PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ KKT pot - Pdf 15


1

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ KKT
TS. Lê Tuyển Cử, Phó Vụ trưởng
Vụ quản lý các KKT, Bộ KH - ĐT

A- VỀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KKT
I. KKT ven biển
- Trong giai đoạn trước mắt tập trung đầu tư, xây dựng phát triển một số
KKT có khả năng phát triển mang lại hiệu quả cao, để hình thành các khu đô thị
ven biển, làm động lực phát triển kinh tế vùng.
- Tập trung thu hút đầu tư vào các KKT có cơ sở hạ tầng tốt và có tiềm năng
phát triển.
- Tập trung phát triển các dự án động lực hiện đã thu hút được và các kết cấu hạ
tầng kỹ thuật thiết yếu trong các KKT để làm tiền đề cho việc hình thành khu vực phát
triển công nghiệp chiến lược trong các KKT và thu hút các nhà đầu tư khác.
- Huy động tổng hợp các nguồn vốn (ODA, FDI, ngân sách nhà nước, trái phiếu
chính phủ ) để tiếp tục đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu, quan trọng
trong các KKT để tạo điều kiện đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển các KKT.
- Phát triển KKT phải gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương và
của vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; lấy hiệu quả kinh tế - xã hội
làm tiêu chuẩn cao nhất và bảo đảm phát triển bền vững; phát triển KKT phải
hướng tới hiện đại; đảm bảo sử dụng một cách hiệu quả cả quỹ đất, mặt nước và
không gian của KKT, phải hướng tới hình thành khu chức năng nòng cốt, chủ đạo
và gắn kết chặt chẽ với phát triển vùng.
- Phát triển các KKT phải theo từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện cụ thể
và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
- Phát triển các KKT phải chú ý tới yêu cầu bảo vệ môi trường và yêu cầu an
ninh, quốc phòng.
- Mục tiêu phát triển: Phấn đấu đến năm 2020, các KKT ven biển đóng góp

- Có chính sách hỗ trợ cho công nhân làm việc tại KKT về nhà ở, việc làm…
nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân, bảo đảm cuộc sống
ổn định, phù hợp với mặt bằng thu nhập hiện nay.
- Nghiên cứu chính sách đối với việc phân loại, phân cấp quản lý đối với
KKT để có hướng đầu tư, phát triển nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao;
nâng cao quyền chủ động và huy động được tối đa nguồn lực của địa phương.
- Các Bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu hướng dẫn việc thực hiện
Nghị định số 29/2008/NĐ-CP theo ngành, lĩnh vực quản lý, đặc biệt là hướng dẫn
việc ủy quyền cho Ban quản lý KKT trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước trong KKT.

3

- Rà soát, điều chỉnh đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật về chức năng quản
lý nhà nước của Ban quản lý KKT trên các lĩnh vực để bảo đảm tính thống nhất,
đồng bộ trong hệ thống văn bản quản lý nhằm phát huy hiệu quả và có hiệu lực.
Đồng thời ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể các lĩnh vực chưa quy định rõ
như: thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính.
- Xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia cho các KKT ven biển Việt
Nam tại nước ngoài vào thời điểm thích hợp, trước mắt có thể xây dựng trang Web
chung cho các KKT để quảng bá thương hiệu KKT ven biển Việt Nam.
- Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 29/2008/NĐ-CP để giải quyết
kịp thời một số vướng mắc trong quản lý KCN, KKT.
II. Một số đề xuất cụ thể
1. Về chính sách thuế
a) Về chính sách ưu đãi thuế
Theo quy định hiện hành, chỉ có một số lĩnh vực được hưởng ưu đãi ở mức
cao nhất (10% trong thời hạn 15 năm). Điều này dẫn đến một số vấn đề bất cập. Cụ
thể: (i) các lĩnh vực được hưởng ưu đãi chưa bao quát hết những lĩnh vực cần
khuyến khích (như công nghiệp hỗ trợ, cụm công nghiệp, phát triển nông nghiệp và

