1
Báo cáo tốt nghiệp
"Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
thanh toán không dùng tiền mặt tại Sở giao dịch Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam "
2
Mục lục
1.1 Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế thị trường 5
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt 5
1.1.2 Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế thị trường 6
1.2 Những quy định mang tính nguyên tắc trong TTKDTM 8
1.2.1 Mở và sử dụng tài khoản thanh toán 8
1.2.2 Đảm bảo khả năng thanh toán 9
1.2.3 Thực hiện lệnh thanh toán 10
1.2.4 Phí dịch vụ thanh toán 10
1.2.5 Chứng từ thanh toán 10
1.2.6 Trách nhiệm của Ngân hàng 10
1.3 Sơ lược về quá trình phát triển TTKDTM ở Việt nam 11
1.4 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 12
1.4.1 Thanh toán bằng séc 13
Có TK Tiền gửi của người thụ hưởng 17
Nợ TK Liên hàng đi 17
Nợ TK Tiền gửi đảm bảo thanh toán séc bảo chi 17
1.4.2 Thanh toán bằng UNC- chuyển tiền 18
3.2.2. Không ngừng hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng 54
3.2.3. Đối với thanh toán bằng tiền mặt và KDTM 54
3.3. Kiến nghị về việc cải tiến các hình thức TTKDTM hiện có và đưa
vào áp dụng các hình thức thanh toán hiện đại 56
3.3.1. Đối với hình thức thanh toán séc 56
3.3.2. Đối với hình thức thanh toán bằng UNC 58
3.3.4. Đối với hình thức thanh toán TTD 60
3.3.5. Đối với hình thức thẻ thanh toán 60
Kết luận 64
Danh mục tài liệu tham khảo 64
Mục lục 66
Trang 66
Chương 1 66
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt 3
66
Chương 2: 66
2.1 Khái quát chung về hoạt động của sở giao dịch NHNo & PTNT Việt
Nam 24 67
2.2 Thực trạng công tác TTKDTM tại Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt
nam 32 67
2.2.2 Tình hình vận dụng các hình thức thanh toán 34
67
2.3 Nhận xét về công tác TTKDTM tại Sở giao dịch NHNo & PTNT
Việt nam 43 67
Chương 3: 67
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác TTKDTM.
nội dung
chương 1: những vấn đề cơ bản về
thanh toán không dùng tiền mặt
5
1.1 Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt
Như chúng ta đã biết, sự ra đời và phát triển của lưu thông tiền tệ gắn liền với
quá trình ra đời và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sở dĩ như vậy là
do yêu cầu của quá trình trao đổi hàng hoá mà tiền tệ đã ra đời với vai trò làm
trung gian trao đổi các loại hàng hoá được thực hiện dễ dàng, nhanh chóng góp
phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.
Quá trình tái sản xuất xã hội là một quá trình liên hoàn và không ngừng mở
rộng, trong đó tồn tại các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá dịch vụ do đó không
thể không có hoạt động thanh toán.
Khi nền sản xuất còn ở trình độ thấp, thanh toán tiền tệ chỉ bó hẹp trong phạm
vi và khối lượng nhỏ, việc thanh toán được thực hiện bằng việc chi trả tiền mặt, sự
vận động của vật tư hàng hoá gắn liền với sự vận động của một khối lượng tiền
mặt nhất định. Thanh toán bằng tiền mặt lúc này tỏ ra là phương thức thanh toán
hữu hiệu nhất, nó được thực hiện rất linh hoạt tuỳ theo thoả thuận giữa hai bên
mua bán mà ít gặp trở ngại.
Tuy nhiên, khi sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao hơn, khối lượng
sản phẩm sản xuất nhiều hơn thì trao đổi hàng hoá không chỉ bó hẹp trong phạm vi
một vùng mà mở rộng ra cả nước và quốc tế.
Lúc này, thanh toán bằng tiền mặt đã bộc lộ những hạn chế nhất định như chi
phí tốn kém trong việc in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm, không đáp ứng các
nhu cầu thanh toán lớn, ở xa và nó trở nên không an toàn. Chính vì vậy, đòi hỏi
biết, bất kỳ một chu kỳ sản xuất nào cũng đều bắt đầu và kết thúc bằng khâu thanh
toán- từ việc mua các yếu tố đầu vào đến việc tiêu thụ các yếu tố đầu ra. Việc đẩy
nhanh tốc độ thanh toán qua Ngân hàng giúp khách hàng rút ngắn được thời gian
trong khâu lưu thông do đó rút ngắn thời được thời gian qua một vòng chu chuyển
vốn, tăng nhanh tốc độ của quá trình sản xuất.
- Tăng tỷ trọng TTKDTM sẽ góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong
lưu thông từ đó tiết kiệm được chi phí của xã hội và của Ngân hàng. Cụ thể đó là
những chi phí trong việc in ấn, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm tiền mặt… Nhờ
vậy, có thể sử dụng các nguồn vốn tiết kiệm được để đầu tư mở rộng sản xuất, xây
7
dựng Cơ sở hạ tầng nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, TTKDTM còn
góp phần hạn chế đến mức thấp nhất các tệ nạn xã hội như tham ô, hối lộ, trộm
cắp…, ngăn chặn hoạt động "rửa tiền", làm tiền giả hay đầu cơ, tích trữ…
-TTKDTM tạo điều kiện để Ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi mở rộng
tín dụng và phát triển dịch vụ Ngân hàng.
Như chúng ta đã biết, nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ thanh toán luôn có mối
quan hệ ràng buộc hữu cơ với nhau, chỉ khi thực hiện tốt mối quan hệ này thì Ngân
hàng mới có điều kiện phát triển được. TTKDTM đòi hỏi các doanh nghiệp phải
có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng và số dư trên tài khoản tiền gửi phải đảm bảo
khả năng thanh toán khi cần thiết. Các tổ chức kinh tế và cá nhân mở tài khoản tiền
gửi thanh toán ở Ngân hàng có quyền sử dụng toàn bộ số tiền đó vào bất cứ lúc
nào và Ngân hàng phải có trách nhiệm thoả mãn nhu cầu đó. Tuy nhiên, có sự
không ăn khớp giữa những người có nhu cầu rút tiền và gửi tiền vào, do đó hình
thành một số dư tương đối lớn và ổn định về nguồn vốn ngắn hạn cho Ngân hàng.
Mặt khác, Ngân hàng hoàn toàn có kế hoạch một cách tương đối chính xác nhu cầu
rút tiền mặt của khách hàng trong từng thời kỳ. Như vậy, ngoài phần dự trữ tiền
mặt để đảm bảo khả năng chi trả, thanh toán kịp thời cho khách hàng, số còn lại,
Ngân hàng có thể sử dụng để đầu tư, mở rộng tín dụng của mình. Thực tế, khối
lượng tiền gửi thanh toán chiếm tỷ trọng khá cao trong toàn bộ nguồn vốn của
Ngân hàng, tạo thuận lợi cho Ngân hàng trong việc giảm lãi suất cho vay. Bản chất
bản pháp quy được tóm tắt thành những quy định có tính nguyên tắc sau:
1.2.1 Mở và sử dụng tài khoản thanh toán
- Mở tài khoản thanh toán:
Tài khoản thanh toán là tài khoản do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại
các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán theo
quy định của NHNN.
Người sử dụng dịch vụ thanh toán có quyền tự lựa chọn Ngân hàng hoặc các
tổ chức khác được phép cung cấp dịch vụ thanh toán để mở tài khoản và thực hiện
giao dịch thanh toán.
- Sử dụng tài khoản và uỷ quyền
+ Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản thanh toán phù hợp
với quy định của NHNN và pháp luật khác có liên quan.
9
+ Chủ tài khoản có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của Nghị định này và pháp
luật khác có liên quan trong việc sử dụng tài khoản thanh toán.
+ Chủ tài khoản được uỷ quyền cho người khác bằng văn bản sử dụng tài
khoản theo quy định của pháp luật. Người được uỷ quyền có quyền hạn và nghĩa
vụ như chủ tài khoản trong phạm vi uỷ quyền và không được uỷ quyền lại cho
người thứ ba.
- Sử dụng và uỷ quyền sử dụng của đồng chủ tài khoản
Ngoài các quy định về sử dụng tài khoản và uỷ quyền sử dụng tài khoản, việc
sử dụng tài khoản của đồng chủ tài khoản còn phải tuân theo các quy định sau:
+ Mọi giao dịch thanh toán chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của tất cả
những người là đồng chủ tài khoản.
+ Đồng chủ tài khoản được uỷ quyền cho người khác sử dụng tài khoản trong
phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình. Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản
theo quy định của pháp luật.
- Điều kiện, thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán: Loại tài khoản, tính
chất tài khoản, điều kiện, thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán do tổ chức
hàng có quyền từ chối thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán trong trường
hợp chủ thể thanh toán vi phạm một trong những quy định của chế độ thanh toán
hiện hành.
1.2.6 Trách nhiệm của Ngân hàng
Các Ngân hàng có trách nhiệm hướng dẫn cho khách hàng làm các thủ tục
thanh toán, giám sát khả năng chi trả của khách hàng, cung ứng đầy đủ và kịp thời
các loại giấy tờ cần thiết cho khách hàng theo chế độ quy định. Các Ngân hàng có
trách nhiệm thông báo và đối chiếu thường xuyên với các chủ tài khoản về số dư
tài khoản tiền gửi.
Khi nhận được các chứng từ thanh toán của khách hàng gửi đến, các Ngân
hàng phải kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản trước khi thực hiện
thanh toán và có quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ tiền. Ngân hàng
phải thanh toán kịp thời, nhanh chóng và đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng.
Nếu do thiếu sót gây thiệt hại cho khách hàng thì Ngân hàng phải bồi thường vật
chất cho bên bị hại và tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo luật định. Khi
11
thực hiện dịch vụ thanh toán cho khách hàng, Ngân hàng được thu phí theo quy
định của Thống đốc NHNN .
Trên đây là một số quy định có tính nguyên tắc cơ bản nhằm mục đích vừa
đảm bảo cho quá trình thanh toán được thực hiện đúng đắn, vừa đảm bảo cho sự
kiểm soát bằng đồng tiền của hệ thống Ngân hàng đối với các hoạt động của chủ
thể thanh toán có hiệu qủa.
1.3 Sơ lược về quá trình phát triển TTKDTM ở Việt nam
Xuất phát từ nhận thức sâu sắc về sự cần thiết khách quan cũng như vai trò
của TTKDTM trong nền kinh tế nên ở nước ta ngay từ khi hệ thống Ngân hàng
mới ra đời, TTKDTM đã được tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, trong thời kỳ bao cấp,
hệ thống Ngân hàng nước ta hoạt động hoàn toàn mang tính chất hành chính,
không quan tâm đến hiệu quả kinh tế nên TTKDTM cũng được thực hiện bằng
- Nhìn chung, các thể thức thanh toán hiện hành ở nước ta vẫn còn mang dáng
dấp, nội dung của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, một số hình thức thanh toán
còn phiền hà về thủ tục, chậm chễ trong luân chuyển hay sự an toàn chưa cao …
- Những năm qua chúng ta đã hình thành một số thể thức thanh toán mới như
thẻ thanh toán nhưng còn hạn chế nếu không muốn nói là hình thức. Việc đổi mới
công nghệ thanh toán có sự chuyển biến mạnh mẽ về nội dung lẫn cơ sở vật chất
thế nhưng tác dụng chưa tương xứng với chi phí bỏ ra, số liệu thông tin còn chậm
chế, sai sót còn nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Từ những thực trạng trên, đòi hỏi ngành Ngân hàng không ngừng đổi mới
hơn nữa theo hướng phát huy ưu thế sẵn có đồng thời đưa vào áp dụng những
phương thức, hình thức, kỹ thuật thanh toán mới, hiện đại nhằm đáp ứng một cách
tốt nhất các yêu cầu về : an toàn, nhanh chóng, chính xác và đảm bảo quyền lợi của
các bên tham gia. Từ đó phát huy mạnh mẽ vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế
thị trường và hoà nhập mau chóng vào công nghệ thông tin của thế giới.
1.4 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
Hiện nay, trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng nhiều hình thức TTKDTM
rất đa dạng và phong phú. Nhưng ở mỗi nước tuỳ theo mô hình kinh tế, trình độ
quản lý, tuỳ theo mức độ hoàn thiện và hiệu năng của hệ thống Ngân hàng người ta
13
lựa chọn một số hình thức và cụ thể hoá cho phù hợp với điều kiện, đặc thù của
mỗi nước.
Ơ nước ta hiện nay, nền kinh tế cơ bản đã chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Vị trí, vai trò và chức năng của doanh nghiệp, của Ngân hàng thương mại, của
Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi theo mô hình kinh tế thị trường. Chính vì vậy,
chế độ TTKDTM cũng được hoàn thiện hơn để phù hợp với thực tiễn.
TTKDTM được quy định trong Nghị định số 64/ 2001/ NĐ - CP ngày
20.9.2001 của Chính phủ bao gồm những hình thức sau :
1. Hình thức thanh toán bằng séc
2. Hình thức thanh toán bằng UNC - chuyển tiền
Ơ Việt Nam hiện nay có 2 loại séc thanh toán : Séc chuyển khoản và Séc bảo
chi.
<1>. Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản là lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với Ngân hàng
phục vụ mình về việc trích một khoản tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả
cho người được hưởng có tên trong tờ séc.
Séc chuyển khoản chỉ được áp dụng trong phạm vi thanh toán giữa các khách
hàng có tài khoản ở cùng một chi nhánh nhưng các chi nhánh này có tham gia giao
nhận chứng từ trực tiếp cho nhau theo quy định hiện hành (thanh toán bù trừ ), thời
gian hiệu lực của tờ séc tối đa là 10 ngày làm việc.Khác với séc lĩnh tiền mặt, khi
phát hành séc thanh toán chuyển khoản, chủ tài khoản phải gạch hai đường song
song chéo góc hoặc viết chữ "chuyển khoản " ở góc phía trên bên trái mặt trước tờ
séc trước khi giao người thụ hưởng.
Về nguyên tắc, séc chuyển khoản phải được phát hành trên cơ sở số dư tài
khoản tiền gửi hiện có tại Ngân hàng. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ để thanh
toán, séc sẽ bị Ngân hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm
thanh toán tờ séc đó và những khoản tiền phạt chi phí phát sinh liên quan đến việc
khiếu nại và khởi kiện.
- Sơ đồ luân chuyển séc chuyển khoản:
+ Thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản ở cùng một Ngân hàng
1
Người trả tiền Người thụ hưởng
15
3 2 4
(1): Người trả tiền phát hành séc và giao cho người thụ hưởng.
(2): Người thụ hưởng tiếp nhận séc, sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ
2’
1
2 6 4
5
3
16
(4): Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp
của tờ séc và số dư tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản sẽ tiến hành trích tài khoản
của người trả tiền và báo Nợ cho họ.
(5): Ngân hàng phục vụ người trả tiền dùng các liên bảng kê nộp séc lập
chứng từ thanh toán bù trừ và chuyển cho Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để
thanh toán cho người thụ hưởng.
(6): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng tiếp nhận các bảng kê nộp séc (
thông qua thanh toán bù trừ ) sẽ ghi Có vào tài khoản cho người thụhưởng và báo
cho họ.
<2>. Séc bảo chi
Séc bảo chi là một loại séc thanh toán được Ngân hàng đảm bảo khả năng chi
trả bằng cách trích trước số tiền trên tờ séc từ tài khoản tiền gửi của người trả tiền
sang tài khoản " Đảm bảo thanh toán séc " nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của
tờ séc đó.
Séc bảo chi có phạm vi thanh toán rộng hơn séc chuyển khoản. Ngoài việc sử
dụng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân
hàng hoặc hai Ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên cùng địa bàn séc bảo
chi còn được sử dụng để thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản tại các chi
nhánh trong cùng hệ thống trong phạm vi cả nước.
- Sơ đồ luân chuyển thanh toán toán séc bảo chi
Nếu hai đơn vị mở tài khoản ở khác Ngân hàng, khác hệ thống có tham gia
thanh toán bù trừ thì tại Ngân hàng phục vụ, đơn vị thụ hưởng sau khi kiểm soát đủ
điều kiện sẽ hạch toán:
Nợ TK Thanh toán bù trừ Ngân hàng thành viên
Có TK Tiền gửi của người thụ hưởng
Trường hợp thanh toán khác Ngân hàng, cùng hệ thống và khác địa bàn hạch
toán:
Nợ TK Liên hàng đi
Có TK Tiền gửi của người thụ hưởng
Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành séc ( đơn vị mua) khi nhận được các
chứng từ kèm séc bảo chi từ Ngân hàng khác chuyển đến thì sẽ hạch toán
Nợ TK Tiền gửi đảm bảo thanh toán séc bảo chi
Có TK Liên hàng đến
(hoặc TK thanh toán bù trừ)
18
1.4.2 Thanh toán bằng UNC- chuyển tiền
UNC ra đời từ khá sớm, cùng với tiến bộ Khoa học kỹ thuật, nó được sử dụng
ngày một rộng rãi với các ưu thế nổi bật: an toàn, hiệu quả và đặc biệt thuận tiện
dưới sự trợ giúp của các thành tựu phát triển trong lĩnh vực Công nghệ tin học (
UNC có thể được xử lý dưới dạng các chứng từ điện tử).
Đơn vị trả tiền sau khi nhận được hàng hoá, dịch vụ cung ứng, trong thời gian
nhất định phải lập các UNC gửi đến Ngân hàng để trích tài khoản chuyển trả cho
đơn vị thụ hưởng. Tuỳ theo phạm vi và tổ chức thanh toán, đơn vị phải lập từ 3-4
liên với đâỳ đủ nội dung và các yếu tố cần thiết. Khi lập và nộp UNC vào Ngân
hàng, đơn vị trả tiền phải đảm bảo đủ số dư trên tài khoản để đảm bảo chi trả. Nếu
chứng từ hợp lệ, tài khoản đủ tiền, trong phạm vi một ngày làm việc, Ngân hàng
phải hoàn tất UNC đó. Nếu chứng từ không hợp lệ, hợp pháp, tài khoản không đủ
số dư thì Ngân hàng không thanh toán.
- Quy trình thanh toán: trường hợp hai chủ thể mở tài khoản ở hai Ngân hàng
UNT là giấy uỷ nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi vào Ngân hàng
phụcvụ mình nờ thu hộ tiền theo số lượng hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng.
UNT được sử dụng rộng rãi trong việc thanh toán các hoá đơn định kỳ cho
người cung ứng dịch vụ công cộng như điện, nước, điện thoại … bởi nó thường
được dùng cho các giao dịch thanh toán có giá trị nhỏ nên các UNT chiếm tỷ lệ
không đáng kể trong tổng các giao dịch TTKDTM.
UNT được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản trong cùng
một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng cùng hệ thống hoặc khác
hệ thống. Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức UNT
đối với những điều kiện cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế, đồng thời phải thông
báo bằng văn bản cho Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng biết làm căn cứ để thực
hiện các UNT. Sau khi giao hàng hoặc hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên thụ hưởng
lập giấy UNT theo mẫu của Ngân hàng, kèm theo hoá đơn gửi tới Ngân hàng phục
vụ mình hoặc gửi trực tiếp đến Ngân hàng phục vụ bên trả tiền yêu cầu thu hộ. Khi
nhận được giấy UNT trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng bên trả tiền trích
tài khoản của khách hàng mình trả ngay cho bên thụ hưởng để hoàn tất việc thanh
toán.
- Quy trình thanh toán UNT ( trường hợp các chủ thể thanh toán mở tài khoản
tại 2 chi nhánh Ngân hàng cùng hoặc khác hệ thống )
Người trả tiền Người thụ hưởng
Ngân hàng phục vụ
người trả tiền
Ngân hàng phục vụ
chỉ được dùng để thanh toán cho một người thụ hưởng. Thời hạn hiệu lực của một
TTD là 3 tháng kể từ ngày Ngân hàng bên mua nhận mở TTD. Mức tiền tối thiểu
cuả một TTD là 10 triệu đồng.
- Sơ đồ luân chuyển chứng từ thanh toán TTD
Người trả tiền Người thụ hưởng
1 7 3 4b
4a
5
21BNNg (1): Người trả tiền lập 5 liên giấy mở TTD yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình
trích tài khoản tiền gửi (hoặc vay Ngân hàng ) một số tiền bằng tổng giá trị hàng
hoá, dịch vụ đặt mua để lưu ký vào một tài khoản riêng gọi là tài khoản " Đảm bảo
thanh toán TTD "
(2): Ngân hàng phục vụ bên trả tiền mở TTD cho người trả tiền và chuyển
ngay 2 liên TTD cho Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để báo cho người thụ
hưởng biết.
(3): Khi nhận được 2 liên giấy mở TTD do Ngân hàng phục vụ bên trả tiền
gửi đến, Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng tiến hành kiểm tra thủ tục mở TTD
như: ký hiệu mật, chữ ký của Ngân hàng mở TTD . Sau khi ghi ngày nhận, ký tên,
đóng dấu đơn vị lên các liên giấy mở TTD sẽ gửi 1 liên cho bên thụ hưởng để làm
căn cứ giao hàng ( còn một liên lưu lại và mở sổ theo dõi TTD đến.
(4a): Bên thụ hưởng phải đối chiếu với hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng,
toán để thu tiền bán hàng của mình. Thẻ thanh toán có nhiều loại nhưng có một số
loại thẻ sau được sử dụng phổ biến:
- Thẻ ghi Nợ: Người sử dụng loại thẻ này không phải lưu ký tiền vào tài
khoản " Đảm bảo thanh toán thẻ". Căn cứ để thanh toán thẻ là số dư tài khoản tiền
gửi của chủ sở hữu thẻ tại Ngân hàng và hạn mức thanh toán tối đa do Ngân hàng
phát hành thẻ quy định. Hạn mức của thẻ được ghi vào bộ nhớ của thẻ nếu là thẻ
điện tử hoặc được ghi vào dải băng từ nếu là thẻ từ.
Ơ Việt nam, thẻ ghi Nợ được quy định là thẻ loại A, loại thẻ này áp dụng cho
những khách hàng có quan hệ tốt, thường xuyên và có tín nhiệm với Ngân hàng.
- Thẻ ký quỹ thanh toán : là loại thẻ mà để được sử dụng thẻ, khách hàng phải
lưu ký một số tiền nhất định vào tài khoản " Đảm bảo thanh toán thẻ" thông qua
việc tính tiền gửi hoặc nộp tiền mặt. Số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và được ghi
vào bộ nhớ của thẻ. Thẻ này quy định là thẻ loại B, áp dụng rộng rãi cho mọi
khách hàng.
- Thẻ tín dụng: áp dụng với những khách hàng có đủ điều kiện được Ngân
hàng đồng ý cho vay tiền để mua thẻ. Mức tiền cho vay được coi như hạn mức tín
dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ, khách hàng chỉ được thanh toán số tiền trong
phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng chấp thuận.
Thẻ thanh toán dù dưới hình thức nào cũng phải có đầy đủ các yếu tố: Tên
chủ thẻ, tên Ngân hàng phát hành thẻ, số thẻ, nhãn hiệu thương mại và thời hạn sử
dụng thẻ.
23
Trong thanh toán thẻ bao gồm các chủ thể sau:
- Ngân hàng phát hành thẻ: là Ngân hàng bán thẻ cho khách hàng và chịu
trách nhiệm thanh toán số tiền do người sử dụng trả cho người thụ hưởng. Ngân
hàng phát hành thẻ có thể uỷ nhiệm cho một số chi nhánh Ngân hàng phát hành và
quản lý thẻ.
- Người sử dụng thẻ: là người trực tiếp mua thẻ tại Ngân hàng và dùng thẻ để
mua hàng hoá, dịch vụ.
- Người tiếp nhận thẻ thanh toán bằng thẻ: là các doanh nghiệp cung ứng
3
4 5
6
24
(3): Cơ sở tiếp nhận thẻ giao thẻ và một biên lai thanh toán cho chủ sở hữu
thẻ.
(4): Cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ lập bảng kê biên lai thanh toán và gửi cho
Ngân hàng đại lý thanh toán để thanh toán.
(5): Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ với Ngân hàng phát hành thẻ qua thủ tục
thanh toán giữa các Ngân hàng.
Người sử dụng thẻ có thể rút tiền mặt nhưng mỗi lần không quá 5 triệu đồng
và mỗi ngày thẻ chỉ rút một lần. Nếu mất thẻ, người sử dụng phải thông báo ngay
bằng văn bản cho Ngân hàng phát hành thẻ biết để thông báo cho Ngân hàng đại lý
thanh toán thẻ báo cho cơ sở tiếp nhận thẻ biết. Khi sử dụng hết hạn mức hoặc hết
thời hạn sử dụng của thẻ, nếu có nhu cầu, người sử dụng thẻ phải đến Ngân hàng
phát hành thẻ làm thủ tục sử dụng tiếp. Trong phạm vi 10 ngày làm việc, kể từ
ngày viết hoá đơn cung ứng hàng hoá, dịch vụ, người tiếp nhận thẻ phải nộp biên
lai vào Ngân hàng đại lý để đòi tiền, nếu quá thời hạn trên, Ngân hàng không chấp
nhận thanh toán. Trong phạm vi 1 ngày làm việc, kể từ khi nhận được biên lai
thanh toán, Ngân hàng đại lý phải thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán thẻ.
Như vậy, ta thấy rằng TTKDTM với rất nhiều hình thức, có vị trí và vai trò
rất quan trọng đối với nền kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra là trong công tác thanh
toán còn một số tồn tại đòi hỏi ta phải xem xét tuỳ từng Ngân hàng cụ thể để có thể
đưa ra những biện pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của công tác TTKDTM .
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt
nam
Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam ( trước đây được gọi là Sở kinh doanh
Hối đoái) thành lập ngày 28.9.1994 theo quyết định số 129/QĐ- NHNo của Tổng
giám đốc NHNo & PTNT Việt nam. Đến 13.5.1999, Sở kinh doanh Hối đoái được
đổi tên thành Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam theo quyết định số
232/QĐ/HĐQT-02 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt nam.