Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
Lời mở đầu
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người. Sản xuất xã
hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người.
Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sản xuất
vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội. Trong quá trình tồn tại và phát
triển, con người không thỏa mãn với những cái đã có sẵn trong giới tự nhiên, mà luôn
luôn tiến hành sản xuất vật chất nhằm tạo ra các tư liệu sinh hoạt thỏa mãn nhu cầu
ngày càng phong phú, đa dạng của con người. Việc sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt là
yêu cầu khách quan của đời sống xã hội. Bằng việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt
của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình.
Cùng với quá trình sản xuất ra của cải vật chất con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ
các mặt của đời sống xã hội. Tất cả các quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo
đức, nghệ thuật … đều hình thành, biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất. Sản xuất vật
chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định. Phương thức sản xuất là
cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử
nhất định của xã hội loài người. Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản
xuất nhất định. Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt
của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. Sự thay thế kế tiếp nhau của
các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người
từ thấp đến cao. Trong sản xuất, con người có quan hệ với giới tự nhiên, tức là lực
lượng sản xuất; mặt khác là quan hệ giữa người với người tức là quan hệ sản xuất.
Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất tương ứng.
Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là rất quan trọng để thúc
đấy xã hội phát triển. Đặc biệt với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời
kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay, quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất sẽ giúp chúng ta khai thác được mọi tiềm năng, nguồn lực
của đất nước để xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ nghĩa xã hội.
Biện chứng quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho sinh viên
nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai
trò chính yếu.
* Tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động
- Đối tượng lao động
Đối tượng lao động là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác
động vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục đích của con người.
Đối tượng lao động có thể chia làm hai loại
+ Loại có sẵn trong tự nhiên: như gỗ, quặng, tôm cá…con người chỉ cần tách
chúng khỏi mối liên hệ trực tiếp với tự nhiên là dùng được.
+ Loại đã trải qua lao động, được cải biến ít nhiều như bông để kéo sợi, vải để
may mặc, than ở nhà máy nhiệt điện…
- Tư liệu lao động
2
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự
tác động của con người lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động theo
mục đích của mình.
Tư liệu lao động được chia làm 2 loại:
+ Công cụ lao động:
Công cụ lao động là vật hay hệ thống vật dùng để chuyền dẫn sự tác động của con
người vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với nhu cầu của con
người.
Công cụ lao động giữ vị trí hệ thống “xương cốt và bắp thịt” của sản xuất. Trình
độ phát triển của chúng là những dấu hiệu đặc trưng tiêu biểu cho một thời đại sản
xuất xã hội nhất định. C.Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải là ở
chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư
liệu lao động nào’.
+ Tư liệu lao động dùng để bảo quản những đối tượng lao động, gọi chung là “hệ
thống bình chứa của sản xuất” như ống, thùng… và kết cấu hạ tầng của sản xuất như
những lực lượng sản xuất vừa nhỏ nhoi, vừa lạc hậu so với trình độ chung của thế giới,
hơn nữa trong một thời gian khá dài, những lực lượng ấy bị kìm hãm, phát huy tác
dụng kém. Bởi vậy Đại hội lần thứ VI của Đảng đặt ra nhiệm vụ là phải "Giải phóng
mọi năng lực sản xuất hiện có. Khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước, sử
dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tếđể phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất. Mặt
khác chúng ta đang ở trong giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng khoa học
kỹ thuật đang chứng kiến những biến đổi cách mạng trong công nghệ. Chính điều này
đòi hỏi chúng ta lựa chọn một mặt tận dụng cái hiện có mặt khác nhanh chóng tiếp thu
cái mới do thời đại tạo ra nhằm dùng chúng để nhân nhanh các nguồn lực từ bên trong.
