Triet hoc Mac Lenin potx - Pdf 15

MỤC LỤC

Câu 1: Các quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học Mác - Lênin; nội dung và ý
nghĩa định nghĩa vật chất của Lê nin. Tính thống nhất vật chất của thế giới.
(trang 2)
Câu 2: Quan điểm Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất của ý thức. Vai trò của ý
thức đối với vật chất (trang 6)
Câu 3: Việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Sự khác biệt căn bản
giữa quan điểm trên với quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác trong việc giải
quyết mối quan hệ trên. (trang 11)
Câu 4: Nội dung và ý nghĩa của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện
chứng duy vật (trang 13)
Câu 5: Nội dung và ý nghĩa của nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy
vật (trang 16)
Câu 6: Nội dung và ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
(quy luật mâu thuẫn) (trang 18)
Câu 7: Nội dung và ý nghĩa của quy luật từ những sự thay đổi về lượng thành những
sự thay đổi về chất và ngược lại (trang 22)
Câu 8: Việc vận dụng quy luật từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay
đổi về chất và ngược lại vào thực tiễn cách mạng Việt Nam (trang 25)
Câu 9: Nội dung và ý nghĩa của cặp phạm trù: cái chung và cái riêng (trang 26)
Câu 10: Bản chất của nhận thức (trang 29)
Câu 11: Quan điểm Mác - Lênin về thực tiễn và vai trò thực tiễn đối với nhận thức.
Ý nghĩa phương pháp luận (trang 30)
Câu 12: Quá trình phát triển hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên.
Sự vận dụng quan điểm trên của Đảng ta (trang 33)
Câu 13: Quy luật sự phù hợp giữa QHSX với trình độ phát triển của LLSX. Sự vận
dụng của Đảng ta (trang 37)
Câu 14: Quan điểm triết học Mác –Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng. Sự vận dụng của Đảng ta (trang 43)
Câu 15: Nguồn gốc, bản chất, đặc trưng và chức năng của Nhà nước (trang 46)

+Hy Lạp: có rất nhiều quan niệm về VC như Talet (VC là nước), Aximen (VC
là không khí), Araximan (VC là apârôn - chất không định hình), Hêraclit (VC là lửa),
Đêmôcrit, Lơxip…(VC là nguyên tử)
=> Nhận xét:
 Hợp lý: những quan niệm thời kỳ cổ đại đã đồng nhất VC với dạng cụ thể
cuả VC, hay nói cách khác là đồng nhất VC với bản thể cụ thể của vũ trụ (bản chất
của tự nhiên)
 Hạn chế: quan niệm còn mang tính trực quan (đi tìm bản thể của vũ trụ
nhưng lại gán vào những sự vật mà con người có thể quan sát trực tiếp được như:
nước, lửa, không khí…)
-Thời kỳ trung đại: triết học, khoa học không phát triển nên phạm trù VC
không được đề cập đến.
-Thời kỳ cận đại: với sự phát triển của cơ học Niutơn, 1 mặt đã tiếp tục đồng
nhất VC với nguyên tử, 1 mặt đã vận dụng cơ học Niutơn vào phạm trù VC vì khối
lượng vật không đổi (định luật bảo toàn khối lượng) mà khối lượng là lượng VC
trong vật, đã đồng nhất VC với khối lượng vì cho rằng VC là thực thể bất biến, tồn
tại không bao giờ mất, xuất hiện đầu tiên.
=> Nhận xét:
2
 Hợp lý: quan niệm trên đã đồng nhất VC với tư cách là bản thể của giới tự
nhiên với thuộc tính vật lý cụ thể của sự vật trong tự nhiên (khắc phục được tính trực
quan)
 Hạn chế: quan niệm rơi vào siêu hình vì đã gán những thuộc tính vật lý của
sự vật vào phạm trù triết học, áp dụng 1 cách máy móc.
b) Quan điểm của C.Mác, Ăngghen:
-C.Mác, Ăngghen chưa có định nghĩa cụ thể, giáo khoa về phạm trù VC nhưng
mỗi người đều có những nhận định, quan niệm rõ ràng về VC.
-C.Mác cho rằng: “VC với tính cách là VC, là sản phẩm thuần túy của tư duy
và không có tính chất cảm tính”, VC là phạm trù triết học.
-Ăngghen gợi ý: “chúng ta có thể ăn được quả lê, quả mận, quả anh đào

quát 1 cách sâu sắc những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX
3
- đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm; năm
1908 trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”,
V.I.Lênin đã nêu ra định nghĩa kinh điển về VC:
“Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin toàn tập, NXB Tiến bộ,
Mátxcơva, 1980)
c) Phân tích nội dung định nghĩa: ở định nghĩa này, Lênin đã phân biệt 2 vấn
đề quan trọng:
-Trước hết, là phân biệt VC với tư cách là phạm trù triết học với các quan
niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng,
các dạng VC khác nhau. VC với tư cách là phạm trù triết học dùng để chỉ VC nói
chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng VC
khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành
cái khác.
Vì vậy, không thể quy VC nói chung về vật thể, không thể đồng nhất VC nói
chung với những dạng cụ thể của VC như các nhà duy vật trong lịch sử cổ đại, cận
đại đã làm. Vì VC là phạm trù khái quát nhất, rộng lớn nên chỉ có 1 phương pháp
định nghĩa duy nhất đúng là đặt nó trong mối quan hệ và phải thông qua phạm trù đối
lập với nó là ý thức.
-Thứ hai, là trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để nhận biết VC
chính là “thuộc tính khách quan”. Theo V.I.Lênin, khách quan là “cái tồn tại độc
lập với loài người và với cảm giác của con người”; trong đời sống xã hội, VC “theo
ý nghĩa là tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người”; về mặt
nhận thức luận thì khái niệm VC là “thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức
con người và được ý thức con người phản ánh”.
Cho nên nói đến VC là nói đến tất cả những gì đã, đang và sẽ tồn tại thực, bên
ngoài ý thức con người. VC là hiện thực chứ không phải là hư vô và hiện thực này là

duy vật trước Mác về phạm trù VC.
-Định nghĩa VC của Lênin đã khắc phục được tính chất chủ quan, siêu hình,
máy móc trong quan niệm về VC của chủ nghĩa duy vật cũ, đồng thời kế thừa và phát
huy được những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về VC.
-Định nghĩa VC của V.I.Lênin đã góp phần đưa chủ nghĩa duy vật lên 1 tầm
cao mới, làm cơ sở khoa học xây dựng quan niệm duy vật biện chứng trong lĩnh vực
xã hội; đồng thời góp phần khắc phục sự khủng hoảng về mặt thế giới quan trong đội
ngũ các nhà triết học và khoa học tự nhiên lúc bấy giờ. Qua đó thúc đẩy họ tiếp tục đi
sâu nghiên cứu, tìm hiểu thế giới VC, củng cố thêm mối liên minh chặt chẽ giữa
khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy vật triết học.
3-Tính thống nhất VC của thế giới:
-Qua quan sát, chúng ta có thể nhận thấy các sự vật, hiện tượng trong thế giới
rất đa dạng, phong phú và chúng rất gắn bó mật thiết, phụ thuộc vào nhau và hoàn
toàn thống nhất với nhau.
Các nhà triết học duy tâm tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới ở “ý niệm tuyệt
đối” hoặc ở ý thức của con người. Các nhà duy vật trước Mác lại có khuynh hướng
chung là tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới ngay trong bản thân nó. Nhưng do ảnh
hưởng của quan điểm siêu hình, máy móc nên họ cho rằng mọi hiện tượng của thế
giới đều được cấu tạo từ những vật thể ban đầu giống nhau, thống nhất với nhau,
cùng bị chi phối bởi 1 số quy luật nhất định. Quan điểm ấy không phản ánh được tính
nhiều vẻ, tính vô tận của thế giới hiện thực.
-Bằng sự phát triển lâu dài của bản thân triết học và sự phát triển của khoa học,
chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định rằng: bản chất của thế giới là VC, thế
giới thống nhất ở tính VC. Điều đó được thể hiện ở những điểm sau:
+Một là, chỉ có 1 thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới VC. Thế giới VC
tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức của con người.
+Hai là, mọi bộ phận của thế giới VC đều có mối liên hệ thống nhất với nhau
(đều là những dạng cụ thể của VC, là những kết cấu VC hoặc có nguồn gốc VC, do
VC sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan)
5

*Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: với các triết gia tiêu biểu như Béccli, Hium,
Phíchtơ, Cantơ…lại cho rằng nguồn gốc YT mang tính chủ quan, cảm giác, YT là cái
có trước và tồn tại sẵn trong con người, trong chủ thể nhận thức, còn các sự vật bên
ngoài chỉ là phức hợp của các cảm giác ấy mà thôi.
*Chủ nghĩa duy vật siêu hình: đã phát hiện ra nguồn gốc nhận thức của YT,
chỉ ra được mối liên hệ khăng khít giữa VC và YT, thừa nhận VC có trước, YT phụ
thuộc vào VC. Họ cho rằng YT là sản phẩm của nhận thức con người, phản ánh các
sự vật, hiện tượng trong tự nhiên. Nhìn chung, CNDV siêu hình đã nói được nguồn
gốc tự nhiên của YT nhưng do khoa học chưa phát triển và ảnh hưởng của quan điểm
siêu hình, máy móc nên họ không giải thích đúng, đầy đủ nguồn gốc và bản chất của
YT.
b) Quan điểm triết học Mác - Lênin: triết học Mác - Lênin đã khái quát YT có
2 nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc XH.
6
*Nguồn gốc tự nhiên:
-Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là về sinh lý học
thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã xác định nguồn gốc tự nhiên của YT là
bộ óc người và sự tác động của hiện thực khách quan vào bộ óc con người. YT
không phải có nguồn gốc siêu tự nhiên, không phải YT sản sinh ra VC mà YT là 1
thuộc tính của VC, nhưng không phải là của mọi dạng VC mà chỉ là thuộc tính của 1
dạng VC có tổ chức cao là bộ óc con người.
+Bộ óc con người: là 1 yếu tố tạo nên YT, là cơ quan VC của YT. YT là chức
năng của bộ óc con người, nó phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc người nên khi bộ
óc người bị tổn thương thì hoạt động của YT sẽ không bình thường. Vì thế không thể
tách rời YT ra khỏi hoạt động của bộ óc, YT không thể diễn ra, tách rời hoạt động
sinh lý thần kinh của bộ óc người.
 Các sự vật, hiện tượng đều có thuộc tính phản ánh - đó là sự tái tạo những
đặc điểm của 1 hệ thống VC này ở hệ thống VC khác trong quá trình tác động qua lại
của chúng. Trong quá trình tiến hóa của thế giới VC, các vật thể càng ở bậc thang
cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu, trình độ phản

tạo ra cả bản thân con người và nhờ có lao động mà con người tách ra khỏi động vật.
Nói cách khác, chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan
mà con người có thể phản ánh được thế giới khách quan, mới có YT về thế giới đó.
+Sự hình thành YT không phải là quá trình thụ nhận thụ động mà là kết quả
hoạt động chủ động của con người. Qua lao động, con người tác động vào thế giới
khách quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật vận
động của mình thành những hiện tượng nhất định và nó tác động vào bộ óc người,
hình thành những tri thức về tự nhiên và XH, làm tri thức của con người ngày càng
nhiều, phong phú hơn. Vì vậy, YT được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế
giới khách quan của con người và làm biến đổi thế giới đó.
Tóm lại, lao động tạo ra YT tư tưởng hay nói cách khác nguồn gốc cơ bản của
YT tư tưởng là sự phản ánh thế giới khách quan và đầu óc con người trong quá trình
lao động của con người.
-Ngôn ngữ:
+Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất mà ngay từ đầu nó đã mang
tính tập thể XH của 1 cộng đồng người, 1 tập đoàn người. Vì thế, trong quá trình lao
động với những nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và trao đổi tư tưởng cho nhau đã làm
nảy sinh giao tiếp, đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ.
+Ngôn ngữ là do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Nó là
hệ thống tín hiệu VC mang nội dung YT, không có ngôn ngữ thì YT không thể tồn
tại và thể hiện được.
+Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong XH, vừa là công cụ của tư duy
nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể
tổng kết thực tiễn, trao đổi thông tin, tri thức, kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ
khác. YT không chỉ thuần túy là hiện tượng cá nhân mà là hiện tượng XH nên không
có phương tiện trao đổi XH về mặt ngôn ngữ thì YT không thể hình thành, phát triển
được.
-Ngoài ra, con người không chỉ tồn tại trong tự nhiên mà còn trong XH, tồn tại
trong các mối quan hệ với nhau trên các phương diện như chính trị, kinh tế, văn hóa,
đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ…

giới khách quan được thể hiện trong bộ não con người. Giữa VC và YT có sự khác
nhau mang tính đối lập, YT là sự phản ánh, là cái phản ánh; còn VC là cái được phản
ánh. Cái được phản ánh (tức VC) tồn tại khách quan, ở ngoài và độc lập với cái phản
ánh (tức YT). Còn YT là hiện thực chủ quan, lấy cái khách quan làm tiền đề và bị cái
khách quan quy định. Vì vậy không thể đồng nhất hoặc tách rời VC và YT.
-Phản ánh của YT là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan thì không phải
là hình ảnh vật lý, hình ảnh tâm lý động vật về sự vật. YT là của con người mà con
người là 1 thực thể XH năng động, sáng tạo và YT ra đời trong quá trình con người
hoạt động cải tạo thế giới nên YT con người cũng mang tính năng động, sáng tạo lại
hiện thực theo nhu cầu thực tiễn XH.
Nghĩa là con người dựa trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào
sự vật, hiện tượng làm cho chúng bộc lộ các thuộc tính, tính chất của mình và qua đó
con người có thêm hiểu biết về sự vật, hiện tượng hơn. Vì trong hiện thực khách
quan các sự vật, hiện tượng là muôn hình muôn vẻ và bộ óc con người chỉ phản ánh
những cái cần, những gì thực tiễn yêu cầu phải nhận thức được; vì thế đòi hỏi con
người phải luôn năng động để chọn lọc, tìm kiếm, xác định những nội dung để có thể
phản ánh, cải biến tự nhiên nhằm phát triển nhận thức. Đồng thời, sự phản ánh hiện
thực khách quan vào bộ óc con người phải cần có sự sáng tạo, vì không chỉ phản ánh
hiện thực ở hiện tại mà còn ở quá khứ và tương lai, xây dựng được 1 mô hình trong
tư duy và tạo nên 1 hệ thống lý luận thể hiện hiện thực khách quan thì YT con người
mới phát triển được.
-Theo Mác, “YT chẳng qua chỉ là VC được đem chuyển vào trong đầu óc con
người và được cải biến đi trong đó”, cho nên sự phản ánh của YT mang dấu ấn sâu
sắc của chủ thể phản ánh.
+Sự phản ánh của YT phụ thuộc vào trình độ, năng lực của chủ thể. Đó là tri
thức, sự hiểu biết của chủ thể về tự nhiên và XH. Trình độ của chủ thể càng cao thì
9
khả năng xác định mục đích, phương tiện và phương pháp phản ánh càng chính xác
và ngược lại.
+Sự phản ánh của YT phụ thuộc vào kinh nghiệm của chủ thể.

hiệu quả, thậm chí phản tác dụng, gây kìm hãm, nguy hại cho chính bản thân con
người và hiện thực khách quan.
+Khả năng của YT tác động trở lại VC không chỉ phụ thuộc vào năng lực phản
ánh của YT, tình cảm, ý chí, bản lĩnh, kinh nghiệm…của chủ thể mà còn phụ thuộc
rất lớn vào điều kiện khách quan.
=> Tóm lại, để hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, con
người phải xuất phát từ thực tế khách quan, biết tôn trọng và hành động theo quy luật
khách quan; đồng thời phát huy cao nhất vai trò của nhân tố chủ quan. Bên cạnh đó,
phải phát huy tính năng động, sáng tạo, chủ động của YT và đề cao sự vận dụng
những học thuyết về khoa học, XH; phát huy vai trò nhân tố con người; phát huy
10
những yếu tố tinh thần, truyền thống, coi trọng ý chí, niềm tin của con người trong
việc vận dụng, áp dụng trong hoạt động thực tiễn để để tác động và cải tạo hiện thực
khách quan nhằm phục vụ những nhu cầu cuộc sống của con người. Ngoài ra, cũng
cần phải chống chủ nghĩa khách quan, định mệnh, khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ,
thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại, trông chờ điều kiện khách quan và chống thái độ chủ
quan, duy ý chí, tuyệt đối hóa vai trò của YT, tinh thần.
Từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và từ những kinh nghiệm thực tiễn có
cả thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã rút ra bài học kinh nghiệm có ý nghĩa và quan trọng là “mọi đường lối,
chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Vì
thế trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH nước ta hiện nay, Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XI đã khẳng định: “toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, triệu người như một,
năng động, sáng tạo, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, tiếp tục nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững, quyết tâm thực
hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững
bước đi lên chủ nghĩa xã hội”
Câu 3: Anh (chị) hãy trình bày quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? Điểm

*VC quyết định YT:
-VC quyết định YT về nguồn gốc, nội dung, bản chất và sự vận động, phát
triển. VC tồn tại khách quan, độc lập với YT, VC có trước YT và là nguồn gốc sinh
ra YT.
-Thế giới khách quan là nguồn gốc của YT, quyết định nội dung và sự vận
động, phát triển của YT. Tính chất năng động, sáng tạo, có mục đích của YT bắt
nguồn trực tiếp từ hoạt động VC - hoạt động thực tiễn của con người, nhưng suy cho
cùng cũng là do thế giới khách quan quy định
*YT có thể tác động trở lại VC thông qua hoạt động thực tiễn thì con
người phải phát huy tính năng động, sáng tạo chủ quan.
-Do có tính năng động, sáng tạo và độc lập tương đối so với VC nên YT có vai
trò, định hướng và chỉ đạo mọi hoạt động thực tiễn của con người. Thông qua những
hoạt động thực tiễn đó, YT có thể tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự vận động, biến
đổi và phát triển các điều kiện VC, góp phần cải biến thế giới khách quan.
+Nếu YT phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan thì sẽ giúp con
người hoạt động đúng và thành công trong việc cải tạo có hiệu quả, thúc đẩy sự phát
triển của hiện thực khách quan.
+Ngược lại, YT phản ánh không đúng sẽ làm cho hoạt động của con người
kém hiệu quả, thậm chí phản tác dụng, gây kìm hãm, nguy hại cho chính bản thân
con người và hiện thực khách quan.
-Khả năng của YT tác động trở lại VC không chỉ phụ thuộc vào năng lực phản
ánh của YT, tình cảm, ý chí, bản lĩnh, kinh nghiệm…của chủ thể mà còn phụ thuộc
rất lớn vào điều kiện khách quan.
=> C.Mác đã khẳng định rằng: “Vũ khí phê phán không thể thay thế sự phê
phán bằng vũ khí, 1 lực lượng VC chỉ có thể bị đánh đổ bởi 1 lực lượng VC nhưng lý
luận 1 khi đã xâm nhập vào quần chúng cũng trở thành VC”.
d) Ý nghĩa phương pháp luận:
-Để hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, con người phải
xuất phát từ thực tế khách quan, biết tôn trọng và hành động theo quy luật khách
quan; đồng thời phát huy cao nhất vai trò của nhân tố chủ quan. Bên cạnh đó, phải

định đối với những quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình trước Mác thì: “chỉ
nhìn thấy những vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những
vật ấy, chỉ nhìn thất sự tồn tại của những vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và
sự tiêu vong của những vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà
quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.
Câu 4: Anh (chị) hãy trình bày nội dung và ý nghĩa của nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến của phép biện chứng duy vật?
Phép biện chứng duy vật được xây dựng dựa trên cơ sở 1 hệ thống những
nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện
thực. Trong hệ thống đó thì nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự
phát triển là 2 nguyên lý khái quát, cơ bản nhất. Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “phép
biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận
động và sự phát triển của tự nhiên, của XH loài người và của tư duy”.
1-Nội dung của nguyên lý:
a) Quan điểm trước Mác:
*Chủ nghĩa duy tâm khách quan: thừa nhận có những mối liên hệ của các sự
vật, hiện tượng nhưng khi giải thích về nguồn gốc của mối liên hệ lại mắc sai lầm vì
cho rằng nguồn gốc mối liên hệ thuộc về 1 lực lượng tinh thần nào đó tồn tại khách
quan ở bên ngoài, bên trên thế giới các sự vật, hiện tượng. (Ví dụ: Platôn cho rằng
mối liên hệ các sự vật, hiện tượng có tồn tại nhưng có nguồn gốc từ thế giới ý niệm,
thế giới các sự vật, hiện tượng mà chúng ta có thể cảm nhận được chỉ là hình bóng
phản ánh của thế giới ý niệm)
13
*Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: thừa nhận các sự vật, hiện tượng có mối liên
hệ nhưng cho rằng mối liên hệ đó không phải do các sự vật, hiện tượng tạo ra mà mối
liên hệ đó là do thói quen của con người khi nhìn nhận các sự vật, hiện tượng; khi
xem xét các sự vật, hiện tượng con người có thói quen sắp xếp các sự vật với nhau để
xem xét, so sánh và đối chiếu sự vật này với sự vật khác.
*Chủ nghĩa duy vật siêu hình: nhìn chung là không thừa nhận mối liên hệ vì
theo quan điểm siêu hình, máy móc chỉ nhìn nhận sự vật, hiện tượng tồn tại 1 cách cô

gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện cũng khác nhau. Có
thể chia các mối liên hệ thành nhiều loại: MLH bên trong, MLH bên ngoài, MLH
trực tiếp, MLH gián tiếp, MLH chủ yếu, MLH thứ yếu…Các MLH này có vị trí, vai
trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng. (Ví dụ: MLH cơ
bản, bên trong, trực tiếp, bản chất, chủ yếu và tất nhiên có vai trò, ý nghĩa quan trọng
và mang tính quyết định đối với sự vật, hiện tượng; còn MLH không cơ bản, bên
14
ngoài, gián tiếp, không bản chất, thứ yếu, ngẫu nhiên thì cũng có vai trò, ý nghĩa đối
với sự vật, hiện tượng nhưng không mang tính quyết định)
2-Ý nghĩa phương pháp luận:
-Vì các MLH là sự tác động qua lại, chuyển hóa và quy định lẫn nhau giữa các
sự vật, hiện tượng và các MLH mang tính khách quan, tính phổ biến nên trong hoạt
động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, chúng ta phải luôn tôn trọng quan
điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện.
+Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải nhận thức về sự vật trong MLH
qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự vật đó và trong sự tác động
qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác (cả trong MLH trực tiếp và gián tiếp), qua
những cơ sở đó thì mới có thể nhận thức đúng đắn, chính xác về sự vật.
+Đồng thời, đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng MLH, biết chú ý đến
MLH bên trong, bản chất, chủ yếu, tất nhiên và sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các
MLH để hiểu rõ bản chất của sự vật, hiện tượng và có những phương pháp tác động
thích hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của cá nhân.
+Ngoài ra, trong hoạt động thực tiễn khi tác động vào sự vật không chỉ chú ý
đến những MLH nội tại của nó mà còn chú ý đến những MLH của sự vật đó với sự
vật khác; biết sử dụng đồng bộ, sáng tạo và linh hoạt những biện pháp, phương tiện
khác nhau để tác động vào sự vật đem lại hiệu quả cao nhất.
Ví dụ: đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay, Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI đã xác định muốn “đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát
triển đất nước nhanh, bền vững, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” thì

biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận
động và sự phát triển của tự nhiên, của XH loài người và của tư duy”.
1-Nội dung của nguyên lý:
a) Quan điểm trước Mác:
*Chủ nghĩa duy tâm khách quan: nhìn chung họ thừa nhận có sự phát triển
nhưng khi xác định, giải thích về nguồn gốc của sự phát triển thì họ lại mắc sai lầm.
Vì các nhà duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc sự phát triển của sự vật thuộc về
1 lực lượng tinh thần siêu nhiên nào đó, tồn tại khách quan bên ngoài các sự vật, hiện
tượng tạo nên sự phát triển. Như Platôn cho rằng thế giới ý niệm có chứa đựng sự
phát triển nên sự phát triển của sự vật, hiện tượng là hình bóng của thế giới ý niệm;
Hêghen lại khẳng định có sự phát triển nhưng nó có nguồn gốc từ ý niệm tuyệt đối.
*Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: quan niệm rằng các sự vật, hiện tượng có sự
phát triển nhưng sự phát triển đó đều do thói quen, những quan niệm của con người
tạo nên; khi con người quan niệm có sự phát triển thì các sự vật, hiện tượng mới có
phát triển.
*Chủ nghĩa duy vật siêu hình: có rất nhiều quan điểm khác nhau
-Quan niệm cực đoan: không thừa nhận có sự phát triển; các sự vật, hiện tượng
sinh ra như thế nào thì mãi mãi là như thế ấy, không thay đổi.
-Một số khác lại cho rằng: thừa nhận có sự phát triển nhưng đó chỉ là sự tăng
lên hay giảm đi đơn thuần về mặt lượng, chứ không có sự thay đổi gì về chất, không
có sự phát triển từ sự vật này sang sự vật khác ở 1 trình độ cao hơn.
-Các nhà duy vật siêu hình khác lại xác định có sự phát triển, đó là sự tăng lên
hay giảm đi đơn thuần về mặt lượng và có sự thay đổi nhất định về mặt chất nhưng
sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo 1 vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra
cái mới với những chất mới hay cho rằng sự vật mới ra đời không có liên quan gì đến
sự vật cũ, không kế thừa sự vật cũ. Vì vậy, những người theo quan điểm siêu hình,
máy móc xem sự phát triển như là 1 quá trình tiến lên liên tục, là sự đơn giản, phát
triển theo đường thẳng chứ không có những bước quanh co, thăng trầm, phức tạp,
cho rằng ngày hôm nay hơn ngày hôm qua và ngày hôm sau hơn ngày hôm nay mới
gọi là phát triển.

cơ bản như sau: tính tất yếu khách quan, tính phổ biến và tính biện chứng, đa dạng,
phong phú.
-Tính tất yếu khách quan: sự vật phát triển là 1 quy trình tất yếu của sự vận
động vũ trụ và nó bao giờ cũng mang tính khách quan. Bởi vì nguồn gốc của sự phát
triển nằm trong chính bản thân sự vật; phát triển là cái vốn có của sự vật, hiện tượng
và nó thuộc về các sự vật, hiện tượng. Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu
thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó mà sự vật phát triển.
Vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con
người.
-Tính phổ biến: sự phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, XH, tư duy; ở
bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan. Kể cả các khai niệm, các
phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển; chỉ
trên cơ sở phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm, các phạm trù
mới có thể phản ánh đúng đắn, chính xác hiện thực luôn vận động, phát triển.
-Tính biện chứng, đa dạng, phong phú:
+Sự phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng; song mỗi
sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau. Lĩnh vực khác nhau
thì sự phát triển khác nhau; sự phát triển của sự vật này không bao giờ hoàn toàn
17
giống với sự phát triển của sự vật khác; sự phát triển của sự vật tồn tại trong không
gian khác nhau, thời gian khác nhau thì sự phát triển cũng khác nhau.
+Tính biện chứng của sự phát triển: phát triển là quá trình biện chứng, thể hiện
ở chỗ quá trình phát triển luôn chứa đựng nhiều mâu thuẫn, chính nhờ có những mâu
thuẫn đó làm cơ sở, động lực cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng. Sự phát triển là
quá trình thống nhất giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất; quá trình phát
triển là quá trình diễn ra sự phủ định biện chứng, trong đó sự phát triển bao giờ cũng
chứa đựng sự kế thừa những yếu tố, những mặt tích cực ở sự vật cũ nhưng vẫn còn
tác dụng ở sự vật mới, giai đoạn mới và sự kế thừa đó là kế thừa có chọn lọc, cải tạo.
+Ngoài ra, sự phát triển còn là 1 quá trình phức tạp, quanh co. Trong quá trình
phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của

nhận xét được chính xác hơn.
Câu 6: Anh (chị) hãy trình bày nội dung và ý nghĩa của quy luật thống nhất và
đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn)?
18
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) là 1
trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện
chứng duy vật. Nó chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của các
sự vật, hiện tượng.
V.I.Lênin đã viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về
sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện
chứng nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và 1 sự phát triển thêm”.
1-Định nghĩa:
*Mặt đối lập: là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt có đặc điểm, những
thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau.
Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật.
Ví dụ: trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân, trong sinh vật có quá trình đồng
hóa và dị hóa, trong thị trường có cung và cầu…
*Mâu thuẫn biện chứng: các mặt đối lập nằm trong sự liện hệ và tác động
qua lại với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Nó tồn tại khách quan và phổ biến
trong tự nhiên, XH và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu
thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức.
*Sự thống nhất của các mặt đối lập: là sự nương tựa vào nhau, không tách
rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia
làm tiền đề.
*Đấu tranh của các mặt đối lập: là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ
và phủ định lẫn nhau.
2-Nội dung của quy luật:
a) Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận
động và phát triển:
-Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là 2 xu hướng tác động khác

diệt lẫn nhau của các mặt đối lập chỉ là 1 trong những hình thức đấu tranh của chúng.
+Mâu thuẫn tồn tại ở mọi giai đoạn, mọi quá trình phát triển; các mặt đối lập
lúc nào cũng đấu tranh với nhau. Vì thế, đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự
vận động và phát triển, đấu tranh phá vỡ sự thống nhất cũ, thiết lập sự thống nhất
mới cao hơn. Trong quá trình đó, trong sự thống nhất mới lại xuất hiện mâu thuẫn
mới và lại tiếp tục đấu tranh làm cho sự vật, hiện tượng luôn vận động và phát triển.
*Nói tóm lại, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách
rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển của sự vật, hiện
tượng bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tình ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Do
đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển; trong đó sự đấu
tranh của các mặt đối lập là yếu tố trực tiếp gây nên sự biến đổi, vận động, phát triển
của sự vật.
b) Những giai đoạn phát triển của mâu thuẫn:
Sự vật mới ra đời lúc đầu đã xuất hiện mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn lúc đầu thể
hiện chỉ là sự khác nhau cơ bản của các mặt. Trong quá trình vận động của các sự vật
thì mâu thuẫn phát triển đến trình độ thể hiện sự đối lập của các mặt đối lập đó; sau
đó mâu thuẫn tiếp tục phát triển đến giai đoạn mâu thuẫn chín muồi, cũng chính là sự
đối lập của các mặt đối lập được biểu hiện thật sự gay gắt nên yêu cầu bức thiết đòi
hỏi phải giải quyết mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn được giải quyết, kết thúc sự vật cũ, sản
sinh ra sự vật mới và có những mâu thuẫn mới.
c) Phân loại mâu thuẫn:
-Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng cũng như trong tất cả các
giai đoạn phát triển của chúng. Mâu thuẫn hết sức đa dạng, phong phú và tính phong
phú, đa dạng đó lại được quy định khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi
điều kiện tác động qua lại của chính và bởi trình độ tổ chức của sự vật mà trong đó
mâu thuẫn tồn tại.
-Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, ta có thể phân biệt thành 2
loại mâu thuẫn:
20

thuẫn sau:
*Mâu thuẫn đối kháng: là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn
người có lợi ích cơ bản đối lập nhau.
*Mâu thuẫn không đối kháng: là mâu thuẫn giữa những lực lượng XH có lợi
ích cơ bản thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ,
tạm thời.
=> Tóm lại, từ những phân tích trên chúng ta có thể rút ra nội dung cơ bản của
quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) của phép
biện chứng duy vật như sau: mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng
biến đổi ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập. Mối liên hệ của 2 mặt đối lập
tạo nên mâu thuẫn. Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và chuyển hóa lẫn nhau,
làm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thay thế
cái cũ.
21
3-Ý nghĩa phương pháp luận: Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và
hoạt động thực tiễn của con người.
-Chúng ta muốn hiểu bản chất của sự vật và tìm ra phương hướng, giải pháp
đúng đắn cho hoạt động thực tiễn thì cần phải đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, phát hiện
ra những mâu thuẫn của sự vật. Muốn phát hiện ra những mâu thuẫn đó thì phải tìm
ra trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức là tìm
ra những mặt đối lập, những mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt
đối lập đó.V.I.Lênin đã viết: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các
bộ phận của nó, đó là thực chất của phép biện chứng”.
-Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng
mâu thuẫn; xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn; phải
xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác
động qua lại, điều kiện chuyển hóa lẫn nhau của chúng. Từ đó mới có thể hiểu đúng
về xu hướng vận động, phát triển và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn.
-Muốn thúc đẩy sự vật phát triển thì phải tìm mọi cách để giải quyết mâu

vật nên mỗi sự vật có rất nhiều chất. Chất và sự vật có mối quan hệ chặt chẽ, không
tách rời nhau.
-Trong các thuộc tính đó có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản;
những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại thành chất của sự vật. Chính chúng quy
định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, chỉ khi nào chúng thay đổi hay mất
đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi. Thuộc tính của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối
liên hệ cụ thể với các sự vật khác.
-Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo
thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, tức là kết cấu của
sự vật vì trong thực tế các sự vật tạo thành bởi các yếu tố như nhau nhưng chất lại
khác nhau.
Ví dụ: kim cương, than chì đều có chung thành phần hóa học là Cacbon (C)
nhưng về kết cấu C lại khác nhau nên kim cương rất cứng và than chì lại mềm.
*Lượng: là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về
mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các
thuộc tính của sự vật để phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác
về quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển.
-Lượng là cá vốn có của sự vật nhưng nó chưa làm cho sự vật là nó, chưa làm
cho nó khác với những cái khác. Lượng tồn tại cùng với chất của sự vật và cũng
mang tính khách quan như chất của sự vật.
-Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy
mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…Trong thực tế
lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụ thể (như vận
tốc ánh sáng là 300.000/s…); ngoài ra có những lượng chỉ biểu thị dưới dạng trừu
tượng, khái quát (như tri thức khoa học của 1 người, ý thức trách nhiệm…); có lượng
biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong của sự vật (như số lượng nguyên tử hợp
thành nguyên tố hóa học…); có lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật
(chiều dài, rộng, cao của sự vật…)
*Tóm lại, sự phân biệt giữa chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối.
Có những tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, nhưng trong mối

đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật.
-Sự vật tích lũy đủ về lượng tại điểm nút và sẽ tạo ra bước nhảy, chất mới ra
đời.
*Bước nhảy: là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự
vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên.
Bước nhảy là sự kết thúc 1 giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu
của 1 giai đoạn phát triển mới. Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát
triển liên tục của sự vật.
-Như vậy, sự phát triển của bất kỳ sự vật nào cũng bắt đầu từ sự tích lũy về
lượng trong độ nhất định cho tới điểm nút để thực hiện bước nhảy về chất. Song
điểm nút của quá trình ấy không cố định mà có thể có những thay đổi do tác động
của những điều kiện khách quan, chủ quan quy định.
b) Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng:
-Chất mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng của sự vật. Sự tác động ấy
được thể hiện ở chỗ: chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp
điệu của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: khi chất lỏng chuyển sang chất hơi làm cho vận tốc của các phân tử
nước cao hơn, thể tích hơi nước lớn hơn và độ hòa tan khác với trước…
-Như vậy, không chỉ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
mà những thay đổi về chất cũng đã dẫn đến những thay đổi về lượng của sự vật, hiện
tượng.
c) Các hình thức cơ bản của bước nhảy:
-Dựa trên nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật, có thể chia thành
2 loại bước nhảy sau:
*Bước nhảy đột biến: là bước nhảy được thực hiện trong 1 thời gian rất ngắn
làm thay đổi chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật.
*Bước nhảy dần dần: là bước nhảy thực hiện từ từ, từng bước bằng cách tích
lũy dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất đi
24
-Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật, ta có thể chia thành 2 loại

hoạt, sáng tạo các hình thức của bước nhảy. Sự vận dụng này tùy thuộc vào việc phân
tích đúng đắn những điều kiện khách quan, những nhân tố chủ quan; tùy thuộc theo
từng trường hợp, điều kiện hay quan hệ cụ thể. Đồng thời, sự thay đổi về chất của sự
vật còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự
vật. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, trong nhận thức và tư duy, con người phải biết
cách tác động vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật trên cơ sở đã
hiểu rõ bản chất, quy luật và kết cấu của sự vật.
Câu 8: Việc vận dụng quy luật từ những sự thay đổi về lượng thành những sự
thay đổi về chất và ngược lại vào thực tiễn cách mạng Việt Nam?
-Trong cách mạng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta đã nắm được
quy luật của sự biến đổi, vận dụng lý luận quy luật từ những sự thay đổi về lượng
thành những sự thay đổi về chất và ngược lại vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Chúng ta phải xây dựng lực lượng cách mạng dần dần, từ nhỏ đến lớn, từ những trận
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status