3
Luận văn
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động xuất khẩu nông sản tại công
ty xuất nhập khẩu dịch vụ – thương mại
Intimex
4
LỜI NÓI ĐẦU
Chúng ta đều biết rằng hoạt động xuất khẩu có một vai trò hết sức quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia , đặc biệt là đối với Việt
Nam
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu đã trở thành một tiền đề hết sức cần thiết cho
công cuộc công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước cũng như góp phần cải thiện
nâng cao đời sống nhân dân bởi vì chỉ có thông qua hoạt động xuất khẩu , Việt
Nam mới có thể khai thác được hết các tiềm năng sẵn có của mình đồng thời tận
dụng được tối đa những nguồn vốn từ bên ngoài để thúc đẩy sản xuất trong nước
phát triển nền kinh tế quốc dân . Chính vì vậy , việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt
động xuất khẩu , nâng cao kim ngạch xuất khẩu luôn là mối quan tâm chung của
chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp ngoại thương . Nghị quyết trung ương
VIII của Đảng đã nhấn mạnh “ Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với phân công lao
Chương III : Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất
khẩu nông sản tại công ty Intimex .
Vì trình độ và khả năng cũng như lượng thông tin hạn chế nên bài viết
chắc chắn không thể tránh khỏi còn nhiều thiếu sót . Rất mong nhận được ý kiến
nhận xét , đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài này được ngày một
hoàn thiện hơn .
6
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG NÔNG SẢN Ở
VIỆT NAM
I. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM
1. Tiềm năng sản xuất hàng nông sản của Việt Nam
+ Về đất đai : Tổng diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam là hơn 10
triệu hecta nhưng mới chỉ sử dụng hết 65% . Số đất có thể mở rộng thêm phần
lớn là đất đỏ dễ bị thoái hoá , xói mòn . Diện tích này ở vùng miền núi Bắc bộ
rằng , trong xu thế hội nhập và phát triển mạnh mẽ như hiện nay , muốn ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội , ổn định đời sống nhân dân , đưa đất nước ra khỏi
tình trạng nghèo đói và kém phát triển , bắt kịp với nền kinh tế trong khu vực và
trên thế giới thì việc cấp thiết và tất yếu là phải mở rộng hoạt động ngoại thương
tận dụng triệt để những nguồn lực bên ngoài để phát huy tối đa hiệu quả của
những lợi thế bên trong , thực hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu , thay
thế nhập khẩu có chọn lọc Trong hoàn cảnh nền kinh tế còn yếu kém và lạc hậu
thì việc mở rộng hoạt động ngoại thương trước hết phải dựa trên những thế mạnh
sẵn có là đất đai và nguồn lao động dồi dào , đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nhất
là xuất khẩu hàng nông sản - mặt hàng mà nước ta có lợi thế về những điều kiện
sản xuất nhằm tạo cơ hội phát triển và hỗ trợ cho những ngành công nghiệp thúc
đẩy công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước .
Sau hơn 15 năm đổi mới , nền kinh tế của nước ta đã thu được nhiều thành
tựu khả quan . Sản xuất nông nghiệp đã có được những kết quả đáng kể và có
8
những chuyển biến tiến bộ . Sản lượng lương thực tăng nhanh và ổn định năm
sau cao hơn năm trước , tăng từ 18,4 triệu tấn năm 1986 lên 21,5 triệu tấn năm
1990 ; 31,8 triệu tấn năm 1998 tăng lên 48 triệu tấn năm 2000 rồi 53,7 triệu tấn
năm 2001 , bình quân mỗi năm tăng hơn 2,3 triệu tấn . Cùng với việc gia tăng về
sản lượng lương thực , hoạt động xuất khẩu nông sản cũng cũng có những dấu
hiệu đáng mừng .
