Báo cáo tốt nghiệp
"Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông
nghiệp& phát triển quận Thanh Xuân".
Mục lục
Chương I: tổng quan về hoạt động tin dụng của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thươngmại trong nền kinh tế thị trường
Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn
Mua, bán ngoại tệ
Hoạt động cho vay
Bảo lãnh tài sản hộ
Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Quản lý ngân quỹ
Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Bảo lãnh
Cho thuê trang thiết bị trung và dài hạn
Cung cấp dịch vụ uỷ thác tư vấn
Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán
Cung cấp dịch vụ bảo hiểm
Cung cấp dịch vụ đại lý
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
Cơ cấu tổ chức của NHNo Thanh Xuân
Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo Thanh Xuân năm 2004
Công tác huy động vốn
Tình hình đầu tư vốn tín dụng năm 2004
Hoạt động khác
Bảo lãnh
Thanh toán quốc tế
Hoạt động dịch vụ
Hoạt động ngân quỹ
Thực trạng hoạt động tín dụng của NHNo Thanh Xuân
Huy động vốn
Tình hình sử dụng vốn
Hoạt động tín dụng theo thời gian
Hoạt động tín dụng theo thành phần kinh tế
Tình hình thu nợ
Đánh gía chất lượng tín dụng
Những kết quả đạt được
Hiệu suất sử dụng vốn
Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn theo thời gian
Tỷ lệ nợ quá hạn theo thành phần kinh tế
Chỉ tiêu thu nhập
Những hạn chế và nguyên nhân
Những hạn chế
Nguyên nhân tồn tại những hạn chế đó
Môi trường kinh tế chưa ổn định
Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện
Nhân tố xuất phát từ Ngân hàng
Nhân tố xuất phát từ phía khách hàng
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân
Đối với Ngân hàng nông nghiệp Thanh Xuân
Đối với NHNo Viẹt nam
Đối với Ngân hàng Nhà nước
Đối với Nhà nước
Kết luận
Lời mở đầu
Trong những năm vừa qua, cùng với những thành tựu đổi mới của
đất nước, hệ thống Ngân Hàng Việt Nam đã có những chuyển biến sâu sắc,
đóng góp tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, ổn định lưu thông tiền tệ và
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng đồng thời, nền kinh tế vận hành theo
cơ chế thị trường, cùng với việc tạo ra triển vọng và điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp ngân hàng nói riêng, thì
còn nhiều khó khăn mà các doanh nghiệp phải đối mặt.
Đối với hệ thống Ngân hàng, rủi ro tín dụng như là vật cản trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tháo gỡ những khó khăn và hướng
tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận được xem là chiến lược kinh doanh của
ngân hàng.
Hoạt động cho vay là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất, nó
đem lại khoảng 80- 95% lợi nhuận kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
Trong lĩnh vực tín dụng, hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng
thương mại là chỉ tiêu tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của hoạt
động Ngân hàng. Khi hiệu quả cho vay đạt ở mức cao sẽ tạo ra động lực
cho mọi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cùng hoạt động sản xuất của
toàn bộ nền kinh tế. Ngược lại, khi đồng vốn tín dụng không được sử dụng
tốt sẽ làm cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng không ổn định và suy
yếu.
Chất lượng tín dụng hiện nay đang là mối quan tâm không chỉ đối với
nhà quản lý điều hành Ngân hàng mà còn là mối quan tâm của xã hội.
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nền sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và
đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng; đến lượt mình sự phát triển của hệ thống
ngân hàng là động lực thúc đẩy nền kinh tế.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các
thợ vàng. Cùng với việc phát triển của nền kinh tế đòi hỏi việc trao đổi giữa
đồng tiền của khu vực này với khu vực khác, giữa quốc gia này với quốc gia
khác- đây là tiền đề cho nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ.
Sự không thường xuyên và cùng một lúc giữa người gửi tiền và người
lấy tiền ra đã tạo ra số dư trong két của các nhà buôn tiền. Do tính chất vô
danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tam thời một phần tiền gửi của
khách hàng để cho vay. Bằng cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân
hàng huy động được ngày càng thu hút nhiều tiền gửi vào, là điều kiện để mở
rộng cho vay. Thuật ngữ ngân hàng ngày càng gần gủi với người dân đặc biệt
những người có nhu cầu vay tiền và tạm thời dư tiền. Nhưng chưa có phân
định giữa ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng phát hành.