theo địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
c) Đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư.
- Đối với đầu tư mới: Theo quy định của Luật Đầu tư, đối tượng được hưởng
ưu đãi là “Dự án đầu tư” trong khi đó theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, đối
tượng là “cơ sở mới thành lập từ dự án đầu tư”. Như vậy, dự án đầu tư mới của
doanh nghiệp đã thành lập là đối tượng hưởng ưu đãi theo Luật Đầu tư nhưng
không là đối tượng hưởng ưu đãi theo Luật thuế TNDN.
Kiến nghị: quy định thống nhất đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư giữa hai Luật
theo phương án của Luật Đầu tư để khuyến khích hoạt động đầu tư của cả doanh
nghiệp mới thành lập cũng như đã thành lập. Việc áp dụng thuế TNDN theo từng
dự án là hợp lý vì sẽ xác định rõ ràng thuế suất theo lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư
của từng dự án (một doanh nghiệp có thể có nhiều dự án ở những lĩnh vực, địa
điểm khách nhau. Hơn nữa, xác định ưu đãi theo từng dự án cũng tránh được
trường hợp doanh nghiệp đã có dự án, nay thực hiện thêm các dự án khách trong
lĩnh vực công nghệ cao, ý nghĩa quan trọng nhưng lại không được hưởng.
- Đối với đầu tư mở rộng: Hiện đang sự khác nhau giữa quy định tại Luật
Đầu tư và Luật Thuế TNDN về khái niệm đầu tư mở rộng, ưu đãi áp dụng cho đầu
tư mở rộng. Theo quy định hiện hành, các dự án đầu tư mở rộng không còn được
hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều này đang có nhiều ý kiến phản ánh
từ nhà đầu tư và các địa phương. Trên thực tế, so với các dự án đầu tư mới, dự án
đầu tư mở rộng thực sự là các dự án có khả năng triển khai cao hơn, công nghệ của
các dự án đầu tư mở rộng cũng được nâng cấp, nhiều dự án đầu tư mở rộng thuộc
lĩnh vực công nghệ cao lại không được hưởng ưu đãi trong khi các dự án đầu tư
mới thuộc lĩnh vực này sẽ được hưởng ưu đãi cao nhất.

5

Kiến nghị: đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu thêm vấn đề này; đồng thời cân
nhắc việc quy định các tiêu chí và đưa một số dự án đầu tư mở rộng ở những lĩnh
vực công nghệ cao vào đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư.

Kiến nghị: Cần thống nhất giữa cơ quan cấp GCNĐT và cơ quan thuế về
cách ghi và áp dụng ưu đãi đầu tư.

6

2. Công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch về KKT
Khái niệm “quy hoạch về KKT” đang được đề cập ở đây bao gồm cả quy
hoạch tổng thể phát triển các KKT Việt Nam, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
và quy hoạch chung xây dựng của từng KKT, quy hoạch chi tiết các khu chức năng
trong một KKT.
Có vẻ như công tác xây dựng quy hoạch về KKT của chúng ta cũng còn
nhiều điều đáng phải suy nghĩ thêm. Dường như quy hoạch tổng thể phát triển các
KKT của chúng ta vẫn còn mang dáng dấp của một bản tổng hợp đầy nể nang các
đề xuất, kiến nghị của các địa phương; mà trong không ít trường hợp, những đề
xuất đó lại xuất phát từ tâm lý “trăm hoa đua nở”, “anh có, sao tôi không có”
Nhiều đồ án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch chung xây dựng của
các KKT khác nhau lại rất giống nhau – như các sản phẩm được sản xuất hàng loạt.
Nhiều người có cảm tưởng rằng một số KKT trong cùng một vùng kinh tế được
định hướng phát triển tương tự như nhau, nhạt nhòa, thiếu bản sắc, không khai thác
được đặc thù riêng có, lợi thế cạnh tranh của từng địa phương, dẫn đến sự cạnh
tranh hạn chế lẫn nhau giữa các KKT, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của từng
KKT nói riêng và của các KKT trong vùng nói chung.
Việc thực hiện quy hoạch về KKT của chúng ta cũng có nhiều bất cập. Xây
dựng và phê duyệt Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển các Khu kinh tế ven biển
của Việt Nam là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, việc
các địa phương đồng loạt đề xuất thành lập quá nhiều KKT (đã được quy hoạch)
gần như trong cùng một thời điểm trong khi khả năng cân đối nguồn vốn ngân sách
nhà nước hỗ trợ đầu tư hạ tầng các KKT lại rất hạn chế khiến cho việc đầu tư phát
triển tư hạ tầng các KKT gặp nhiều khó khăn, chậm tiến độ, dàn trải, làm chậm việc
phát huy hiệu quả của các KKT.

hoạch chung của vùng hoặc không phối hợp với nhau về hướng quy hoạch; mỗi địa
phương tự phát triển theo cách của mình. Do không có sự liên kết trong quy hoạch,
không có sự phối hợp để phân bổ quy hoạch ngành nghề thu hút đầu tư vào KKT
dẫn đến các KKT của các địa phương trong vùng đều ná ná giống nhau, làm giảm
sức hút của từng KKT, ảnh hưởng tiêu cực đến thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội của cả vùng.
Cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch các KKT theo hướng bảo đảm tính liên kết
vùng trong phát triển.
b) Về mèi liªn kÕt ngµnh trong KKT
Hiện nay, việc phát triển KCN, KKT theo hướng liên kết ngành (clustering)
đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Về hình thức, mô hình clusters
cũng tương tự như KCN – có nghĩa là doanh nghiệp công nghiệp vẫn là trọng tâm,
nhưng về bản chất clusters là sự liên kết đầu vào – đầu ra với sự hỗ trợ của các
trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) và các trung tâm dịch vụ công nghiệp.
Ưu thế của mô hình này là tạo ra lợi thế cạch tranh, nâng cao đóng góp của clusters
vào phát triển vùng. Vấn đề này đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu của các
học giả nước ngoài.