Biểu 1 : Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt nam(1993-2001)
Đơn vị : triệu USD
Năm
KNXK hàng nông
2521
5445
46.3
1996
3267
725545
1997
3250
9185
36.5
1998
4300
9361
tỷ trọng lớn trên tổng kim ngạch . Kim ngạch nông sản xuất khẩu năm 1991 là
9
1081 triệu USD tăng lên 3267 triệu USD năm 1996 , tăng hơn 3,1 lần và đến
năm 2001 đã vượt ngưỡng 5 tỷ USD ; tốc độ tăng bình quân hàng năm của giá trị
kim ngạch xuất khẩu là 16,3% . Năm 1996 , tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 7,2 tỷ
USD tăng 33% so năm 1995 , gấp 3 lần năm 1990 ; trong đó tỷ trọng hàng nông
sản xuất khẩu năm 1996 là 3,26 tỷ USD tương đương 45% trên tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước . Nhưng từ năm 1999 trở đi , tỷ trọng nông sản xuất khẩu
bắt đầu có xu hướng giảm dần , năm 1998 tỷ lệ này là 45,9 % nhưng sang đến
năm 2001 giảm xuống còn có 35,8 % . Điều này một mặt phản ánh sự thay đổi
hợp lý trong cơ cấu kinh tế chung phù hợp với yêu cầu phát triển của các nước
theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nhưng mặt khác cũng phản ánh
những hạn chế trong việc gia tăng giá trị hàng nông sản là chưa tương xứng với
tiềm năng sản xuất đồng thời bộc lộ nhưng điểm yếu của hoạt động xuất khẩu
nông sản trong tình hình thị trường nông sản thế giới hiện đang có nhiều biến
động bất lợi .
II . TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY .
1. Cơ cấu nhóm mặt hàng
Trong những năm qua , cơ cấu mặt hàng nông sản Việt Nam cũng đã có
những bước chuyển dịch đáng kể . Nước ta đã hình thành nên 10 mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu , sáu trong số 10 mặt hàng đó là hàng nông sản : gạo , cà phê , cao
su, chè , hạt điều , lạc nhân . Tình hình xuất khẩu 3 mặt hàng nông sản chính là
gạo , cà phê và cao su qua các năm như sau :
199
7
199
8
199
9
200
0
200
1
G
ạo
1033
1946
1722
1983
1988
3003
3553
5
72
69
Cà
phê
93.5
116.
2
122.
7
176.
4
248.
1
283.
7
389.
3
379
488
734931
13.2
21.2
23.5
18.8
20.8
32.3
34
37
56
68
%0.58
0.56
0.98
0.91
6
185
263
273
308
%
4.63
3.52
4.48
5.3
5.17
4.02
4.44
4.04
4.76
5.7
5.8
2.69
4.8
4.6
4.12
3.4
1.9
1.9
1.0
1.6
1.45 Nguồn : Số liệu xuất khẩu nông sản từ 1993 - 2001 của Bộ thương mại
11
+ Mặt hàng gạo
Gạo là mặt hàng đứng vị trí số một trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu
lượng xuất khẩu chỉ còn 3729 tấn tương đương 643 triệu USD .
+ Mặt hàng cà phê
Cà phê là cây công nghiệp lâu năm có diện tích gieo trồng lớn trên thế
giới nhưng mới được trồng ở Việt Nam từ năm 1944 . Từ đó , càng ngày cây cà
phê càng phát triển , nhanh chóng gia tăng cả về số lượng với năng suất và hiện
đang đứng thứ hai về sản lượng nông sản xuất khẩu . Năm 1989 , lượng cà phê
xuất khẩu mới chỉ chiếm tỷ trọng 3,6% trên tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt
hàng nông sản thì năm 1994 đã tăng lên 6,9% , đặc biệt năm 1995 tỷ lệ này đạt
tới mức cao nhất là 9,3% . Đứng thứ hai sau gạo , cà phê có một vị trí quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân . Chỉ trong một thời gian ngắn , cây cà phê Việt nam
đã thâm nhập được vào thị trường thế giới và vươn lên đứng hàng thứ ba trong
10 nước xuất khẩu cà phê lớn nhất TG . Từ năm 1989 trở về trước , kim ngạch
xuất khẩu cà phê là không đáng kể . Năm 1985 , xuất khẩu 9200 tấn ; năm 1987 ,
xuất khẩu 25600 tấn ; năm 1988 , xuất khẩu 33806 tấn . Nhưng từ năm 1990 ,
nhờ sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế đã dẫn tới sự thay đổi cơ bản tình hình
xuất khẩu cà phê .Tiềm năng cà phê được khai thác một cách có hiệu quả , cà
phê nhanh chóng trở thành 1 trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
.
Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu cà phê mấy năm gần đây của nước ta đang
rơi vào một hoàn cảnh rất khó khăn do thị trường cà phê thế giới biến động hết
sức bất lợi . Tình trạng cung vượt quá cầu , đồng thời thị trường cà phê thế giới
lại có sự cạnh tranh rất quyết liệt , giá cà phê lên xuống thất thường . Năm 1992 ,
có thời điểm giá cà phê xuống thấp nhất chỉ có 600USD /tấn . Chỉ xét trong vòng
bốn năm trở lại đây , sự lên xuống thất thường của giá cả đã có ảnh hưởng lớn
tới kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam . Sản lượng xuất khẩu năm 1999
đạt 488 nghìn tấn tăng 109 nghìn tấn so với năm 1998 nhưng do giá giảm khiến
13
14
chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu , Nhật Bản chiếm 13% , với 8% là
cà phê và cao su , Hồng Kông chiếm 10% gồm chủ yếu là gạo , hoa hồi . Đối với
mỗi mặt hàng nông sản xuất khẩu khác nhau , thị trường cũng có sự chuyển đổi
khác nhau .
