LUẬN VĂN: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu nông sản tại công ty xuất nhập khẩu dịch vụ – thương mại Intimex - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động xuất khẩu nông sản tại
công ty xuất nhập khẩu dịch vụ –
thương mại Intimex Lời nói đầu

Chúng ta đều biết rằng hoạt động xuất khẩu có một vai trò hết sức quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia , đặc biệt là đối với Việt Nam
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu đã trở thành một tiền đề hết sức cần thiết cho công
cuộc công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước cũng như góp phần cải thiện nâng cao
đời sống nhân dân bởi vì chỉ có thông qua hoạt động xuất khẩu , Việt Nam mới có thể
khai thác được hết các tiềm năng sẵn có của mình đồng thời tận dụng được tối đa
những nguồn vốn từ bên ngoài để thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển nền kinh tế
quốc dân . Chính vì vậy , việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động xuất khẩu , nâng cao kim
ngạch xuất khẩu luôn là mối quan tâm chung của chính phủ Việt Nam và các doanh
nghiệp ngoại thương . Nghị quyết trung ương VIII của Đảng đã nhấn mạnh “ Giữ vững

đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài này được ngày một hoàn thiện hơn
. Chương I

Khái quát về tình hình xuất khẩu mặt hàng nông sản ở Việt Nam

I. Vai trò của hoạt động xuất khẩu nông sản đối với nền kinh tế Việt Nam

1. Tiềm năng sản xuất hàng nông sản của Việt Nam
+ Về đất đai : Tổng diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam là hơn 10 triệu
hecta nhưng mới chỉ sử dụng hết 65% . Số đất có thể mở rộng thêm phần lớn là đất đỏ
dễ bị thoái hoá , xói mòn . Diện tích này ở vùng miền núi Bắc bộ chiếm khoảng 45%
tổng diện tích , ở vùng khu Bốn cũ khoảng 35% tổng diện tích , vùng núi khu Năm
khoảng 45% , vùng Tây Nguyên khoảng 76% và vùng đồng bằng Nam bộ khoảng 34%
. Diện tích đất này nếu được đầu tư cải tạo thì sẽ rất thuận lợi cho việc phát triển trồng
cây công nghiệp dài ngày như cao su , cà phê , hạt tiêu . ở vùng đồng bằng sông Hồng
và sông Cửu Long , tuy diện tích đất đưa vào sử dụng khá cao nhưng tình trạng thâm
canh nông nghiệp còn lạc hậu hệ thống thuỷ lợi yếu kém , hệ số sử dụng đất trung
bình chỉ đạt 1,4 lần/năm nên nếu được đầu tư mạnh để phát triển sản xuất theo chiều
sâu thì 2 vùng này sẽ trở thành những “ mỏ vàng ” của đất nước .
+ Về khí hậu : Nằm trong vùng cận xích đạo lại có lãnh thổ trải dài từ Bắc
xuống Nam nên khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa có tính đa dạng và có

năm 1998 tăng lên 48 triệu tấn năm 2000 rồi 53,7 triệu tấn năm 2001 , bình quân mỗi
năm tăng hơn 2,3 triệu tấn . Cùng với việc gia tăng về sản lượng lương thực , hoạt
động xuất khẩu nông sản cũng cũng có những dấu hiệu đáng mừng .

Biểu 1 : Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt nam(1993-2001)
Đơn vị : triệu USD

