LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
huy động và sử dụng vốn ở công ty
TNHH thiết bị điện AC Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử. Trên cơ sở tiếp cận kế thừa có chọn lọc những thông tin luận điểm, ý kiến của các
chuyên gia trên sách báo tạp chí kết hợp với tình hình thực tế ở công ty AC, chuyên
đề đi vào phân tích điểm mạnh điểm, điểm yếu của công ty cũng như cơ hội, thách
thức của môi trường kinh doanh để từ đó tìm ra những định hướng và giải pháp cụ
thể. Do phạm vi đề tài nghiên cứu rộng, trong khuôn khổ chuyên đề tốt nghiệp đại
học chỉ tập trung vào những khâu những điểm quan trọng trong quá trình hoạt động
của công ty.
Kết cấu của chuyên đề bao gồm 3 phần cơ bản:
1- Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong
doanh nghiệp thương mại.
2- Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn trong công ty AC
3- Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng
vốn ở công ty AC. CHƯƠNG I
lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng
vốn trong doanh nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước
hết phải nắm vững khái niệm và các đặc trưng cơ bản của vốn.Trong khuân khổ đề tài
nghiên cứu này chỉ xem xét vốn trên giác độ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản
của doanh nghiệp.
2. Phân loại vốn
Nói đến vốn là phải nói đến vấn đề quản lý và sử dụng vốn để quản lý và sử
dụng vốn có hiệu quả thì cần có sự phân loại vốn. Có rất nhiều cách phân loại vốn
khác nhau theo các cách tiếp cận khác nhau.
2.1 Phân loại theo nguồn hình thành:
Theo cách phân loại này người ta chia thành vốn chủ sở hữu và vốn huy động
của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu là vốn mà doanh nghiệp tự có, hình thành từ vốn
pháp định và vốn tự bổ sung từ nhiều nguồn lợi nhuận giữ lại, các quĩ đầu tư phát
triển, quĩ dự phòng tài chính Ngoài ra còn bao gồm toàn bộ khấu hao cơ bản sử dụng
tài sản cố định để đầu tư thay thế, đổi mới tài sản cố định. Với các doanh nghiệp cổ
phần thì vốn chủ sở hữu được bổ sung dễ dàng thông qua bán cổ phiếu.
Vốn huy động là vốn mà doanh nghiệp huy động từ bên ngoài dưới hình thức
vay nợ, liên doanh liên kết phát hành trái phiếu và các hình thức khác.
Đối với một doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, vốn chủ sở hữu đóng vai trò
quan trọng nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhất định. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp cần phải tăng cường huy động vốn từ bên ngoài. Việc xác định cơ cấu
vốn tự có và vốn huy động ngày càng trở nên quan trọng. Qui mô kinh doanh càng
lớn thì tỷ lệ vốn huy động càng cao. Những doanh nghiệp làm ăn phát đạt họ vẫn phải
huy động vốn bằng hình thức vay nợ. Trong kinh doanh các doanh nghiệp có thể
chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác bằng những khoản nợ thông qua việc
mua bán hàng hoá. Những doanh nghiệp có khả năng huy động vốn tốt thì sẽ thuận
lợi trong quá trình hoạt động kinh doanh.
hao mòn vô hình. Do hao mòn nên trong mỗi chu kỳ sản xuất, người ta tính chuyển
một lượng giá trị tương đương với phần hao mòn vào giá trị thành phẩm, khi sản
phẩm được tiêu thụ bộ phận tiền này được trích lại thành một quĩ nhằm để tái sản xuất
tài sản cố định, công việc đó gọi là khấu hao tài sản cố định.
2.2.2 Vốn lưu động
Vốn lưu động là lượng tiền ứng trước để thoả mãn nhu cầu về các đối tượng lao
động của doanh nghiệp. Nói dưới góc độ tài sản thì vốn lưu động được sử dụng để chỉ
những tài sản lưu động. Đó là những tài sản ngắn hạn thường xuyên luôn chuyển
trong quá trình kinh doanh.
Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu động của nó chủ yếu
được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao, khoản
phải thu và dự trữ tồn kho. Giá trị các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp kinh
doanh thương mại thường chiếm tỷ lệ lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản. Quản trị và sử
dụng hợp lý các loại tài sản lưu động có ảnh hưởng rất lớn đối với việc hoàn thành
nhiệm vụ chung của doanh nghiệp.
Vốn cố định và lưu động là hai loại vốn tồn tại song song trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuỳ từng loại hình kinh doanh mà tỷ lệ giữa 2 loại
vốn này là khác nhau.
2.3 Phân loại theo thời gian
Cách phân loại này thường áp dụng cho vốn huy động căn cứ vào thời gian phải
hoàn trả bao gồm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn. Vốn dài hạn có thời gian lớn hơn 1
năm, vốn ngắn hạn có thời gian hoàn trả dưới 1 năm.
Vốn dài hạn thường được huy động từ việc bán trái phiếu, cổ phiếu, vay dài hạn,
thuê mua. Nơi giao dịch chủ yếu là thị trường vốn. Loại vốn này thường được tài trợ
cho tài sản cố định và một phần chi phí thường xuyên.
2.4 Phân loại theo hình thái vốn
quan trọng để phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Nó là điều kiện để
thực hiện các chiến lược sách lược kinh doanh. Nó cũng là chất keo để nối chắp dính
kết các quá trình, các quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhờn bôi trơn cho cỗ máy
kinh tế hoạt động.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là yếu tố về giá trị. Nó chỉ được
phát huy tác dụng khi bảo tồn được và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Nếu trong
kinh doanh làm thiệt hại lớn về vốn sẽ dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
và dẫn đến việc phá sản, tức là vốn kinh doanh đã bị dử dụng lãng phí, không hiệu
quả.
Như vậy vốn là yếu tố vô cùng quan trọng đối với một doanh nghiệp. Song vấn
đề sử dụng vốn như thế nào lại là yếu tố quyết định đến sự thành bại của doanh
nghiệp.
4.Nguồn cung ứng vốn
Để có vốn hoạt động doanh nghiệp cần có nguồn cung cấp nhất định. Khái quát
nhất có thể phân thành nguồn cung ứng vốn từ nội bộ và nguồn cung ứng vốn từ bên
ngoài. Trên cơ sở đó lại phân loại cụ thể hơn . Có thể khái quát thành sơ đồ (ở trang
sau).
4.1 Tự cung ứng
Đây là phương thức doanh nghiệp tự cung ứng vốn cho mình trong quá trình
kinh doanh. Nó bao gồm các phương thức chủ yếu là khấu hao tài sản cố định, tích
luỹ tái đầu tư, điều chỉnh cơ cấu tài sản.
4.1.1 Trong quá trình sử dụng tài sản cố định, doanh nghiệp phải xác định mức
độ hao mòn của chúng để chuyển dần vào giá trị sản phẩm, đó gọi là khấu hao tài sản
cố định. Đây là nguồn vốn rất quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất có tỷ lệ
tài sản cố định lớn. Tuy nhiên với các doanh nghiệp thương mại có tỷ lệ tài sản cố
định nhỏ thì nguồn vốn này không chiếm vị trí quan trọng.
kiền chưa tạo được tín nhiệm đối với các nhà cung ứng tài chính
Qui mô tự cung ứng vốn từ tích luỹ tuỳ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu là tổng số
lợi nhuận thu được trong từng thời kỳ kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận
V
ốn
NSNN
V
ốn n
ư
ớc
ngoài
đầu tư tr
ực
tiếp nướo
K
ết hợp công t
ư
trong xd cơ sơ hạ
t
ầng
Liên
doan
h
Thuê
mua
Tín d
ụng
Vay các t
ổ
ch
ức khác sau thuế của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì lợi nhuận
được phân phối theo thoả thuận của các thành viên góp vốn. Thông thường ở các
công ty cổ phần, công ty TNHH quỹ tái đầu tư chiếm khoảng 15% đến 45% lợi nhuận
sau thuế.