Đến cuộc khủng hoảng nền kinh tế 1929-1933 các quốc gia thấy rằng
cần phải quản lý việc phát hành tiền một cách chặt chẽ hơn. Các quốc gia lần
lượt quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành hoặc thành lập các ngân hàng phát
hành thuộc sở hữu Nhà nước Từ đó khái niệm Ngân hàng Trung Ương và
Ngân hàng thương mại được tách bạch rõ ràng.
Trước tiên ta tìm hiểu khái niệm về ngân ngân hàng nói chung và sau đó
là về ngân hàng thương mại.
Có rất nhiều cách để định nghĩa về ngân hàng, có thể thông qua chức
năng, các dịch vụ hoặc vai trò của chung thực hiện trong nền kinh tế.
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên
phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là các tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng
hình thức tiền gửi có kỳ hạn hoặc ký hợp đồng vay vốn có đảm bảo bằng tài
sản. NHTM có thể vay vốn NHTW mà cụ thể là xin tái cấp vốn và từ các tổ
chức tài chính, tín dụng quốc tế.
- Huy động vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá:
Cùng với việc huy động tiền gửi, Ngân hàng còn huy động vốn bằng
các hình thức khác: Phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành trái phiếu
- Huy động vốn bằng các hình thức khác:
Ngoài ra NHTM còn huy động các nguồn vốn từ các nguồn khác như:
vốn trong thanh toán và vốn phát sinh từ nghiệp vụ đại lý.
1.1.2.2. Mua, bán ngoại tệ
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao
đổi(mua, bán) ngoại tệ: Mua, ban một loại tiền này lấy một loại tiền khác và
hưởng phí dịch vụ. 1.1.2.3. Cho vay:
Đây là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận của NHTM. NHTM cho
vay đối với các đơn vị kinh tế nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh
của đơn vị được liên tục, công nghệ, máy móc, thiết bị, nhà xưởng được
đầu tư đổi mới nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Hoạt động này thường được NHTM thực hiện dưới các hình thức sau
đây:
- Cho vay thương mại
- Cho vay tiêu dùng
- Tài trợ cho dự án
1.1.2.4. Bảo quản tài sản hộ
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các
tài sản khác cho khách hàng trong két. Ngân hàng thường giữ hộ những tài
sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan trọng khác của
khách hàng.
lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho
khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng
khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác…
1.1.2.9. Cho thuê trang thiết bị trung và dài hạn(leasing)
Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là thiết bị có giá trị lớn,
nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê. Cuối hợp đồng thuê, khách
hàng có thể mua. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa
chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua,
trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê.
1.1.2.10. Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn
Hoạt động của ngân hàng trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có
rất nhiều uy tín cung như kinh nghiệm. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh
nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ.
Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ
thác phát hành, uỷ thác đầu tư…Thậm chí, các ngân hàng đóng vai trò là
người được uỷ thác di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời.
Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính.
Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập,
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp…
1.1.2.11. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Đây là dịch vụ ngân hàng mà ngân hàng bán các nghiệp vụ mua bán
chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và
các chứng khoán khác. Ngày nay một số ngân hàng thành lập, tổ chức ra
các công ty chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới.
1.1.2.12. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng,
điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàngbị chết, bị tàn
phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng
liên doanh với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con người,
ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm an
là chủ yếu. Tín dụng ở đây chúng ta hiểu là hoạt động cho vay của ngân hàng.
Vậy ngân hàng lấy vốn ở đâu ra để cho vay? Phải chăng là vốn tự có của ngân
hàng. Ơ đây các ngân hàng phải huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, cá nhân
và các tầng lớp dân cư trong xã hội sau đó phân phối vốn trở lại một cách hợp
lý. Chính nhờ có tín dụng ngân hàng mà các chủ thể"thừa" vốn có cơ hội
không những bảo tồn vốn mà còn tạo thu nhập(thu lãi), còn đối với chủ thể
thiếu vốn, tín dụng ngân hàng giúp họ bổ sung vốn để đáp ứng nhu cầu sản
xuất, kinh doanh hoặc đời sống.
Thông qua công tác tín dụng, ngân hàng đã đáp ứng được hầu hết các
nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội, giúp cho quá trình sản
xuất được liên tục, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất. Đồng thời việc tập trung
và phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế quốc
dân từ nơi thừa đến nơi thiếu. Bên cạnh việc đáp ứng vốn kịp thời đầy đủ cho
các doanh nghiệp, các ngân hàng còn có những ý kiến đóng góp cho phương
án sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tác thông qua quá trình sử dụng vốn của
doanh nghiệp
Như vậy hoạt động tín dụng của ngân hàng góp phần đẩy lùi lạm phát,
thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.
