán.
TTQT là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện TTQT. Trong các điều
kiện trên, phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng nhất. Phương
thức thanh toán là người bán dùng cách nào để thu tiền về, người mua dùng
cách nào để trả tiền. Trong quan hệ mua bán, người ta có thể chọn nhiều
phương thức khác nhau để thu tiền hoặc trả tiền, nhưng xét cho cùng việc
lựa chọn phương thức thanh toán nào cũng xuất phát từ yêu cầu của người
bán là thu tiền đầy đủ và đúng hạn, người mua là nhận hàng đúng số lượng,
chất lượng và đúng hạn.
Xét về mặt kinh tế TTQT được phân chia thành 2 lĩnh vực sau:
- Thanh toán mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh trên cơ sở
hàng hoá, dịch vụ thương mại kết hợp xuất nhập khẩu dựa trên giá cả Quốc

10
tế. Trong thanh toán mậu dịch, các bên pháp liên quan sẽ bị ràng buộc với
nhau theo các hợp đồng đã ký kết hoặc cam kết thương mại. Nếu 2 bên
không k ý hợp đồng chỉ có đơn đặt hàng thì sẽ căn cứ vào các đại diện giao dịch.
- Thanh toán phi mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh không
liên quan đến hàng hoá, không mang tính chất thương mại. Đó là chi phí
của cơ quan ngoại giao ở nước sở tại, chi phí vận chuyển và đi lại của các

động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng cường được nguồn vốn
huy động do tạm thời quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh
nghiệp có quan hệ TTQT qua Ngân hàng.
Thông qua hoạt động TTQT Ngân hàng có thể thu hút thêm được các
nguồn vốn trong thanh toán với chi phí thấp, giúp phát triển các nghiệp vụ
như kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ khác.
Hoạt động TTQT giúp Ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của
khách hàng trên cơ sở đó nâng cao uy tín và tạo niềm tin cho khách hàng.
Hoạt động TTQT giúp Ngân hàng nâng cao uy tín của mình trên
cường quốc tế trên cơ sở đó có thể khai thác được nguồn vốn tài trợ của các
Ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế đáp
ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Hoạt động TTQT giúp Ngân hàng tăng thu nhập và tăng cường khả
năng cạnh tranh của Ngân hàng trong cơ chế thị trường đồng thời nó giúp
hoạt động Ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với cộng
đồng Ngân hàng thế giới.
1.1.3.3. Đối với các nhà xuất nhập khẩu
TTQT tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu có thêm nhiều điều
kiện thuận lợi để tham gia vào thương mại quốc tế.
TTQT liên quan đến quyền lợi của cả người mua và người bán,
nên trong khi đàm phán k ý kết hợp đồng mua bán ngoại thương, điều
khoản thanh toán được coi là quan trọng hơn cả. Nếu khâu thanh toán được
thực hiện nhanh chóng, an toàn, chính xác và theo yêu cầu của khách hàng

12
sẽ đem lại nhiều tiện lợi, giảm bớt chi phí thay vì thanh toán bằng tiền mặt.
Đồng thời còn phải bảo vệ quyền lợi của khách hàng, tránh những rủi ro
trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu. Qua đó, đẩy mạnh hoạt động
xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại góp phần cải thiện bộ
mặt nền kinh tế quốc dân.

A/CN.9/212) 1.2.3. Các nguồn luật áp dụng trong phương thức thanh toán quốc tế
Một nguồn luật chủ yếu được áp dụng để điều chỉnh quan hệ trong
các phương thức thanh toán quốc tế là:
+ Văn bản pháp l ý quốc tế thông dụng của nhờ thu là”Quy tắc thống
nhất về nhờ thu” số 522 của phòng thương mại quốc tế, sửa đổi năm
1995(Uniform Rules for the collection, 1995 Revision No. 522, ICC), có
hiệu lực từ ngày 01/01/1996. Muốn sử dụng bản quy tắc này, hai bên mua
bán phải thống nhất quy định trong hợp đồng.
+ Văn bản pháp lý quốc tế thông dụng của tín dụng chứng từ là “Quy
tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, số 500, bản sửa đổi
năm 1993” của phòng thương mại quốc tế (Uniform Customs anh Practice
for Documentary Credits ICC, 1993 Revision, No. 500). Bản quy tắc này
mang tính chất pháp l y tuỳ ý, có nghĩa là khi áp dụng nó các bên đương sự
phải thoả thuận ghi vào L/C, đồng thời có thể thoả thuận khác, miễn là có
dẫn chiếu.
Hiện nay ở nước ta, các Ngân hàng thương mại và các đơn vị kinh
doanh ngoại thương đã thống nhất sử dụng bản quy tắc này như là một văn
bản pháp lý điều chỉnh các loại thư tín dụng được áp dụng trong thanh toán
quốc tế giữa Việt nam và các nước ngoài.
Ngoài ra, còn có các quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các
Ngân hàng theo tín dụng chứng từ(URC) của (ICC)(Uniform Rules for