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ thì đây là nguồn tự cung ứng vốn quan trọng
nhất.
4.1.3 Điều chỉnh cơ cấu tài sản.
Do môi trường kinh doanh biến động, nhiệm vụ kinh doanh thay đổi nên trong
quá trình kinh doanh thường diễn ra hiện tượng thừa loại tài sản này nhưng thiếu loại
tài sản khác. Điều chỉnh cơ cấu tài sản chính là việc kịp thời bán các tài sản dư thừa
để đầu tư vào tài sản khác. Phương thức này không làm tăng tổng số vốn kinh doanh
nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt đông cần thiết trên cơ
sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết.
Phương thức tự cung ứng vốn có ưu điểm rất lớn là hoàn toàn do doanh nghiệp
chủ động không phụ thuộc vào bên ngoài, doanh nghiệp có toàn quyền sử dụng trong
thời gian dài với chi phí vốn thấp. Mặt khác sự nỗ lực tự cung ứng vốn luôn là yếu tố
để người cấp vốn bên ngoài xem xét khả năng cho vay vốn. Tuy nhiên phương thức
này cũng có hạn chế là qui mô nhỏ, nguồn vốn bổ sung luôn có giới hạn.
4.2 Các phương thức cung ứng từ bên ngoài
4.2.1 Vốn do NSNN cấp
4.2.4 Vay vốn của các ngân hàng thương mại
Đây là hình thức doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng thương mại dưới các hình
thức cụ thể, ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Với hình thức này doanh nghiệp có thể huy
động được lượng vốn lớn. Bên cạnh đó để vay vốn được từ các ngân hàng thương
mại đòi hỏi doanh nghiệp phải có uy tín lớn, chấp nhận các thủ tục thẩm định ngặt
ngèo. Trong quá trình sử dụng vốn doanh nghiệp phải tính toán trả nợ theo đúng tiến
độ. Mặt khác doanh nghiệp có thể bị ngân hàng đòi quyền kiểm soát các hoạt động.
Vay vốn từ NHTM là hình thức phổ biến của các doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường. Tuy nhiên trên thực tế ở nước ta hiện nay,việc vay vốn từ hệ thống ngân
hàng TM của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh là rất hạn chế, lượng
vốn vay ít, thủ tục rườm rà.
4.2.5 Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là hình thức chiếm dụng vốn của đối tác xảy ra trong quá
trình mua bán trao đổi hàng hoá. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, do đặc điểm
của quá trình cung ứng hàng hoá và thanh toán không phải lúc nào cũng diễn ra đồng
thời nên tín dụng thương mại xuất hiện và tồn tại như một tất yếu khách quan. Thực
tế luôn diễn ra đồng thời quá trình doanh nghiệp chiếm dụng và bị chiếm dụng. Có
hai hình thức tính dụng thương mại chủ yếu:
Thứ nhất là doanh nghiệp mua hàng hoá theo phương thức trả chậm. Trong môi
trường kinh doanh hiện nay, bán hàng trả chậm được coi là chiến lược marketinh của
người bán, cho nên doanh nghiệp dễ dàng tìm được nguồn vốn loại này. Khi quá trình
này diễn ra một cách thường xuyên thì nguồn tín dụng này được coi là nguồn tín
dụng trung hoặc dài hạn. Đây là nguồn tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu các điều kiện cần thiết để vay vốn từ nguồn khác.
Bên cạnh đó, hình thức mua hàng trả chậm cũng có những hạn chế nhất định.