Năm

KNXK hàng nông
sản

T
ổng kim
ngạch
T
ỷ trọng trên tổng
kim ngạch <%>
1993

1444

2984

48.4

1994

1948



4300

936145.9

1999

4400

11540

38.2

2000

4777

14455

33

2001

5386

15027 Biểu 2 : Cơ cấu sản lượng XK nông sản chủ yếu theo mặt hàng
của Việt Nam qua các năm
Đơn vị : nghìn tấn

Năm 199
1

199
2

199
3

199
4

199
5

199
6

199
7


4550

34773729

%76.15

83.64

79.93

77.59

74.54

80.81

81.17

83.02

82.35

72


6.8

4.9

5.6

6.9

9.3

7.6

8.8

8.2

8.8

15

17

Chè8.0

13.2



0.55

0.73

0.74

0.67

1.17

1.26

Cao su

62.9

81.9

96.7

135.7

138.1

149.5

194.6

185


L
ạc
nhân
78.9

62.8

105.4

119.2

110

127

83.3

87

56

76

78

%

5.8


Trong khoảng 12 năm (1989 - 2001) , cơ chế điều hành xuất khẩu gạo tạo được
sự thông thoáng và có tác dụng khuyến khích mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu gạo ở
nước ta . Xuất khẩu gạo tăng trưởng cả về số lượng và kim ngạch Năm 1989 là năm
đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngoại
thương Việt Nam nói riêng . Nước ta từ một nước phải nhập khẩu lương thực từ nước
ngoài trở thành một nước không những đáp ứng được thị trường trong nước mà còn dư
thừa để xuất khẩu ra nước ngoài . Với sản lượng xuất khẩu ban đầu năm 1989 - 1,425
triệu tấn tăng lên gần 2 triệu tấn năm 1995 . Năm 1996 với sản lượng xuất khẩu 3003
triệu tấn , Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới sau Thái Lan .
Năm 1997 , Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo và vượt qua ngưỡng
3,5 triệu tấn tăng hơn 0,5 tấn so với năm 1996 . Năm 1999 , sản lượng xuất khẩu gạo
của Việt Nam đã tăng lên 4550 triệu tấn . Tuy nhiên , những năm gần đây , sự cạnh
tranh giữa các thị trường xuất khẩu gạo như Thái Lan , Trung Quốc diễn ra ngày càng
mạnh Gạo của Việt Nam tuy có ưu thế là rẻ hơn và cước phí vận chuyển thấp hơn
nhưng về mặt chất lượng thì lại không bằng , chỉ phù hợp với những thị trường nhập
khẩu thông thường chứ không đáp ứng được nhiều cho những thị trường có nhu cầu
cao , do đó khả năng cạnh tranh bị giảm sút . Đồng thời , do cạnh tranh nên giá gạo
xuất khẩu ngày một giảm . Nếu như năm 1999 , Việt Nam xuất khẩu được 4550 tấn
gạo tương đương với 1,025 tỷ USD thì đến năm 2001 , lượng xuất khẩu chỉ còn 3729
tấn tương đương 643 triệu USD .
+ Mặt hàng cà phê

Cà phê là cây công nghiệp lâu năm có diện tích gieo trồng lớn trên thế giới
nhưng mới được trồng ở Việt Nam từ năm 1944 . Từ đó , càng ngày cây cà phê càng
phát triển , nhanh chóng gia tăng cả về số lượng với năng suất và hiện đang đứng thứ
hai về sản lượng nông sản xuất khẩu . Năm 1989 , lượng cà phê xuất khẩu mới chỉ
chiếm tỷ trọng 3,6% trên tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản thì năm
1994 đã tăng lên 6,9% , đặc biệt năm 1995 tỷ lệ này đạt tới mức cao nhất là 9,3% .
Đứng thứ hai sau gạo , cà phê có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân . Chỉ
trong một thời gian ngắn , cây cà phê Việt nam đã thâm nhập được vào thị trường thế

theo . Mấy năm gần đây , giá cao su có giảm không đáng kể nên tuy sản lượng tăng
nhưng kim ngạch cũng không tăng được bao nhiêu .