14
Bank to bank Reimbusement under Documentary Credits, N-525,
1995,ICC)
1.2.2. Các điều kiện thanh toán quốc tế
1.2.2.1. Đồng tiền sử dụng trong thanh toán quốc tế.

chuyển đổi toàn bộ và tự do chuyển đổi từng phần.
+ Tiền tệ mạnh(Hard currency): là những đồng tiền có khả năng
thanh toán cao ở mọi nơi, mọi lúc.
Căn cứ vào hình thức tồn tại của tiền tệ:
+ Tiền mặt(Cash): là tiền giấy của từng quốc gia riêng biệt. Trong
TTQT người ta rất ít khi sử dụng loại tiền này
+ Thẻ tín dụng(Credit currency): là tiền tài khoản, tiền ghi sổ. Hình
thức thanh tồn tại là các phương tiện TTQT như hối phiếu, séc, T/T,m?t
1.2.2.2. Địa điểm thanh toán quốc tế
Điều kiện về địa điểm thanh toán có nghĩa là việc quy định nghĩa vụ
thanh toán tiền trong hợp đồng thương mại quốc tế sẽ được thực hiện ở
đâu?Về phương diện ly thuyết, việc thanh toán giá trị hợp đồng có thể diễn
ra ở nước người xuất khẩu, nước người nhập khẩu hoặc ở một nước thứ 3
nào đó.
Tuy nhiên, trong thực tế việc quy định địa điểm thanh toán chủ yếu
phụ thuộc tương quan “thế và lực” giữa hai bên trong quan hệ hợp
đồng.Đương nhiên cũng cần phải xem xét nhiều yếu tố, nhiều mặt quan hệ
khác nữa mới có thể khẳng định được.
1.2.2.3. Thời gian thanh toán quốc tế
Điều kiện thời gian thanh toán có mối quan hệ chặt chẽ với việc luận
chuyển vốn, lợi tức, khả năng có thể tránh được những biến động tiền tệ
thanh toán, do đó nó là vấn đề được các bên rất quan tâm, và đây cũng là
vấn đề thường gây ra tranh chấp giữa các bên.
Trong thanh toán quốc tế có ba cách quy định về thời hạn thanh toán:
 Tiền trả trước: là sau khi k y hợp đồng mua bán ngoại thương,
hoặc sau khi bên xuất khẩu chấp nhận đơn đặt hàng, nhưng trước khi giao

16
hàng, thì bên nhập khẩu trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hoặc một phần số
tiền hàng. Mục đích của việc trả tiền trước có thể là cấp tín dụng ngắn hạn

gửi ra lệnh cho Ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có
tên trên tờ séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy, hoặc trả cho người cầm séc
một số tiền nhất định bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản.
Séc là một phương tiện TTQT được sử dụng trong thanh toán nội
địa và quốc tế về cả hàng hoá, dịch vụ và phi mậu dịch.
Các loại séc:
Căn cứ váo tác dụng lưu chuyển:
+ Séc đích danh: là loại séc mà trên đó ghi tên người hưởng lợi, loại
séc này không thể chuyển nhượng bằng hình thức k y hậu.
+ Séc vô danh: là loại séc mà trên đó không ghi tên người hưởng séc,
bất kì người nào cầm tờ séc này đều có thể được hưởng.
+ Séc theo lệnh: là loại séc ghi rõ trả theo lệnh của người thụ
hưởng, séc được chuyển nhượng theo thủ tục ký hậu. Trong TTQT, loại séc
này được sử dụng rộng rãi.
Căn cứ vào đăc điểm sử dụng:
+ Séc tiền mặt: là loại séc được Ngân hàng thanh toán trả bằng tiền
mặt.
+ Séc chuyển khoản: la loại séc mà khi Ngân hàng nhận được sẽ
trích tiền từ tài khoản của người k y phát sang tai khoản người khác mà
không được rút bằng tiền mặt.
+ Séc gạch chéo: là loại séc mà trên mặt phải của nó có 2 gạch chéo
song song kể từ góc này sang góc kia. Loại séc nay chỉ được thanh toán
chuyển khoản mà không được rút bằng tiền mặt.
+ Séc xác nhận(Séc bảo chi): là loại sec mà co ký xác nhận trả bằng
tiền của Ngân hàng nên khả năng chi trả của tờ séc được đảm bảo chắc chắn.
+ Séc du lịch: được sử dụng đối với khách du lịch có tiền tại Ngân
hàng phát séc, trên tờ séc phải có chữ k ý của người hưởng lợi và khi lĩnh
tiền phải ký tại quầy để Ngân hàng kiểm tra. Loại séc này do Ngân hàng