1.2.1.2. Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản
xuất mở rộng, đẩy mạnh đầu tư phát triển:
Có thể nói tín dụng ngân hàng là một nguồn cơ bản của các doanh
nghiệp nhằm mở rộng tái sản xuất. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường với
sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp đòi hỏi các doanh
nghiệp luôn luôn phải đổi mới và mở rộng sản xuất. Tín dụng ngân hàng là
nguồn vốn cơ bản hình thành nên vốn cố định và vốn lưu động của doanh
nghiệp. Thông qua việc đầu tư tín dụng, tín dụng ngân hàng sẽ góp phần hình
thành cơ cấu vốn hợp lý cho các doanh nghiệp. Muốn vậy các ngân hàng cần
phải làm tốt công tác huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và xây dựng cho mình
những chiến lược kinh doanh hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển của các
thành phần kinh tế. Có như vậy các ngân hàng mới có thể đáp ứng một cách
nêu rõ mục đích và khẳng định tính khả thi và mức sinh lợi của dự án. Như
vậy muốn vay được vốn các doanh nghiệp cần phải thực hiện chế độ hạch toán
thật tốt. Tất cả những công tác trên giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn có
hiệu quả, Ngân hàng có khả năng thu hồi được vốn.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng là sự vận động trên cơ sở hoàn
trả cả gốc lẫn lãi. Các đơn vị kinh tế, cá nhân khi vay vốn ngân hàng đều phải
cam kết thực hiện đầy đủ các điều kiện mà ngân hàng đưa ra nhằm đảm bảo sử
dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, phù hợp với điều kiện sản xuất kinh
doanh của đơn vị. Trong trường hợp các đơn vị vay vốn không thực hiện đúng
cam kết thì ngân hàng sẽ dùng đến các biện pháp chế tài tín dụng. Do vậy, các
đơn vị sản xuất kinh doanh luôn luôn tìm mọi biện pháp để tăng hiệu quả sử
dụng vốn như: Đẩy nhanh vòng quay vốn, tăng năng xuất, giảm giá thành
nhằm tạo ra nhiều lợi nhuận, để có thể hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn. Điều
này đã thúc đẩy đơn vị sản xuất kinh doanh tăng cường khâu hạch toán kế toán
một cách chặt chẽ đảm bảo doanh lợi ngày càng cao, tăng hiệu quả sử dụng
vốn tín dụng.
1.2.1.5. Tín dụng ngân hàng là công cụ chủ yếu để đầu tư, tài trợ cho
các ngành kinh tế then chốt và các ngành, vùng kinh tế kém phát triển:
Mục tiêu hoạt động của các Ngân hàng là an toàn và sinh lời. Vì thế khi
cung cấp tín dụng Ngân hàng luôn phải cân nhắc những rủi ro sao cho đó là
tối thiểu. Nhưng không phải tất cả các chủ thể có nhu cầu vay đều được Ngân
hàng đáp ứng, bởi để tránh rủi ro tín dụng các Ngân hàng chỉ thực hiện đầu tư
vào các đơn vị có đủ các điều kiện.
Tuy nhiên, trong điều kiện đất nước ta hiện nay phần lớn dân số sống
bằng nông nghiệp. ở hầu hết các tỉnh miền núi, nông thôn vấn đề đưa máy
móc vào nông nghiệp còn rất hạn chế. Vì vậy, thông qua công tác tín dụng,
Nhà nước cần tập trung vào phát triển nông nghiệp để giải quyết những nhu
cầu tối thiểu của xã hội đồng thời tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế
khác.
Bên cạnh đó nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại
kinh doanh, áp dụng kỹ thuật mới, mở rộng thị trường từ đó tăng thu nhập.
Với mức lãi suất ưu đãi, tín dụng ngân hàng có vai trò to lớn trong việc giúp
người nghèo tự vươn lên, tự giải quyết được tình trạng nghèo đói của mình.
Ngoài ra các cán bộ tín dụng ngân hàng cần phải quan tâm đến vấn đề
làm sao để vốn được sử dụng đúng mục đích là phát triển sản xuất, cải tiến kỹ
thuật để tăng thu nhập, tránh rủi ro cho Ngân hàng không thu hồi được vốn
Trong điều kiện hiện nay chúng ta hy vọng rằng tín dụng ngân hàng sẽ
phát huy tốt vai trò to lớn của mình trong việc cung cấp nguồn lực để giải
quyết các vấn đề xã hội theo hướng chủ động, tích cực, phù hợp với kinh tế thị
trường.