Chẳng hạn doanh nghiệp phải chịu chi phí kinh doanh sử dụng vốn khá cao. Mặt khác
Đây là nguồn vốn đặc trưng của khu vực kinh tế tư nhân. Chủ doanh nghiệp dựa
vào các mối quan hệ của mình để vay vốn của các cá nhân khác, bao gồm cả nhân
viên trong công ty. Nguồn vốn này có ưu điểm là thủ tục đơn giản, lượng vốn lớn,
thời gian dài, song có nhược điểm lớn là chi phí vốn lớn và đỏi hỏi người vay phải có
uy tín trong việc trả nợ. Đối với các doanh nghiệp mới thành lập có qui mô nhỏ thì
đây là nguồn vốn chủ yếu và rất quan trọng.
4.2.9 Vốn vay các tổ chức khác
Doanh nghiệp có thể vay vốn của các tổ chức có quan hệ lợi ích trong quá trình
hoạt động như là các khách hàng, nhà cung ứng hoặc là các tổ chức cho vay vốn
khác. Vốn vay của nhà cung ứng hay của khách hàng không phải là vốn chiếm dụng
mà là khoản vay phải trả lãi suất bình thường, có thể tồn tại đồng thời với vốn chiếm
dụng. Nó giúp gắn kết các doanh nghiệp.Tuy nhiên khoản vay này không lớn vì các
doanh nghiệp đó đều cần vốn, vả lại nếu vay vốn của nhà cung ứng thì doanh nghiệp
phải có sự chung thuỷ với nhà cung ứng đó.
4.2.10 Vốn liên doanh liên kết
Với phương thức này doanh nghiệp liên doanh liên kết với một hoặc một số
doanh nghiệp khác nhằm tạo vốn cho một hoạt động liên doanh nào đó. Với phương
thức này doanh nghiệp sẽ có được lượng vốn lớn cần thiết cho hoạt động nào đó mà
không làm tăng nợ. Trong quá trình hoạt động các bên liên doanh cùng chia sẻ rủi ro
và cùng chia sẻ lợi nhuận.
4.2.11. Cung ứng vốn từ sự kết hợp công và tư trong xây dựng cơ sở hạ tầng.
Phương thức này rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực xây dựng cơ sở hạ tầng. Còn đối với các doanh nghiệp thương mại thì đây là
phương thức hoàn toàn xa lạ.
4.2.12 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Trong cơ chế thị trường mở, từ khi có luật đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp
lý và khách thể quản lý nhằm xác định, tạo và sử dụng các nguồn vốn tiền tệ một
cách có hiệu quả nhất, đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành
liên tục với hiệu quả kinh tế cao. Có thể xem xét hoạt động quản lý vốn trong doanh
nghiệp như là sự sắp xếp phân bổ các nguồn vốn vào các khâu, các giai đoạn của quá
trình kinh doanh một cách hợp lý từ đó tạo khả năng sinh lời lớn hơn. Quản lý vốn
phải có các chương trình, kế hoạch cũng như các giải pháp, công cụ để huy động và
phân bổ các nguồn vốn.
2. Nguyên tắc quản lý vốn
Quản lý vốn cũng như công tác quản lý nói chung vừa mang tính khoa học vừa
mang tính nghệ thuật, đòi hỏi các nhà quản lý phải linh hoạt. Tuy nhiên việc quản lý
vốn cũng phải tuân theo những nguyên tắc sau:
2.1 Nguyên tắc hiệu quả
Nguyên tắc này đòi hỏi việc quản lý vốn phải đem lại hiệu quả lớn nhất trên
lượng vốn nhất định.
2.2 Sử dụng vốn hợp lý
Quản lý vốn phải thực hiện được các yêu cầu sau
Đảm bảo vốn cho các khâu của quá trình kinh doanh theo đúng kế hoạch
Giảm thiểu chi phí kinh doanh
Không để vốn nhàn rỗi
2.3 Sử dụng vốn đúng mục đích
Nhà quản lý phải hướng hoạt động của mình vào những mục tiêu xác định cho
từng thời kỳ, từng công việc, không được sử dụng vốn sai mục đích.