8

Để nâng các KCN, KKT cuả Việt Nam lên tầm cao mới, cần nghiên cứu thí
điểm x©y dùng một số KCN trong KKT của ta theo một mô hình mới phù hợp với
quy luật phát triển của thế giới - mô hình clusters (t¹m dÞch lµ KCN liªn kÕt
ngµnh). Cần chú ý đến cơ cấu ngành trong thu hút đầu tư vào KKT để tạo ra sự
liên kết ngành trong các lĩnh vực công nghệ cao, tạo hiệu quả phát triển.
4. Về hoạt động thu hút đầu tư
Trên cơ sở liên kết hợp lý trong phát triển KKT như đã nói ở trên, cần xây
dựng một chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia cho các KKT Việt Nam tại nước
ngoài vào thời điểm thích hợp, trước mắt có thể xây dựng trang Web chung cho các
KKT để quảng bá thương hiệu KKT Việt Nam. Để đảm bảo cho sự thành công của

triển hạ tầng KKT và một chương trình đầu tư các khu chức năng của KKT trong
từng giai đoạn một cách hợp lý để tăng tính thu hút đầu tư, sử dụng hiệu quả nguồn
lực đầu tư và phù hợp với thực tế.
Thực tế là việc phát triển hạ tầng các KKT hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào
nguồn vốn ngân sách nhà nước. Trong bối cảnh nguồn lực còn rất hạn chế, việc
phát triển các KKT cả về số lượng lẫn quy mô cũng cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng.
Cần rà soát, phân loại các KKT ven biển đã được thành lập, chọn ra một số KKT
cần ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước để sớm phát huy hiệu quả vốn đầu tư.
Xem xét xây dựng tiêu chí đánh giá, lựa chọn một số KKT để tập trung đầu
tư phát triển trong giai đoạn đến năm 2015, sớm hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ
tầng cơ bản của các KKT này. Ngân sách Trung ương bố trí tập trung cho các KKT
có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển trên cơ sở kết quả đánh giá và lựa chọn
theo tiêu chí được xây dựng. Để đảm bảo tính tập trung trong đầu tư, việc phê
duyệt các dự án đầu tư trong KKT có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu của
ngân sách trung ương phải được thẩm định kỹ về khả năng bố trí vốn.
Tập trung đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu của
KKT, có ý nghĩa quyết định đối với việc thu hút và triển khai các dự án đầu tư quy
mô lớn, mang tính động lực. Rà soát, giãn tiến độ hoặc hoãn triển khai các dự án,
công trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chưa thực sự cần thiết hoặc chưa tìm
được nguồn vốn để triển khai.
6. Về chức năng quản lý nhà nước của các Ban quản lý KKT
Do có sự không đồng bộ, thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật về KKT
việc thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với KKT của Ban
quản lý KKT hiện nay gặp nhiều vướng mắc, khó triển khai trên thực tế, cụ thể trong
một số lĩnh vực như: quản lý lao động, môi trường, thương mại, xây dựng, thanh
kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính Trước mắt, các Bộ, ngành cần thực hiện sớm
việc ủy quyền, hướng dẫn cho Ban quản lý KKT để có thể triển khai thực hiện các
nhiệm vụ được giao một cách thuận lợi hơn. Trong quá trình rà soát cơ chế, chính
sách áp dụng cho KKT sau này cần xử lý điều chỉnh các quy định chưa thống nhất về
chức năng, nhiệm vụ của Ban quản lý KKT trong hệ thống pháp luật về KKT. Cần

bao gồm: các chính sách về nhà ở, về tiền lương và thu nhập, về quan hệ lao động,
về y tế và chăm sóc sức khỏe, về giáo dục đào tạo, về văn hóa thể thao, về cư trú.
Trước mắt, cần ưu tiên tập trung vào các giải pháp nhằm cải thiện chính sách tiền
lương và thu nhập, các giải pháp nhằm cải thiện quan hệ lao động, các giải pháp
nhằm cải thiện điều kiện nhà ở.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status