1.2.1.7. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển quan hệ đối
ngoại:
Ngày nay khi tất cả các quốc gia trên thế giới đều có xu hướng chuyển
từ đối đầu sang đối thoại thì việc phát triển kinh tế không chỉ bó hẹp trong
phạm vi đất nước mình mà phải hoà vào sự phát triển chung của các quốc gia
trong khu vực và trên thế giới.
Tín dụng ngân hàng đã trở thành một phương tiện nối liền nền kinh tế
các nước với nhau. Đặc biệt là các nước đang phát triển nói chung và Việt
Nam nói riêng. Tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc xuất nhập khẩu
hàng hoá và hiện đại hoá nền kinh tế. Sở dĩ nó có một tầm quan trọng như vậy
là bởi các hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn đặc biệt là vốn
ngoại tệ mà chính bản thân một tổ chức hay một cá nhân không thể có được.
Vì vậy, mà tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn vốn tài trợ đắc lực cho các nhà đầu
tư, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ. Hơn nữa nếu Ngân hàng có
một chính sách tín dụng đúng đắn thì nó sẽ có tác động tích cực tới hoạt động
xuất nhập khẩu. Một chính sách tín dụng ưu đãi đối với các sản phẩm xuất
khẩu sẽ làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá này trên thị trường quốc tế,
nâng cao vị thế của quốc gia.
Sự phát triển của hoạt động tín dụng giữa các tổ chức tài chính quốc tế,
các quỹ tiền tệ quốc tế và các ngân hàng nước ngoài với chính phủ Việt Nam
bảo quản, trong suốt thời gian cầm cố khách hàng không được sử dụng
nhượng bán, cho thuê
+ Cho vay thế chấp: Là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản của
khách hàng để đảm bảo cho khả năng trả nợ của khách hàng. Tài sản không
cần mang đến ngân hàng, khách hàng có quyền sử dụng nhưng không có
quyền bán và cho thuê.
- Cho vay không có tài sản thế chấp (Tín chấp): Ngân hàng cho vay trên
cơ sở tin tưởng khách hàng, tài sản thế chấp là uy tín, danh dự của khách hàng.
Ngoài ra còn có hình thức cho vay thông qua việc bảo lãnh bằng tín chấp của
tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn. 1.2.2.3. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng:
- Cho vay bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng
được cung cấp bằng tiền như: Thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp
- Cho vay bằng tài sản: Phổ biến là tài trợ thuê mua.
1.2.2.4. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho khách hàng và
khách hàng trực tiếp trả lãi và gốc cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn lại trong thời
hạn thanh toán gồm các hình thức:
1.2.2.5. Căn cứ vào thời hạn cho vay có các hình thức tín dụng sau:
- Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời hạn không quá 12
tháng. Được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của
cá nhân
- Tín dụng trung hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12
tháng đến 60 tháng. Mục đích là vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài
sản cố định hoặc cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, đổi mới quy trình công
của thị trường có thể tổn thất trong cho vay) thì Ngân hàng còn phải gánh
chịu rủi ro của người vay vốn.
Do đó, bất cứ NHTM nào cũng đặt chất lượng tín dụng là vấn đề
quan tâm hàng đầu, nó ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại hay suy vong của một
Ngân hàng.
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng phù hợp
với sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là
Ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy, chất lượng hoạt động TD của Ngân
hàng không những phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của doanh nghiệp
mà còn phụ thuộc vào khả năng đáp ứng cao nhất các nhu cầu hợp pháp của
khách hàng từ phía Ngân hàng
Chất lượng tín dụng còn là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh
mức độ thích nghi của NHTM đối với sự thay đổi của môi trường bên
ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh
để tồn tại. Như vậy chất lượng tín dụng là gì?
"Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu
cầu của khách hàng(người gửi tiền và người vay tiền) trong quan hệ tín dụng,
đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận cho ngân hàng phù
hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội "
1.3.2. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng:
Với số lượng NHTM ngày càng gia tăng, tính cạnh tranh được thể
hiện ngày càng mạnh mẽ. Do đó, đối với mỗi Ngân hàng phải tìm cho mình
một nét riêng, một hướng đi để phù hợp với môi trường thể hiện sức mạnh
của Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh.
Để phân tích, đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh tháng,
hàng quý, hàng năm, trong từng thời kỳ, chúng ta phải sử dụng các chỉ tiêu
phân tích
Có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu để đánh giá chất lượng hoạt động tín
dụng, sau đây là một số chỉ tiêu cơ bản: