Lời nói đầu
Chúng ta đều biết rằng hoạt động xuất khẩu có một vai trò hết sức quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia , đặc biệt là đối với Việt Nam
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu đã trở thành một tiền đề hết sức cần thiết cho công
cuộc công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc cũng nh góp phần cải thiện nâng cao
đời sống nhân dân bởi vì chỉ có thông qua hoạt động xuất khẩu , Việt Nam mới có
thể khai thác đợc hết các tiềm năng sẵn có của mình đồng thời tận dụng đợc tối đa
những nguồn vốn từ bên ngoài để thúc đẩy sản xuất trong nớc phát triển nền kinh
tế quốc dân . Chính vì vậy , việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động xuất khẩu , nâng
cao kim ngạch xuất khẩu luôn là mối quan tâm chung của chính phủ Việt Nam và
các doanh nghiệp ngoại thơng . Nghị quyết trung ơng VIII của Đảng đã nhấn mạnh
Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với phân công lao động và hợp tác quốc tế , đa ph-
ơng hoá , đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại Xây dựng một nền kinh tế mở h-
ớng mạnh về xuất khẩu , hội nhập với khu vực và thế giới .
Thực hiện đờng lối của Đảng , đặc biệt là chủ trơng chuyển dịch cơ cấu
hớng mạnh về xuất khẩu , trong những năm qua một số doang nghiệp Việt Nam đã
chú trọng đầu t vào sản xuất hàng hoá xuất khẩu và đã gặt hái đợc nhiều thành
công , kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng về cả quy mô và tốc độ . Cơ cấu
hàng hoá nớc ta đã có nhiều chuyển biến tích cực , bên cạnh những mặt hàng xuất
khẩu mũi nhọn nh nông lâm sản , đã xuất hiện nhiều mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị
kim ngạch cao . Tuy nhiên , gần đây tình hình kinh tế thế giới liên tục mất ổn định
cộng thêm nhiều bất cập xuất phát từ trong nội bộ nền kinh tế của nớc ta , hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu vẫn còn non nớt thiếu kinh nghiệm đã gây ảnh h-
ởng không nhỏ tới chiến lợc phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt tác động mạnh
đến hoạt động xuất khẩu . Do vậy , việc nghiên cứu đánh giá và đa ra những biện
3
pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu là việc làm hết sức cần thiết và
cấp bách trong giai đoạn hiện nay .
Với tinh thần trên , trong thời gian thực tập tại công ty xuất nhập khẩu dịch
vụ - thơng mại Intimex , đợc sự hớng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của thầy Tuấn cùng
với các cô chú trong công ty , tôi đã quyết định chọn đề tài Một số biện pháp
sản xuất theo chiều sâu thì 2 vùng này sẽ trở thành những mỏ vàng của đất n-
ớc .
+ Về khí hậu : Nằm trong vùng cận xích đạo lại có lãnh thổ trải dài từ Bắc
xuống Nam nên khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa có tính đa dạng và
có sự phân hoá rõ rệt giữa các vùng . Đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển
và đa dạng hoá các loại nông sản đặc biệt là lúa và các loại cây công nghiệp
5
+ Về nhân lực : Dân số nớc ta hiện nay là hơn 80 triệu ngời , cơ cấu dân số
trẻ và có tới 75% làm nông nghiệp . Ngời Việt Nam vốn cần cù , thông minh sáng
tạo , có khả năng nắm bắt cơ hội tốt , có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông
nghiệp . Đây là một thuận lợi lớn giúp cho Việt Nam vơn tới một nền sản xuất
nông nghiệp tiên tiến , tạo nguồn nông sản dồi dào cho tiêu dùng và cho xuất
khẩu .
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu nông sản
Nhận biết đợc những thế mạnh trên , tại Đại hội Đảng VI , Đảng ta đã nhận
định rằng cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng đầu t phát triển nông
nghiệp , coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Còn công nghiệp nặng thì chỉ phát
triển có chọn lọc và chủ yếu là để nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển nông
nghiệp và công nghiệp nhẹ là chính . Mặt khác , Đảng ta cũng thấy đợc rằng ,
trong xu thế hội nhập và phát triển mạnh mẽ nh hiện nay , muốn ổn định và phát
triển kinh tế - xã hội , ổn định đời sống nhân dân , đa đất nớc ra khỏi tình trạng
nghèo đói và kém phát triển , bắt kịp với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới
thì việc cấp thiết và tất yếu là phải mở rộng hoạt động ngoại thơng tận dụng triệt
để những nguồn lực bên ngoài để phát huy tối đa hiệu quả của những lợi thế bên
trong , thực hiện chiến lợc hớng mạnh về xuất khẩu , thay thế nhập khẩu có chọn
lọc Trong hoàn cảnh nền kinh tế còn yếu kém và lạc hậu thì việc mở rộng hoạt
động ngoại thơng trớc hết phải dựa trên những thế mạnh sẵn có là đất đai và nguồn
lao động dồi dào , đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nhất là xuất khẩu hàng nông sản
- mặt hàng mà nớc ta có lợi thế về những điều kiện sản xuất nhằm tạo cơ hội phát
triển và hỗ trợ cho những ngành công nghiệp thúc đẩy công cuộc công nghiệp hoá
triệu USD tăng lên 3267 triệu USD năm 1996 , tăng hơn 3,1 lần và đến năm 2001
đã vợt ngỡng 5 tỷ USD ; tốc độ tăng bình quân hàng năm của giá trị kim ngạch
xuất khẩu là 16,3% . Năm 1996 , tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 7,2 tỷ USD tăng
33% so năm 1995 , gấp 3 lần năm 1990 ; trong đó tỷ trọng hàng nông sản xuất
khẩu năm 1996 là 3,26 tỷ USD tơng đơng 45% trên tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nớc . Nhng từ năm 1999 trở đi , tỷ trọng nông sản xuất khẩu bắt đầu có xu hớng
7
giảm dần , năm 1998 tỷ lệ này là 45,9 % nhng sang đến năm 2001 giảm xuống còn
có 35,8 % . Điều này một mặt phản ánh sự thay đổi hợp lý trong cơ cấu kinh tế
chung phù hợp với yêu cầu phát triển của các nớc theo hớng công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nhng mặt khác cũng phản ánh những hạn chế trong việc gia tăng giá
trị hàng nông sản là cha tơng xứng với tiềm năng sản xuất đồng thời bộc lộ nhng
điểm yếu của hoạt động xuất khẩu nông sản trong tình hình thị trờng nông sản thế
giới hiện đang có nhiều biến động bất lợi .
II . Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong
những năm gần đây .
1. Cơ cấu nhóm mặt hàng
Trong những năm qua , cơ cấu mặt hàng nông sản Việt Nam cũng đã có
những bớc chuyển dịch đáng kể . Nớc ta đã hình thành nên 10 mặt hàng xuất khẩu
chủ yếu , sáu trong số 10 mặt hàng đó là hàng nông sản : gạo , cà phê , cao su,
chè , hạt điều , lạc nhân . Tình hình xuất khẩu 3 mặt hàng nông sản chính là gạo ,
cà phê và cao su qua các năm nh sau :
8
Biểu 2 : Cơ cấu sản l ợng XK nông sản chủ yếu theo mặt hàng
của Việt Nam qua các năm
Đơn vị : nghìn tấn
Năm 199
1
199
4
80.8
1
81.1
7
83.0
2
82.3
5
72 69
Cà
phê
93.5 116.
2
122.
7
176.
4
248.
1
283.
7
389.
3
379 488 734 931
%
6.8 4.9 5.6 6.9 9.3 7.6 8.8 8.2 8.8 15 17
Chè
8.0 13.2 21.2 23.5 18.8 20.8 32.3 34 37 56 68
%
75-79% , giảm gần 10% ; đến năm 2001 thì chỉ còn ở mức 62% . Tuy nhiên gạo
vẫn luôn luôn khẳng định và giữ đợc vị trí trung tâm trong cơ cấu mặt hàng nông
sản xuất khẩu .
Trong khoảng 12 năm (1989 - 2001) , cơ chế điều hành xuất khẩu gạo tạo đ-
ợc sự thông thoáng và có tác dụng khuyến khích mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu
gạo ở nớc ta . Xuất khẩu gạo tăng trởng cả về số lợng và kim ngạch Năm 1989 là
năm đánh dấu một bớc ngoặt lớn đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành
ngoại thơng Việt Nam nói riêng . Nớc ta từ một nớc phải nhập khẩu lơng thực từ n-
ớc ngoài trở thành một nớc không những đáp ứng đợc thị trờng trong nớc mà còn
d thừa để xuất khẩu ra nớc ngoài . Với sản lợng xuất khẩu ban đầu năm 1989 -
1,425 triệu tấn tăng lên gần 2 triệu tấn năm 1995 . Năm 1996 với sản lợng xuất
khẩu 3003 triệu tấn , Việt Nam trở thành nớc xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới
sau Thái Lan . Năm 1997 , Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo
và vợt qua ngỡng 3,5 triệu tấn tăng hơn 0,5 tấn so với năm 1996 . Năm 1999 , sản
lợng xuất khẩu gạo của Việt Nam đã tăng lên 4550 triệu tấn . Tuy nhiên , những
năm gần đây , sự cạnh tranh giữa các thị trờng xuất khẩu gạo nh Thái Lan , Trung
Quốc diễn ra ngày càng mạnh Gạo của Việt Nam tuy có u thế là rẻ hơn và cớc phí
vận chuyển thấp hơn nhng về mặt chất lợng thì lại không bằng , chỉ phù hợp với
những thị trờng nhập khẩu thông thờng chứ không đáp ứng đợc nhiều cho những
thị trờng có nhu cầu cao , do đó khả năng cạnh tranh bị giảm sút . Đồng thời , do
cạnh tranh nên giá gạo xuất khẩu ngày một giảm . Nếu nh năm 1999 , Việt Nam
xuất khẩu đợc 4550 tấn gạo tơng đơng với 1,025 tỷ USD thì đến năm 2001 , lợng
xuất khẩu chỉ còn 3729 tấn tơng đơng 643 triệu USD .
+ Mặt hàng cà phê
Cà phê là cây công nghiệp lâu năm có diện tích gieo trồng lớn trên thế giới
nhng mới đợc trồng ở Việt Nam từ năm 1944 . Từ đó , càng ngày cây cà phê càng
phát triển , nhanh chóng gia tăng cả về số lợng với năng suất và hiện đang đứng
10
thứ hai về sản lợng nông sản xuất khẩu . Năm 1989 , lợng cà phê xuất khẩu mới
chỉ chiếm tỷ trọng 3,6% trên tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản thì
vào năm 1998 ( giảm 63 triệu USD so với năm 1997 - tơng đơng 33% ) Nguyên
nhân bởi vì ngành công nghiệp ô tô ở khu vực Châu á năm đó , đặc biệt ở những
nớc bạn hàng nh Singapore , Malaysia đã giảm mạnh việc sản xuất và tiêu thụ
do chịu ảnh hởng của khủng hoảng kinh tế Châu á ( 1998 ) nên đã khiến cho giá
cao su xuất khẩu cũng giảm mạnh theo . Mấy năm gần đây , giá cao su có giảm
không đáng kể nên tuy sản lợng tăng nhng kim ngạch cũng không tăng đợc bao
nhiêu .
2. Cơ cấu thị trờng
Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế là sự chuyển đổi về thị trờng xuất khẩu
hàng nông sản Việt Nam từ khu vực thị trờng truyền thống (Liên xô cũ và các nớc
Đông Âu) sang thị trờng Châu á . Hiện nay , thị trờng các nớc khu vực Châu á -
Thái Bình Dơng chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam , các nớc
Châu âu chiếm 13% , các nớc SNG 3% , phần còn lại thuộc các nớc Châu Phi và
Châu Mỹ . Ba bạn hàng lớn nhất của Việt Nam là Singapore Nhật Bản và Hồng
Kông . Trong đó , Singapore là bạn hàng lớn nhất chiếm khoảng 30% tổng kim
ngạch xuất khẩu , Nhật Bản chiếm 13% , với 8% là cà phê và cao su , Hồng Kông
chiếm 10% gồm chủ yếu là gạo , hoa hồi . Đối với mỗi mặt hàng nông sản xuất
khẩu khác nhau , thị trờng cũng có sự chuyển đổi khác nhau .
+ Về thị tr ờng gạo : Thị trờng xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam từ năm
1989 là khu vực Châu á chiếm khoảng 50% sản lợng gạo xuất khẩu . Đặc biệt vào
năm 1995 , thị trờng Châu á nhập khẩu tới 70% lợng gạo xuất khẩu của Việt
Nam . Sau thị trờng Châu á , Châu Phi cũng là thị trờng nhập khẩu tơng đối lớn ,
đạt 49% năm 1989 nhng có xu hớng giảm dần vào những năm gần đây . Thị trờng
12
Châu Mỹ thì dao động lên xuống thất thờng còn thị trờng Châu Âu lại có xu thế
tăng nhanh , tuy nhiên nhìn chung Châu á , Châu phi vẫn là thị trờng nhập khẩu
gạo chủ yếu của Việt Nam hiện nay , chiếm từ 70% - 80% lợng gạo xuất khẩu
hàng năm . Hiện nay Nhật Bản và Trung Quốc cũng đã mở rộng thị trờng để nhập
khẩu gạo Việt Nam .
67%
với Việt Nam , cà phê của Việt Nam phải xuất khẩu qua các nớc trung gian , chủ
yếu là Singapore ( chiếm gần 70% lợng cà phê xuất khẩu của Việt Nam ) , kế đó là
Đức , Pháp , Ba lan và ý .
7%
74%
19%
Châu á
Tây Âu
Mỹ
Biểu đồ tỷ lệ lợng cà phê xuất khẩu sang các nớc năm 2001
Sau khi Mỹ bỏ chính sách cấm vận , lợng cà phê xuất khẩu của Việt Nam
sang Singapore đã giảm dần - niên vụ 1995/1996 chỉ còn chiếm 3,65% , lợng xuất
khẩu sang thị trờng Mỹ tăng lên nhanh chóng , từ 15,2% niên vụ 1994/1995 lên tới
trên 33,42% niên vụ 1997-1998 . Hiện nay , Việt Nam đã xuất khẩu cà phê trực
tiếp đợc sang rất nhiều nớc đứng đầu là Mỹ , sau đó đến Thuỵ Sỹ , Đức , Hà Lan ,
Anh ,ý , Nhật Bản
14
+ Về thị tr ờng cao su : Thị trờng xuất khẩu cao su chủ yếu của Việt Nam
trớc đây là Liên xô cũ và các nớc đông âu , chiếm 78,21% năm 1986 đã giảm
mạnh xuống còn 1,06% năm 1995 . Hiện nay thị trờng tiêu thụ cao su xuất khẩu
của Việt Nam chủ yếu là các nớc Châu á chiếm khoảng 75% tổng kim ngạch ,
đứng đầu là Trung Quốc rồi đến Singapore , Hàn Quốc , Đài Loan
75%
14%
1%
10%
Châu á
Tây Âu
Mỹ
Đông Âu
2. Quá trình phát triển
Ngay từ khi mới thành lập , công ty đã đợc giao một nhiệm vụ tởng nh
đơn giản nhng thực ra hết sức nặng nề trong bối cảnh kinh tế nớc ta lúc bấy
giờ : trao đổi hàng hoá của ngành nội thơng và hợp tác xã với nớc ngoài Nhiệm
vụ này lúc đó có nghĩa là xuất khẩu những mặt hàng ngoài Nghị định chính
thức của chính phủ Việt Nam với các nớc để nhập khẩu các mặt hàng vật t ,
nguyên liệu và hàng tiêu dùng thiết yếu bổ sung vào quỹ hàng hoá phục vụ cho
tiêu dùng trong nớc . Tổng số vốn ban đầu công ty đợc nhà nớc giao là
34.662.000 VND bao gồm :
+ Vốn cố định : 10.828.000 VND chiếm 31,2% .
+ Vốn khấu hao : 3.430.000 VND chiếm 10% .
+ Vốn lu động ; 20.360.000 VND chiếm 58,8% .
Trong các nguồn vốn nhà nớc giao , nguồn vốn do công ty tự tích luỹ bổ
sung để đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh chiếm gần 60% . Đội ngũ cán bộ
đầu tiên của công ty chỉ có trên dới 10 ngời đã lao động , phấn đấu không
ngừng theo cơ chế tự trang trải - một cơ chế còn rất xa lạ với nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung và chính sách nhà nớc độc quyền ngoại thơng thời bấy giờ .
Trong 23 năm hoạt động , mặc dù đã gặp không ít khó khăn song
với sự chỉ đạo và giúp đỡ của Bộ và các cơ quan lãnh đạo , công ty Intimex đã
vơn dần lên theo sự tiến trển của nền kinh tế Việt Nam .
Trong quá trình phát triển của mình , công ty Intimex đã trải qua 3 giai
đoạn :
+ Giai đoạn từ khi thành lập đến năm 1985 : Đây là giai đoạn xây dựng
và trởng thành . Trong giai đoạn này , công ty đã kết hợp với ngành ngoại thơng
thực hiện giao hàng xuất khẩu . Từ 1 triệu rúp chuyển nhợng năm 1980 , đến
năm 1985 , công ty đã đạt tới con số xuất nhập khẩu là 11 triệu rúp . Từ một cơ
17
sở nhỏ bé ở Minh Khai , công ty đã mở thêm chi nhánh tại Hải Phòng , Đà
Nẵng , thành phố Hồ Chí Minh và trở thành tổng công ty nội thơng và hợp tác
xã . Từ chỗ chỉ quan hệ với 2 , 3 bạn hàng nớc ngoài tổng công ty đã trở thành