Nếu phân tích một cách khách quan thì rõ ràng lực lượng sản xuất của ta đang ứng với
cả ba giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất trong nền văn minh loài người. Thực
tế hiện nay trong nhiều ngành sản xuất công cụ thủ công vẫn đang là chủ yếu, lao động
nặng đang chiếm tỉ lệ cao, đến nay vẫn chưa hoàn thành cơ khí hoá và thực tế chưa
biết khi nào mới xong. Cần khẳng định một vấn đề có tính quy luật là trong lịch sử bao
giờ cũng có sựđan xen của trình độ phát triển khác nhau trong từng yếu tố cấu thành
lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên trên thực tế song song với tình trạng lạc hậu trong phạm vi hẹp nhất
định, chúng ta đang dần dần đi lên với tựđộng hoá, sử dụng thành thạo máy móc vi
tính Đối tượng lao động thấp kém đang được bổ sung. Chính vì lẽđó mà sẽ không có
câu trả lời đơn thuần về việc chỉ nên phát triển loại tư liệu sản xuất nào, công cụ gì
vàđối tượng lao động nào là chính.
2. Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân
phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội.
4
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan
trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Quan
hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, các mặt của quan hệ sản xuất thống nhất
5
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
không thể là một quá trình êm ả. Chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ coi hình thái
kinh tế - xã hội nào đã tồn tại kể từ trước đến nay là chuẩn nhất. Trong mỗi hình thái
kinh tế - xã hội cùng với một quan hệ sản xuất thống trị, điển hình còn tồn tại những
quan hệ sản xuất phụ thuộc, lỗi thời như là tàn dư của xã hội cũ. Ngay ở cả các nước
tư bản chủ nghĩa phát triển nhất cũng không chỉ có một quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa thuần nhất. Tất cả các tình hình trên đều bắt nguồn từ phát triển không đều về
lực lượng sản xuất không những giữa các nước khác nhau mà còn giữa các vùng và
các ngành khác nhau của một nước. Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao
hơn như C. Mác nhận xét: "Không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại
vật chất của những quan hệđó chưa chín muồi " phải có một thời kỳ lịch sử tương đối
lâu dài mới có thể tạo ra điều kiện vật chất trên.
Trong cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất vấn đề quan trọng màđại hội VI nhấn
mạnh là phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chếđộ sở hữu, chếđộ quản lý và chếđộ phân
phối không nên coi trọng một mặt nào cả về mặt lý luận, không nghi ngờ gì rằng:
chếđộ sở hữu là nền tảng quan hệ sản xuất . Nó làđặc trưng để phân biệt chẳng những
các quan hệ sản xuất khác nhau mà còn các thời đại kinh tế khác nhau trong lịch sử
như mức đã nói.
II- Mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
1. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.
Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị năm 1859 C.Mác viết
"Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất
định, tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất. Những
quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật
chất của họ.
Khái niệm "phù hợp" được hiểu với nghĩa chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp qui luật,
không phù hợp là không tốt, là trái qui luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra
với từ "phù hợp" này. Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác
và quan hệ sản xuất là qui luật mâu thuẫn. Sự phù hợp giữa chúng chỉ là một cái trục,
chỉ là trạng thái yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động sự mâu thuẫn là vĩnh
viễn chỉ có khái niệm mâu thuẫn mới đủ khả năng vạch ra động lực của sự phát triển
mới có thể cho ta hiểu được sự vận động của qui luật kinh tế.
2. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,
chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo
thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.
7
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển. Sự phát
triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất,
trước hết là công cụ lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng
sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ
chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lượng sản
xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao
động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng
khoa học vào sản xuất.
Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất.
Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất chất cá nhân
lên tính chất xã hội hoá. Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động
kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt tới
trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất
có tính chất xã hội hoá.
- Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan
hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan
giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phải giản đơn. Nó phải thông qua
nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người. Trong xã hội có giai cấp phải
thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay
thế, phát triển lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế độ chiếm hữu
nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là
do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.
Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt hợp
thành của phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy
quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là một hiện tượng tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Nguồn gốc của tư tưởng sai lầm này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ
nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp qui luật khách quan. Về mặt phương pháp luận, đó là
chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động ngược lại của quan hệ
sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự lạm dụng này biểu hiện ở
"Nhà nước chuyên chính vô sản có khả năng chủđộng tạo ra quan hệ sản xuất mới để
mởđường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất".
Nhưng khi thực hiện người ta đã quên rằng sự "chủđộng" không đồng nghĩa với
sự chủ quan tuỳ tiệ, con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ
sản xuất mà mình muốn có. Ngược lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị qui định một cách
nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng sản xuất, bởi quan hệ sản xuất với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất chỉ có thể mởđường
cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nóđược hoàn thiện tất cả về nội dung của nó,
9
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản
xuất.
HĐH, Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời
sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước
11
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Tại Đại hội này, Đảng ta cũng xác định rõ mục
tiêu “phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”.
Cùng với những thành tựu phát triển quan trọng đạt được sau 10 năm đổi mới, sự xác
định rõ ràng hơn về chủ trương đã tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta đẩy mạnh
CNH, HĐH.
Kết thúc thế kỷ 20, bước vào thế kỷ 21, bối cảnh trong nước và quốc tế tiếp tục
có những thay đổi mau chóng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ IX (2001) của Đảng nhận định: “Thế kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa
học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi
bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”. Trong bối cảnh ấy, nhận thức của
Đảng ta về CNH, HĐH đất nước cũng có bước đổi mới quan trọng, cho rằng quá
trình CNH, HĐH ở nước ta có thể được rút ngắn. Chiến lược phát triển kinh tế- xã
hội giai đoạn 2001-2010 được thông qua tại Đại hội IX xác định: “Con đường CNH,
HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa
có bước nhảy vọt. Phát triển những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để
đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh
học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn
những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri
thức”. Đảng ta đề ra mục tiêu “phấn đấu trong giai đoạn 2001-2010 đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại”. Điều này hứa hẹn mở ra những bước đột phá trong
nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội, góp phần thực hiện “dân giầu, nước mạnh, xã hội
nhanh chóng; những thuận lợi và khó khăn về khách quan và chủ quan, có nhiều thời
cơ và cũng có nhiều nguy cơ, vừa tạo ra vận hội mới, vừa cản trở, thách thức nền
kinh tế của chúng ta, đan xen với nhau, tác động lẫn nhau. Vì vậy, đất nước chúng ta
phải chủ động sáng tạo nắm lấy thời cơ, phát huy những thuận lợi để đẩy mạnh quá
trình công nghiệp hoá tạo ra thế và lực mới để vượt qua những khó khăn, đẩy lùi
nguy cơ, đưa nền kinh tế tăng trưởng phát triển bền vững.
3. Tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Từ thập niên 60 của thế kỷ 20, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối công
nghiệp hóa và coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Phân tích những tác dụng cơ bản của công nghiệp hoá đối với
nền kinh tế đất nước hiện nay càng làm rõ ý nghĩa vai trò trung tâm của công nghiệp
hoá.
- Công nghiệp hoá tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng sản
xuất nhờ đó mà nâng cao vai trò của con người lao động – nhân tố trung tâm của nền
13
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
kinh tế xã hội chủ nghĩa; tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng và phát triển nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hoá mạng lại,
là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Đặc biệt góp phần tăng cường quyền lực, sức mạnh và hiệu quả của bộ máy
quản lỹ kinh tế của nhà nước.
- Quá trình công nghiệp hoá tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế nền
kinh tế độc lập, tự chủ vững mạnh trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và
hợp tác quốc tế.
- Công nghiệp hóa thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy
quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên canh tập trung làm cho
quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống nhất cao hơn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là quá trình cải biến lao động
thủ công , lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là phải cơ khí hoá nền kinh
tế quốc dân. Đó là bước chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền
kinh tế công nghiệp.
Đi liền với cơ khí là điện khí hoá và tự động hoá sản xuất từng bước và trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải
xây dựng và phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, trong đó then chốt là ngành
chế tạo tư liệu sản xuất. Sự phát triển của các ngành chế tạo tư liệu sản xuất là cơ sở
là “đòn xèo” để cải tạo, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển khu vực nông –
lâm – ngư nghiệp.
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là sử dụng kỹ thuật, công nghệ
ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xã hội cao. Tất cả những
điều đó chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở một nền khoa học – công nghệ phát triển
đến một trình độ nhất định.
* Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Công nghiệp hoá ở nước ta nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó,
công nghiệp hoá không chỉ là phát triển lực lượng sản xuất, mà còn là quá trình thiết
lập, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất, bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, nhất là quan hệ sở hữu
về tư liệu sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất.
Công nghiệp hóa, hiện đại hoá không chỉ là phát triển mạnh lực lượng sản xuất, khơi
dậy và khai thác mọ tiềm năng kinh tế, mọi nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh
15
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà quan hệ sản xuất sẽ tứng
bước được cải biến cho phù hợp.
* Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất -lực lượng sản xuất trong sư nghiệp
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
Sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu cân
thực hiện trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó, xây dựng sở hữu công
cộng về tư liệu sản xuất là tất yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hơn
nữa, sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất còn là công cụ quan trọng định hướng nền
kinh tế lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, việc xây dựng sở hữu công cộng về tư liệu
sản xuất phải trải qua một thời kỳ lâu dài, từ thấp đến cao và luôn phải đặt trong mối
liên hệ với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sở hữu công cộng về tư liệu
sản xuất không đơn giản là thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai
hình thức toàn dân và tập thể, mà điều quan trọng và khó khăn hơn là phải làm cho
sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn so
với hữu tư nhân.
Việt Nam không theo con đường chủ quan của tư bản, nhưng không phải triệt
tiêu tư bản và vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở có lợi cho đôi bên và học
hỏi những thành tựu tiên tiến của họ. Quan điểm từđại hội VI cũng đã khẳng định
không những khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cả thế mà phải
phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan
trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ
quáđộ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông qua sự nêu gương về các mặt
năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện đầy đủđối với nhà nước. Đối với thành
phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát
triển. Tuy nhiên với thành phần kinh tế này phải có những biện pháp để cho quan hệ
sản xuất thực hiện phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
trong thời kỳ quáđộ. Vì như thế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao
động.
C.Mác đã đưa ra kết luận rằng xã hội loài người phát triển trải qua nhiều giai
đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một hình thái kinh tế
- xã hội nhất định - rằng tiến bộ xã hội là sự vận động theo hướng tiến lên của các
hình thái kinh tế - xã hội khác mà gốc rễ sâu xa của nó là sự phát triển không ngừng
trở thành nước công nghiệp hiện đại. Để đạt được mục tiêu to lớn ấy chúng ta phải
thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nội dung cốt lõi là
phát triển lực lượng sản xuấtvà xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất. Chúng ta cần phải hiểu và vận dụng một cách tốt
nhất qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Trên thực tếrất khú cóđược sự phù hợp tuyệt đối giữa quan hệ sản
xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nhưng phải tuỳ theo
tình hình thực tế mà chọn giải pháp phù hợp. Nếu chúng ta sử dụng đúng các qui luật
trên cộng với điều hoà quan hệ lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất thì không lâu
sau nước ta sẽ tiến nhanh cùng với các nước phát triển tiến nhanh trên con đường
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đã chọn.
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong thời gian qua đã đạt
được những thành tựu to lớn: Công nghiệp phát triển với tốc độ cao (trên 10%/năm)
bao gồm cả công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và chế tác; nông nghiệp đã
được điều chỉnh theo hướng hiện đại, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn được
cập nhật nhiều và tiếp tục nghiên cứu tìm giải pháp; khoa học công nghệ và kinh tế
tri thức đóng vai trò là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đạt
được những thành tựu trên có đóng góp rất lớn của việc vận dụng tốt mối quan hệ
biện chững giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
19
Lê Minh Sơn
KTB-53-ĐHT1
20