18

+ Hồi phiếu Ngân hàng: loại này do Ngân hàng phát hành để đòi
tiền một người nào đó hoặc chỉ định một người nhất định trả số tiền ghi
trên hối phiếu.
Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng
+ Hối phiếu đích danh: là hối phiếu ghi rõ tên người hưởng, không
kèm theo điều khoản trả theo lệnh, không chuyển nhượng được.
+ Hối phiếu vô danh: là hối phiếu không ghi tên người hưởng lợi và
khi chuyển nhượng không phải ký hậu.
+ Hối phiếu theo lệnh: trong hối phiếu này phải ghi rõ trả theo lệnh
của người hưởng lợi và khi chuyển nhượng phải thực hiện bằng k ý hậu.
Đây là loại hối phiếu được sử dụng phổ biến nhất.
 Lệnh phiếu(Promissory Note)
Lệnh phiếu là một tờ giấy cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập
phiếu phát ra hứa trả một số tiền nhất định trong một thời hạn nhất định cho
người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác quy định
trong lệnh phiếu đó.
Đặc điểm cơ bản của lệnh phiếu hoàn toàn trái ngược với đặc điểm
của hối phiếu. Vì đặc điểm thụ động này mà trong TTQT ít dùng lệnh
phiếu hơn các phương tiện thanh toán khác. Ngoài ra lệnh phiếu còn có
những đặc điểm riêng sau:
+ Kỳ hạn của lệnh phiếu được ghi rõ trên nó
+ Lệnh phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát cam kết thanh
toán cho một hay nhiều người hường lợi
+ Lệnh phiếu nhiều khi cần có sự bảo lãnh của Ngân hàng hoặc
công ty tài chính để đảm bảo khả năng thanh toán.
+ Lệnh phiếu chỉ có một bản chính do con nợ phát ra chuyển cho
người hưởng lợi.
 Thẻ thanh toán:

20

)

Ngân
hàng
Chuy

n
Ngân
hàng
đ

i l
y

Người
Chuyển
ti

n

Người
hưởng
l

i

(3)
(4
)


Quy trình nghiệp vụ:
Sơ đồ 2: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn

22

(1) Người xuất khẩu chuyển giao hàng hoá, đồng thời cũng
chuyển giao chứng từ hàng hoá sang người nhập khẩu.
(2) Người xuất khẩu lập hối phiếu và giấy nhờ thu, gửi tới Ngân
hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền ở người nhập khẩu.
(3) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển hối phiếu sang
Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu để nhờ thu tiền.
(4) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển hối phiếu đòi tiền
tới người nhập khẩu.
(5) Người nhập khẩu thanh toán tiền(hoặc ky chấp nhận hối
chiếu).
(6) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển tiền thu được
(hoặc hối phiếu đã được ky chấp nhận) sang Ngân hàng phục vụ người xuất
khẩu.
(7) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu thanh toán trong đó người
xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng thì lập bộ chứng từ thanh
toán nhờ thu và nhờ Ngân hàng thu hộ tiền của tờ hối phiếu với điều kiện
người nhập khẩu trả tiền hoặc đồng ý trả tiền thì Ngân hàng mới giao bộ
chứng từ để họ đi nhận hàng.
Quy trình nghiệp vụ:

khẩu
Người nhập
khẩu
Ngân hàng
Chuyển chứng
t


Người xuất
khẩu
Người nhập
khẩu
Ngân hàng
Thu tiền
(2
)

(7
)

(3)
(6)

(4
)

(5
)

24
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó
một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dung) theo yêu cầu của khách
hàng(người xin mỏ thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người
khác(người hưởng lợi), hoặc chấp nhận hối phiếu do người này k y phát
trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ
chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định trong thư tín dụng
Thư tín dụng(Letter of Credit – L/C) là một văn bản pháp l ý trong
đó Ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người xuất khẩu trong một thời
hạn nhất định được quy định trong L/C.
Thư tín dụng là cốt lõi, là phương tiện chủ yếu của phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ. Do đó nếu thư tín dụng hết hạn hiệu lực thì
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ sẽ không còn ý nghĩa.
Thư tín dụng là văn bản thể hiện sự cam kết của Ngân hàng mở
thư tín dụng đối với nhà xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo
điều khoản thanh toán của hợp đồng mua bán ngoại thương. Do đó nó được
soạn thảo trên cơ sở hợp đồng mua bán đã được k ý kết giữa hai bên mua và
bán. Nhưng vì thư tín dụng là sự cam kết của Ngân hàng mở L/C, do đó thư
tín dụng độc lập hoàn toàn với hợp đồng mua bán ngoại thương. Tính chất
độc lập của thư tín dụng thể hiện ở chỗ: Ngân hàng mở thư tín dụng không
cần biết đến hợp đồng mua bán mà chỉ căn cứ vào nội dung đơn xin mở
L/C của nhà nhập khẩu để viết thư tín dụng(mở L/C) cho nhà xuất khẩu
được hưởng.
Thư tín dụng là cơ sở pháp l ý của việc thanh toán, nó ràng buộc
các bên hữu quan tham gia vào phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:
nhà nhập khẩu, Ngân hàng bên nhập khẩu, nhà xuất khẩu, Ngân hàng thông
báo, Ngân hàng thanh toán. Còn hợp đồng mua bán ngoại thương chỉ có giá
trị pháp l ý ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên xuất khẩu và
nhập khẩu.

Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status