2. Cơ cấu thị trường
Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế là sự chuyển đổi về thị trường xuất khẩu
hàng nông sản Việt Nam từ khu vực thị trường truyền thống (Liên xô cũ và các nước
Đông Âu) sang thị trường Châu á . Hiện nay , thị trường các nước khu vực Châu á -
Thái Bình Dương chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam , các nước
Châu âu chiếm 13% , các nước SNG 3% , phần còn lại thuộc các nước Châu Phi và
Châu Mỹ . Ba bạn hàng lớn nhất của Việt Nam là Singapore Nhật Bản và Hồng Kông
. Trong đó , Singapore là bạn hàng lớn nhất chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất
khẩu , Nhật Bản chiếm 13% , với 8% là cà phê và cao su , Hồng Kông chiếm 10%
gồm chủ yếu là gạo , hoa hồi . Đối với mỗi mặt hàng nông sản xuất khẩu khác nhau ,
thị trường cũng có sự chuyển đổi khác nhau .
+ Về thị trường gạo : Thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam từ năm
1989 là khu vực Châu á chiếm khoảng 50% sản lượng gạo xuất khẩu . Đặc biệt vào
năm 1995 , thị trường Châu á nhập khẩu tới 70% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam .
Sau thị trường Châu á , Châu Phi cũng là thị trường nhập khẩu tương đối lớn , đạt 49%

năm 1989 nhưng có xu hướng giảm dần vào những năm gần đây . Thị trường Châu Mỹ
thì dao động lên xuống thất thường còn thị trường Châu Âu lại có xu thế tăng nhanh ,
tuy nhiên nhìn chung Châu á , Châu phi vẫn là thị trường nhập khẩu gạo chủ yếu của
Việt Nam hiện nay , chiếm từ 70% - 80% lượng gạo xuất khẩu hàng năm . Hiện nay
Nhật Bản và Trung Quốc cũng đã mở rộng thị trường để nhập khẩu gạo Việt Nam .
67%
17%
8%
6%
2%
Ch©u ¸

74%
19%
Ch©u ¸
T©y ¢ u


Biểu đồ tỷ lệ lượng cà phê xuất khẩu sang các nước năm 2001
Sau khi Mỹ bỏ chính sách cấm vận , lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam sang
Singapore đã giảm dần - niên vụ 1995/1996 chỉ còn chiếm 3,65% , lượng xuất khẩu
sang thị trường Mỹ tăng lên nhanh chóng , từ 15,2% niên vụ 1994/1995 lên tới trên
33,42% niên vụ 1997-1998 . Hiện nay , Việt Nam đã xuất khẩu cà phê trực tiếp được
sang rất nhiều nước đứng đầu là Mỹ , sau đó đến Thuỵ Sỹ , Đức , Hà Lan , Anh ,ý ,
Nhật Bản…

+ Về thị trường cao su : Thị trường xuất khẩu cao su chủ yếu của Việt Nam
trước đây là Liên xô cũ và các nước đông âu , chiếm 78,21% năm 1986 đã giảm mạnh
xuống còn 1,06% năm 1995 . Hiện nay thị trường tiêu thụ cao su xuất khẩu của Việt
Nam chủ yếu là các nước Châu á chiếm khoảng 75% tổng kim ngạch , đứng đầu là
Trung Quốc rồi đến Singapore , Hàn Quốc , Đài Loan …
75%
14%
1%
10%
Ch©u ¸
T©y ¢ u

§ «ng ¢ u

biểu đồ tỷ lệ lượng cao su xuất khẩu sang các nước năm 2001


Tài sản cố định của công ty hiện nay vào khoảng 15 tỷ VND .