+ Về thị trường gạo : Thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam từ
năm 1989 là khu vực Châu Á chiếm khoảng 50% sản lượng gạo xuất khẩu . Đặc
biệt vào năm 1995 , thị trường Châu Á nhập khẩu tới 70% lượng gạo xuất khẩu
của Việt Nam . Sau thị trường Châu Á , Châu Phi cũng là thị trường nhập khẩu
tương đối lớn , đạt 49% năm 1989 nhưng có xu hướng giảm dần vào những năm
gần đây . Thị trường Châu Mỹ thì dao động lên xuống thất thường còn thị trường
Châu Âu lại có xu thế tăng nhanh , tuy nhiên nhìn chung Châu Á , Châu Phi vẫn
là thị trường nhập khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam hiện nay , chiếm từ 70% -
80% lượng gạo xuất khẩu hàng năm . Hiện nay Nhật Bản và Trung Quốc cũng
đã mở rộng thị trường để nhập khẩu gạo Việt Nam .
67%
17%
8%
6%
2%
Ch©u ¸
Ch©u Phi
CHLB Nga
T©y ¢u
Mü
Biểu đồ tỷ lệ lượng gạo xuất khẩu sang các nước năm 2001
19%
Ch©u ¸
T©y ¢u
Mü
Biểu đồ tỷ lệ lượng cà phê xuất khẩu sang các nước năm 2001
Sau khi Mỹ bỏ chính sách cấm vận , lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam
sang Singapore đã giảm dần - niên vụ 1995/1996 chỉ còn chiếm 3,65% , lượng
xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng lên nhanh chóng , từ 15,2% niên vụ
1994/1995 lên tới trên 33,42% niên vụ 1997-1998 . Hiện nay , Việt Nam đã xuất
khẩu cà phê trực tiếp được sang rất nhiều nước đứng đầu là Mỹ , sau đó đến
Thuỵ Sỹ , Đức , Hà Lan , Anh ,Ý , Nhật Bản…
+ Về thị trường cao su : Thị trường xuất khẩu cao su chủ yếu của Việt
Nam trước đây là Liên xô cũ và các nước Đông Âu , chiếm 78,21% năm 1986 đã
giảm mạnh xuống còn 1,06% năm 1995 . Hiện nay thị trường tiêu thụ cao su
xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các nước Châu Á chiếm khoảng 75% tổng
kim ngạch , đứng đầu là Trung Quốc rồi đến Singapore , Hàn Quốc , Đài Loan
…
17
75%
14%
1%
10%
Ch©u ¸
T©y ¢u
Mü
§«ng ¢u
Công ty chịu trách nhiệm kinh tế và dân sự về các hoạt động và tài sản của
mình . Công ty hoạt động theo pháp luật của Nhà nước và Luật doanh nghiệp
.
Về cơ sở vật chất , công ty INTIMEX có khoảng 1800 m2 đất sử dụng
gồm : khu vực văn phòng 96 Trần Hưng Đạo ( 2000 m2 ) , khu vực 22-32 Lý
Thái Tổ là khu vực cửa hàng kinh doanh và các dịch vụ tổng hợp ( 4000 m2 )
xí nghiệp may ở Văn Điển ( 7000-8000 m2 ) , khu vực kho hàng ở cảng Hải
Phòng ( 4000-5000 m2 ) . Ngoài ra còn có các cửa hàng và các kiốt thuê ở
nhiều nơi như Hải Phòng , Hà Nội .
19
Tài sản cố định của công ty hiện nay vào khoảng 15 tỷ VND .
2. Quá trình phát triển
Ngay từ khi mới thành lập , công ty đã được giao một nhiệm vụ tưởng
như đơn giản nhưng thực ra hết sức nặng nề trong bối cảnh kinh tế nước ta
lúc bấy giờ : trao đổi hàng hoá của ngành nội thương và hợp tác xã với nước
ngoài Nhiệm vụ này lúc đó có nghĩa là xuất khẩu những mặt hàng ngoài
Nghị định chính thức của chính phủ Việt Nam với các nước để nhập khẩu các
mặt hàng vật tư , nguyên liệu và hàng tiêu dùng thiết yếu bổ sung vào quỹ
hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng trong nước . Tổng số vốn ban đầu công ty
được nhà nước giao là 34.662.000 VND bao gồm :
+ Vốn cố định : 10.828.000 VND chiếm 31,2% .