2.4 Nguyên tắc tập trung
Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp là người quyết định các vấn đề
quan trọng liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp. Trong tổ chức quản lý, mỗi
khâu, mỗi việc đều phải tập trung vào một đầu mối chỉ huy. Mọi hoạt động sai trái
bao bì và vật liệu bao gói, các công cụ nhỏ, chi phí đợi phân bổ…
*Vốn lưu động không định mức là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá
trình kinh doanh nhưng không đủ căn cứ tính toán trước.
3.1.1 Lập kế hoạch vốn lưu động định mức
Đây là công việc cơ bản và quan trọng nhất trong quá trình quản lý vốn lưu
động. Nó có nhiệm vụ xác định tổng số vốn lưu động cần thiết kỳ kế hoạch, đảm bảo
hoàn thành kế hoạch lưu chuyển hàng hoá đồng thời tính toán khả năng cân đối nhu
cầu vốn lưu động , đảm bảo sử dụng vốn hợp lý và có hiệu quả. Công việc cơ bản của
lập kế hoạch là xác định các định mức.
*Đối với định mức dự trữ hàng hoá có các chỉ tiêu sau:
1) số ngày dự trữ hàng hoá thấp nhất
N
t
= N
m
+ N
kn
+ N
bh
Trong đó: N
t
: số ngày dự trữ hàng hóa thấp nhất
N
m
: số ngày cần thiết để mua hàng
N
V
dt
= N x m x G
Trong đó : N: là số ngày dự trữ
M: Mức lưu chuyển hàng hoá một ngày đêm
G: Trị giá vốn hàng hoá
5) Tính số ngày của môt vòng lưu chuyển và số vòng lưu chuyển hàng
hoá theo công thức:
N
lc
= ( O
tb
+ T
kh
)/ X
N
lc
: Số ngày của một vòng lưu chuyển
O
tb
: vốn dự trữ hàng hoá trung bình
T
kh
: thời gian kỳ kế hoạch
X : Trị giá hàng hoá kỳ kế hoạch
dt
: vốn dự trữ hàng hoá
K
bb
: Tỷ lệ vốn bao bì và vật liệu bao gói so với hàng dự trữ
+) V
r
= 1/2 ( D
đk
+M
v
- D
ck
)
V
r
:Vốn vật rẻ tiền mau hỏng
D
đk
: dự trữ đầu kỳ của vật rẻ tiền mau hỏng
M
v
: giá trị vật rẻ tiền mua trong kỳ
đ
ịnh mức tiền
mặt tồn quĩ
M
ức l
= V
đđk
+V
ps
-V
ckV
đpb
:vốn phí đợi phân bổ
V
đđk
: vốn phí đợi phân bổ đầu kỳ
V
ps
: vốn phí đợi phân bổ phát sinh trong kỳ
V
ck
: chi phí phân bổ và chi phí lưu thông trong kỳ
Tính toán các chỉ tiêu trên cho phép ta xác định lượng vốn cần thiết cho kỳ kế
hoạch
3.1.2 Kế hoạch nguồn vốn lưu động
Sau khi xác định được lượng vốn cần thiết, nhà quản lý cần phải xem xét đến
nguồn cung ứng vốn. Với các nguồn vốn có thể huy động được, cần phải lựa chọn
nguồn cung ứng phù hợp cho từng loại. Tuy nhiên để lập kế hoạch nguồn vốn lưu
động định mức cũng cần phải dựa vào tình hình thực tế năm trước đó.
3.2 Quản lý vốn cố định
3.2.1 Xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản cố định
Xây dựng cơ bản là sự mở rộng tài sản sẵn có, xây dựng lại hoặc xây dựng mới
N
pt
: Nợ phải trả
N
c
:nguyên vật liệu và các khoản phải trả cho kỳ sau
Xây dựng cơ bản là công việc rất cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp khi bước
vào hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp nhỏ có vốn mỏng thì
có thể thực hiện đi thuê thay vì đầu tư vào xây dựng.
Mua sắm tài sản cố định
Viêc mua sắm tài sản cố định cần phải được kế hoạch cụ thể, từ đó lựa chọn
nguồn kinh phí thích hợp. Đối với các loại tài sản cố định giá trị lớn hoặc là các
phương tiện vận tải thì doanh nghiệp có thể xem xét khả năng thuê mướn thay vì đầu
tư mua sắm.
3.2.2 Khấu hao tài sản cố định
Thực chất của việc tính khấu hao tài sản cố định là thu hồi lại giá tri tài sản cố
định đã chuyển vào giá trị hàng hoá. Để xác định đúng giá trị khấu hao cần phải xác
định đúng thời gian sử dụng tài sản cố định và mức độ hao mòn tài sản cố định theo
khối lượng công việc.
Có hai loại khấu hao là khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn. Nguyên giá TSCĐ + chi phí thanh lý - giá trị đào thải
Tỷ lệ khấu hao cơ bản =
Nguyên giá x Thời hạn sử dụng Tỷ lệ KH sửa chữa lớn =
V
kh
: quĩ khấu hao cơ bản phải trích kỳ kế hoạch
V
đk
: Quĩ khấu hao cơ bản năm trước chuyển sang
V
kh
: Tổng giá trị khấu hao cơ bản kỳ kế hoạch
V
ck
: Quĩ khấu hao cơ bản chuyển sang năm sau
Cuối cùng so sánh kỳ kế hoạch với kỳ báo cáo để thấy sự chênh lệch của các chỉ
tiêu trên và xác định nguyên nhân của sự chênh lệch đó.
III. hiệu quả sử dụng vốn
1. Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn
Để đánh giá trình độ quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp, người ta sử dụng thức đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuát
kinh doanh được đánh giá trên hai góc độ: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Đối
với một doanh nghiệp trong cơ chế thị trường thì hiệu quả kinh tế thường đặt lên
hàng đầu. Còn trong phạm vi nền kinh tế quốc dân ngoài hiệu quả kinh tế còn phải
xem xét đến hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí nhất định. Do đó các
nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu
Cách thứ nhất biểu hiện bằng khối lượng công việc mà mỗi đơn vị vốn đã hoàn
thành. Có thể sử dụng cách này để lần lượt tính ra các chỉ tiêu: Hiệu suất sử dụng
toàn bộ vốn; hiệu suất sử dụng vốn cố định; hiệu suất sử dụng vốn lưu động.
Cách thứ hai biểu hiện bằng số lợi nhuận (lợi tức) mà vốn đưa lại (còn gọi là tỉ
suất lợi nhuận.
2.1. Các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách chung nhất,người
ta thường sử dụng một số chỉ tiêu như: Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn, doanh lợi vốn,
doanh lợi chủ sở hữu.Trong đó:
kútrong quan binh dông sö vèn sè Tæng
thu Doanh
vèn bé toµn dông söqu¶ HiÖu
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn đem lại bao nhiêu đồng doanh thu, vì vậy nó
càng lớn càng tốt.
kútrong quan binh dông sö vèn sè Tæng
nhuËn Lîi
vèn lîi Doanh
Chỉ tiêu này còn được gọi là tỉ suất lợi nhuận trên vốn. Nó phản ánh khả năng
sinh lợi của một đồng vốn đầu tư, cho biết một đồng vốn đầu tư đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
kútrong quan binh hu së chñ Vèn
nhuËn Lîi
hu së chñ vèn lîi Doanh
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, trình độ sử dụng
vốn của người quản lý doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Tuy nhiên chỉ
tiêu này có một hạn chế là nó phản ánh một cách phiến diện. Do mẫu số chỉ đề cập
đến vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ, trong khi hầu hết các doanh nghiệp huy động
vốn từ bên ngoài chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong tổng nguồn vốn. Do đó nếu chỉ
nhìn vào chỉ tiêu này nhiều khi đánh giá thiếu chính xác.