2. Quá trình phát triển

Ngay từ khi mới thành lập , công ty đã được giao một nhiệm vụ tưởng như
đơn giản nhưng thực ra hết sức nặng nề trong bối cảnh kinh tế nước ta lúc bấy giờ :
trao đổi hàng hoá của ngành nội thương và hợp tác xã với nước ngoài Nhiệm vụ
này lúc đó có nghĩa là xuất khẩu những mặt hàng ngoài Nghị định chính thức của
chính phủ Việt Nam với các nước để nhập khẩu các mặt hàng vật tư , nguyên liệu
và hàng tiêu dùng thiết yếu bổ sung vào quỹ hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng trong
nước . Tổng số vốn ban đầu công ty được nhà nước giao là 34.662.000 VND bao
gồm :
+ Vốn cố định : 10.828.000 VND chiếm 31,2% .
+ Vốn khấu hao : 3.430.000 VND chiếm 10% .
+ Vốn lưu động ; 20.360.000 VND chiếm 58,8% .
Trong các nguồn vốn nhà nước giao , nguồn vốn do công ty tự tích luỹ bổ
sung để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh chiếm gần 60% . Đội ngũ cán bộ đầu
tiên của công ty chỉ có trên dưới 10 người đã lao động , phấn đấu không ngừng
theo cơ chế “ tự trang trải ” - một cơ chế còn rất xa lạ với nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung và chính sách nhà nước độc quyền ngoại thương thời bấy giờ .
Trong 23 năm hoạt động , mặc dù đã gặp không ít khó khăn song với
sự chỉ đạo và giúp đỡ của Bộ và các cơ quan lãnh đạo , công ty Intimex đã vươn
dần lên theo sự tiến trển của nền kinh tế Việt Nam .
Trong quá trình phát triển của mình , công ty Intimex đã trải qua 3 giai đoạn
:
+ Giai đoạn từ khi thành lập đến năm 1985 : Đây là giai đoạn xây dựng và
trưởng thành . Trong giai đoạn này , công ty đã kết hợp với ngành ngoại thương
thực hiện giao hàng xuất khẩu . Từ 1 triệu rúp chuyển nhượng năm 1980 , đến năm
1985 , công ty đã đạt tới con số xuất nhập khẩu là 11 triệu rúp . Từ một cơ sở nhỏ
bé ở Minh Khai , công ty đã mở thêm chi nhánh tại Hải Phòng , Đà Nẵng , thành


Xác định thị trường là yếu tố quyết định trong kinh doanh xuất nhập khẩu .
Những hạn chế trước đây của công ty là phạm vi của công tác thị trường bị thu hẹp
, cơ chế khoán gọn của công ty vốn chỉ phù hợp trong giai đoạn nền kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp , nay đã bộc lộ nhiều nhược điểm phân tán , manh mún ,
không có sự gắn bó đoàn kết giữa các đơn vị , phòng ban trực thuộc làm hạn chế
rất nhiều cho công tác xuất khẩu . Vì vậy trong những năm gần đây , công ty đã tập
trung ưu tiên cho việc khai thác mở rộng thị trường ; đầu tư trích trong vốn ngoại tệ
tự có để cử và đài thọ cho các đoàn làm công tác khảo sát , đàm phán ký kết hợp
đồng với khách hàng nước ngoài phát triển các mối quan hệ làm ăn buôn bán với
bên ngoài , tham gia các Hội chợ quốc tế để quảng cáo thâm nhập mở rộng thêm
thị trường . Ngoài việc duy trì và củng cố mối quan hệ với những thị trường truyền
thống như CHLB Nga , Ucraina , khối các nước Đông Nam á , Trung Quốc , Nhật
Bản …. hiện nay công ty đã có quan hệ làm ăn với khoảng 33 khách hàng ngoài
nước , với những mặt hàng xuất khẩu ổn định chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn như :
cà phê hạt tiêu , lạc , cao su . Ngoài ra, năm 2002 công ty cũng đã bắt đầu mở rộng
xuất khẩu một số mặt hàng nông sản mới như sắn lát , hạt điều , hải sản .
Đối với khách hàng trong nước , bằng chữ tín của mình công ty đã đặt được
những mối quan hệ vững chắc , ổn định với nhiều cơ sở làm hàng xuất khẩu . Đối
với các đơn vị , phòng ban trực thuộc , khi giao chỉ tiêu kế hoạch hàng năm , công
ty đặc biệt quan tâm đến khu vực có thế mạnh về nguồn hàng , khả năng khai thác
hàng xuất khẩu của từng đơn vị , tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị thực hiện chỉ
tiêu nhanh chóng và có hiệu quả , đồng thời tiến hành xem xét , xây dựng một hệ
thống quy chế quản lý , điều hành kinh doanh đồng bộ , thông thoáng , phù hợp với
tình hình thực tiễn của đơn vị đảm bảo lợi ích hài hoà giữa từng đơn vị , công ty,
và người lao động .
Với những nỗ lực đổi mới và đầu tư trên phương diện hoạt động kinh doanh
đồng thời cải cách về tổ chức cũng như phương pháp quản lý của một tập thể thống
nhất trong một thời gian dài , công ty xuất nhập khẩu dịch vụ thương mại Intimex


2000

2001
So sánh( % )

2000/1999

2001/2000

1

Cà phê

9956

24500

26055

246

106,3

2

Tiêu đen

7930

20362,7

1696

206,8

100.8
T
ổng KN

19527,4

48245,7

46973

247

97,36Nguồn : Báo cáo tổng kết của công ty Intimex từ 1999 - 2000

Nhìn vào biểu trên ta thấy :
Tình hình xuất khẩu nông sản năm 2000 đã có một bước tiến bộ vượt bậc so
với năm 1999 . Kim ngạch xuất khẩu của toàn bộ 4 mặt hàng đều tăng hơn 100% ,
tổng kim ngạch tăng 147% , đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động xuất
khẩu nông sản của công ty sau cuộc khủng hoảng Châu á năm 1998 . Nguyên nhân
chủ yếu là do trong năm 2000 công ty đã có những cải cách đúng đắn , phù hợp về

trường Tây Âu , Châu Phi , Châu á ngày càng mở rộng , cơ chế hoạt động cũng rất
khác so với thị trường Đông Âu cũ .
Để giải quyết những khó khăn này , công ty đã kịp thời đã có những biện
pháp hợp lý nhằm tìm hiểu , tiếp cận những thị trường mới đồng thời tìm ra những
phương thức kinh doanh mới . Lúc đầu thâm nhập vào những thị trường mới này ,
công ty thực sự gặp phải nhiều khó khăn vì ở đây hoạt động kinh doanh thực sự
mang tính kinh doanh , quan hệ kinh tế là quan hệ về quyền lợi và lợi ích của các
bên và hoạt động cạnh tranh diễn ra rất khốc liệt nhưng trải qua một thời gian dài
nỗ lực để đổi mới , thích nghi , đến nay công ty đã đứng vững và mở rộng quan hệ
với nhiều thị trường lớn , giàu tiềm năng lại có vị trí rất gần với Việt Nam như :
Nhật Bản , Hàn Quốc , Malaysia Singapore , Philipin , Thái Lan , Trung Quốc …
Hàng năm , lượng hàng nông sản xuất khẩu sang các thị trường này đều chiếm từ
65% đến 80% tổng lượng hàng nông sản xuất khẩu . Ngoài ra , công ty còn có mối
quan hệ làm ăn với cả những nước như Mỹ , Pháp , Bỉ , khối SNG …
Tuy nhiên , để đáp ứng tốt hơn nữa cho nhu cầu thị trường bên ngoài và tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh , trước khi tiến hành giao dịch xuất

khẩu công ty cần phải tiến hành một cách cẩn thận công tác nghiên cứu thị trường
bao gồm :
+ Đánh giá tình hình xuất khẩu nông sản của các nước trên thế giới xác
định lượng hàng cần cho tiêu dùng nội địa , xác định kim ngạch xuất khẩu xem xét
chính sách hỗ trợ cũng như bảo hộ của các chính phủ liên quan đến hoạt động nhập
khẩu hàng nông sản của các nước này .
+ Đánh giá khả năng nhập khẩu của các nước này thông qua tình hình
nhập khẩu , tốc độ tăng trưởng một số năm gần đây ; xác định mục đích nhập khẩu
.
Qua kết quả thu được , công ty sẽ nắm bắt được khái quát về nhu cầu nhập
khẩu của thị trường thế giới để có những giải pháp và hướng đi đúng đắn cho mình
, đồng thời hoạch định được chiến lược xuất khẩu một cách có hiệu quả nhất .