+ Vốn khấu hao : 3.430.000 VND chiếm 10% .
+ Vốn lưu động ; 20.360.000 VND chiếm 58,8% .
Trong các nguồn vốn nhà nước giao , nguồn vốn do công ty tự tích luỹ
bổ sung để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh chiếm gần 60% . Đội ngũ cán
bộ đầu tiên của công ty chỉ có trên dưới 10 người đã lao động , phấn đấu
phòng kem Intimex và những sản phẩm chất lượng cao đầu tiên của công ty
tại các tỉnh phía Bắc đều được khách hàng ưa chuộng . Tổng công ty Intimex
trở thành một tổng công ty có tiềm lực kinh tế mạnh , có uy tín lớn ở trong và
ngoài nước .
+ Giai đoạn từ năm 1990 tới nay : Đây là giai đoạn đầy những thay đổi
và những thử thách mới . Đầu thập kỷ 90 , trong bối cảnh thị trường lớn
truyền thống của Việt Nam là Liên Xô và các nước Đông Âu bị tan rã , nền
kinh tế trong nước thực sự bước vào cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước , bản thân tổng công ty trong một thời gian ngắn cũng có sự thay đổi tổ
chức ( năm 1993 tách thành 2 công ty : Intimex Hà Nội và Intimex thành phố
Hồ Chí Minh - vốn , cơ sở vật chất và thị trường bị chia cắt ; năm 1995 hợp
21
nhất với công ty Gesevina ) , công ty Intimex phải đối đầu với một loạt những
thách thức mới .
Điều quan trọng đặt ra trước mắt là phải có những chuyển biến nhanh
chóng và phù hợp để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển trong tình hình mới
Trong hoàn cảnh đó , công ty đã tập trung toàn bộ nguồn lực sẵn có của mình
để đầu tư , phát triển về chiều sâu , tiến hành những cải cách mang tính bước
ngoặt trên mọi phương diện , cải tiến chất lượng sản phẩm , mở rộng loại hình
hoạt động , mở rộng thị trường bên ngoài nhằm đẩy mạnh xuất khẩu .
Xác định thị trường là yếu tố quyết định trong kinh doanh xuất nhập
khẩu . Những hạn chế trước đây của công ty là phạm vi của công tác thị
trường bị thu hẹp , cơ chế khoán gọn của công ty vốn chỉ phù hợp trong giai
đoạn nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp , nay đã bộc lộ nhiều nhược
điểm phân tán , manh mún , không có sự gắn bó đoàn kết giữa các đơn vị ,
phòng ban trực thuộc làm hạn chế rất nhiều cho công tác xuất khẩu . Vì vậy
trong những năm gần đây , công ty đã tập trung ưu tiên cho việc khai thác mở
800 tỷ , 6 tháng đầu năm 2002 doanh thu đạt được đã lên tới 450 tỷ VND
Nguồn vốn của công ty hiện nay đã lên tới 40 tỷ đồng , trong đó 17 tỷ là vốn
cố định , 23 tỷ là vốn lưu động . Liên tục mấy năm liền công ty được Bộ
Thương mại , chính phủ khen thưởng và tặng cờ đơn vị thi đua xuất sắc .
II . TÌNH HÌNH KINH DOANH XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA
CÔNG TY INTIMEX TRONG THỜI GIAN QUA
1. Tình hình xuất khẩu nông sản của công ty
+ Về mặt hàng :
Công ty Intimex là một công ty kinh doanh xuất khẩu đa dạng hoá mặt
hàng nhưng hướng đi chính hiện nay là tập trung vào những mặt hàng chủ
23
lực đem lại lợi nhuận cao đặc biệt là nhóm hàng nông sản xuất khẩu gồm 4
loại : cà phê , hạt tiêu đen , lạc nhân , cao su .
Biểu 3 : Cơ cấu xuất khẩu nông sản theo mặt hàng của công ty Intimex
Đơn vị : 1000 USD
Stt
Mặt hàng
Chính
1999
20362,7
15220
256,8
73,8
3
Cao su
849,4
1700
4022
200
236,6
4
L
ạc nhân
792
1683
cải cách đúng đắn , phù hợp về mọi mặt , từ công tác tổ chức , sắp xếp đào
tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên ; công tác nghiên cứu tiếp cận mở rộng thị
trường cho đến từng hoạt động sản xuất kinh doanh .
24
Nhưng sang năm 2001 , trước một loạt những khó khăn khách quan của
tình hình thị trường thế giới mà nổi bật nhất là tình trạng xuống giá của mặt
hàng nông sản đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu nông sản của
công ty . Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bị mất giá so với năm
2000 , giá cà phê giảm 40,5% , giá hạt tiêu giảm 59,4% làm cho kim ngạch
xuất khẩu giảm đáng kể . Bên cạnh đó , tình hình suy thoái của kinh tế thế
giới ( Mỹ và Nhật Bản ) , đặc biệt là sự tăng trưởng chậm của các nước trong
khu vực , thậm chí tăng trưởng âm tại Nhật cộng với tác động của cuộc khủng
bố ngày 11 - 9 lên toàn bộ nền kinh tế thế giới đã ảnh hưởng lớn đến nền kinh
tế Việt Nam . Do vậy , mặc dù trong năm 2001 công ty đã hết sức cố gắng
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu , tăng mạnh về số lượng các mặt hàng xuất
khẩu truyền thống nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản vẫn giảm
2,64% . Cụ thể về từng mặt hàng như sau :
Mặt hàng cà phê xét về mặt lượng là đạt gần gấp rưỡi so với năm 2000
nhưng kim ngạch thì chỉ tăng có 6,3% . Đáng buồn nhất là mặt hàng hạt tiêu
đen , tuy số lượng xuất khẩu đạt hơn gấp đôi năm 2000 nhưng do giá xuất
khẩu bình quân quá thấp nên kim ngạch không những không tăng mà còn
giảm hơn 24% . Kim ngạch mặt hàng lạc nhân thì hầu như không có sự thay
đổi , riêng chỉ có mặt hàng cao su do giá xuất khẩu trên thị trường thế giới
không biến động nhiều nên do lượng xuất khẩu tăng 130 % nên kim ngạch
tăng 136,6% .
+ Về thị trường :
Thị trường kinh doanh xuất khẩu hàng nông sản của công ty Intimex từ
xác định lượng hàng cần cho tiêu dùng nội địa , xác định kim ngạch xuất
khẩu xem xét chính sách hỗ trợ cũng như bảo hộ của các chính phủ liên quan
đến hoạt động nhập khẩu hàng nông sản của các nước này .
26
+ Đánh giá khả năng nhập khẩu của các nước này thông qua tình hình
nhập khẩu , tốc độ tăng trưởng một số năm gần đây ; xác định mục đích nhập
khẩu .
Qua kết quả thu được , công ty sẽ nắm bắt được khái quát về nhu cầu
nhập khẩu của thị trường thế giới để có những giải pháp và hướng đi đúng
đắn cho mình , đồng thời hoạch định được chiến lược xuất khẩu một cách có
hiệu quả nhất .
2. Các nghiệp vụ trong hoạt động xuất khẩu của công ty
+ Nghiệp vụ giao dịch đàm phán ký kết và thực hiện hợp đồng xuất
khẩu :
Để đi đến việc ký kết một hợp đồng xuất khẩu không riêng gì công ty
Intimex mà mọi công ty xuất nhập khẩu đều phải qua bước giao dịch đàm
phán . Việc giao dịch đàm phán được thực hiện bằng nhiều hình thức , có thể
tiến hành giao dịch trực tiếp hay qua trung gian , tuỳ từng điều kiện hoàn
cảnh mà áp dụng . Tuy nhiên với hệ thống thiết bị thông tin hiện đại thì dù
dưới hình thức nào thì vấn đề giao dịch đàm phán hiện nay đối với công ty
đều đã trở nên hết sức thuận tiện .
Sau khi nghiên cứu thị trường và mặt hàng xuất khẩu , tìm hiểu đối tác
đàm phán ký kết , thoả thuận mọi điều kiện có liên quan thì công ty sẽ tiến
hành ký kết hợp đồng xuất khẩu . Khi hợp đồng được ký kết có nghĩa là hai
bên đã ràng buộc với nhau thông qua các điều khoản quy định trong hợp đồng
vì thế trước khi quyết định ký kết , công ty phải cân nhắc kỹ lưỡng các điều
thì nghiệp vụ thu mua và tạo nguồn hàng là rất quan trọng bao gồm các khâu
tìm kiếm nguồn hàng ; nghiên cứu lựa chọn nguồn hàng , phương thức mua
ký hợp đồng mua bán trong đó phải lựa chọn khu vực đặt hàng , địa điểm
giao hàng sao cho phù hợp và thuận tiện cho việc chuyên chở , bảo quản và
xuất khẩu hàng hoá ; hình thành nguyên đơn hàng xuất khẩu . Hiện nay , công