các loại hình xuất khẩu như xuất khẩu trực tiếp , xuất khẩu uỷ thác , tái xuất , xuất
khẩu trả nợ nhưng hình thức chủ yếu vẫn là xuất khẩu trực tiếp .
+ Nghiệp vụ tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu :
Sau khi ký kết hợp đồng thì công việc đầu tiên là phải thu gom chuẩn bị
hàng xuất khẩu . Phần lớn lượng hàng nông sản xuất khẩu của công ty được thu
mua từ những đối tác truyền thống . Đó là các cơ sở sản xuất , doanh nghiệp sản
xuất chế biến , doanh nghiệp thu mua thu gom đã được công ty đánh giá là đối tác
có uy tín trong kinh doanh .
Để tạo được nguồn hàng ổn định , đảm bảo chất lượng , giá cả hợp lý thì
nghiệp vụ thu mua và tạo nguồn hàng là rất quan trọng bao gồm các khâu tìm kiếm
nguồn hàng ; nghiên cứu lựa chọn nguồn hàng , phương thức mua ký hợp đồng
mua bán trong đó phải lựa chọn khu vực đặt hàng , địa điểm giao hàng sao cho phù
hợp và thuận tiện cho việc chuyên chở , bảo quản và xuất khẩu hàng hoá ; hình
thành nguyên đơn hàng xuất khẩu . Hiện nay , công ty thường huy động nguồn

hàng xuất khẩu dưới các hình thức : mua đứt bán đoạn , xuất khẩu uỷ thác , liên
doanh liên kết sản xuất hàng xuất khẩu . Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà công ty sẽ
căn cứ vào yêu cầu của bên nhập khẩu tình hình thực tế của công ty , đội ngũ cán
bộ kỹ thuật viên , đội ngũ lao động … để lựa chọn hình thức nào cho phù hợp . Biểu 5 : Đối tác của công ty
M
ặt hàng

Nh
ập

Xu
ất

Nguồn : Báo cáo tổng kết của công ty Intimex năm 2001

Việc ký kết hợp đồng thu mua hàng xuất khẩu thường được thực hiện một
cách rất cẩn thận , có sự thoả thuận rõ ràng bằng văn bản giữa hai bên về các điều
khoản như chất lượng , số lượng sản phẩm , tiêu chuẩn kỹ thuật , bao bì , kẻ ký mã
hiệu , giá cả , thời gian địa điểm giao hàng , mức độ thưởng phạt phương thức
thanh toán . Việc ký hợp đồng phải được thực hiện dựa theo pháp lệnh kinh tế ban
hành ngày 21- 9-1989 đối với hàng nông sản . Sau khi ký hợp đồng , phải hình
thành nguyên đơn hàng nông sản nhằm phân định rõ các mẫu mã tiện cho việc
kiểm tra , giám sát thực hiện hợp đồng , đồng thời giúp cho người nhập khẩu nhận
và kiểm hàng được thuận lợi . Phương pháp hiện nay đang được sử dụng là lập
bảng kê chi tiết ( packing list ) trong đó hàng hoá được đóng gói theo yêu cầu ,
được đánh số thứ tự , sau đó ghi chi tiết lên bảng kê gồm : số lượng hàng bên trong
, trọng lượng tịnh của từng kiện hàng .
+ Nghiệp vụ kiểm tra , bảo quản và vận chuyển hàng hoá :
Nghiệp vụ này được chia làm 6 khâu chính :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status