Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong
hệ thống bảo đảm xã hội. Bảo hiểm xã hội có bản chất nhân văn sâu sắc nhằm
mục đích ổn định cuộc sống của ngời lao động. Nó luôn theo suốt cả cuộc đời
ngời lao động từ khi còn trong bụng mẹ đợc hởng chế độ thai sản đến khi trởng
thành ngời lao động đợc hởng các chế độ ốm đau, tai nạn lao động (TNLĐ),
bệnh nghề nghiệp (BNN), khi về già đợc hởng chế độ hu trí và khi qua đời đợc
hởng chế độ mai táng phí.
Thông qua phơng tiện đồng tiền, bảo hiểm xã hội thực hiện các hoạt động
thu, chi bảo hiểm xã hội - đây là nội dung chính của chính sách tài chính bảo
hiểm xã hội. Các hoạt động bảo hiểm xã hội cần phải có nguồn tài chính làm
phơng tiện, song mục tiêu của các hoạt động tài chính bảo hiểm xã hội không
phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục đích an sinh xã hội.
Xuất phát từ bản chất tốt đẹp của bảo hiểm xã hội nên ngay từ khi mới thành
lập nớc Đảng và Nhà nớc ta đã rất quan tâm đến hoạt động này. Hơn nửa thế kỷ
trôi qua, chính sách bảo hiểm xã hội luôn gắn liền và phát triển cùng với các
thời kỳ phát triển của đất nớc. Trong thời kỳ bao cấp, chính sách tài chính bảo
hiểm xã hội cũng mang nặng tính bao cấp. Bớc sang thời kỳ đổi mới, để phù
hợp với chủ trơng phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, chính sách bảo hiểm xã hội nói chung và chính sách tài chính bảo hiểm
xã hội nói riêng đã đợc Nhà nớc điều chỉnh kịp thời.
Tuy nhiên trong việc thực hiện chính sách tài chính bảo hiểm xã hội đã bộc
lộ một số nội dung cần phải đợc nghiên cứu để hoàn chỉnh tiếp nh: Nhận thức
về tài chính bảo hiểm xã hội nh thế nào cho đúng, quỹ bảo hiểm xã hội có độc
1
lập với ngân sách hay không, tài chính bảo hiểm xã hội có phải là tài chính của
đơn vị sự nghiệp có thu hay không... Và theo nội dung đổi mới thì việc thực
hiện chính sách tài chính bảo hiểm xã hội có gì thuận lợi, khó khăn, và còn
những tồn tại gì cần giải quyết? Đây chính là những vấn đề thời sự cần phải đợc
nghiên cứu một cách có hệ thống.
nên đề tài cha đề cập đến. Tuy nhiên Bảo hiểm y tế đã sát nhập vào bảo hiểm xã
hội nên phần điều kiện tổ chức thực hiện đề tài có đề cập một số phần nhỏ để
đảm bảo tính thống nhất trong việc tổ chức thực hiện.
6. Kết cấu của luận văn
Để làm rõ mục đích nghiên cứu nên trên ngoài phần mở đầu và kết luận
đề tài có cấu trúc 3 chơng chính nh sau:
Chơng 1- Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội và tài chính bảo hiểm xã hội.
Chơng 2-Thực trạng chính sách tài chính bảo hiểm xã hội ở Việt nam.
Chơng 3-Phơng hớng hoàn thiện chính sách tài chính bảo hiểm xã hội ở nớc ta
trong những năm tới.
3
Chơng 1- Cơ sở lý luận về Bảo Hiểm Xã Hội
và tài chính Bảo Hiểm Xã Hội
1.1. Những vấn đề cơ bản về BHXH và tài chính Bảo Hiểm Xã Hội
1.1.1. Khái niệm, bản chất, vai trò của Bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công
nghiệp xuất hiện ở Châu âu. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), Bảo hiểm xã
hội là sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả các thành viên của mình thông qua một
loạt các biện pháp cộng đồng để đối phó với những khó khăn về kinh tế - xã hội
do bị ngừng hoặc giảm nhiều về thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao
động, tuổi già, chết đồng thời đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia
đình đông con. Bảo hiểm xã hội là một nội dung lớn nhất và ổn định nhất của an
sinh xã hội.
Trong bất cứ xã hội nào có nền kinh tế thị trờng, nhu cầu bảo hiểm xã hội
luôn luôn là yêu cầu thiết yếu của cuộc sống của cán bộ, công chức, quân nhân
và ngời lao động (sau đây gọi tắt là ngời lao động). ở hầu hết các nớc trên thế
giới, dới các hình thức khác nhau, bảo hiểm xã hội đã ra đời và phát triển hàng
trăm năm nay, từ tự phát đến tự giác, từ tự nguyện đến bắt buộc, từ cha hoàn
thiện đến hoàn thiện, tùy theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội của từng quốc
chỉ có sự đảm bảo, sự đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với công nhân viên
5
chức mà là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của mọi ngời
lao động khi họ giảm hoặc mất khả năng lao động.
Theo Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP
ngày 26/1/1995 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành.
Bao gồm các chế độ sau:
- Chế độ trợ cấp ốm đau
- Chế độ trợ cấp thai sản
- Chế độ trợ cấp tai nạn lao động
- Chế độ trợ cấp bệnh nghề nghiệp
- Chế độ trợ cấp hu trí
- Chế độ trợ cấp tử tuất
Ngoài ra, theo Quyết định số 37/2001/QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ
ngày 21/3/2001 thì bảo hiểm xã hội còn thực hiện chế độ nghỉ dỡng sức, phục
hồi sức khỏe cho ngời lao động tham gia bảo hiểm xã hội.
1.1.1.2.Bản chất BHXH, phân biệt BHXH và bảo hiểm thơng mại
Bảo hiểm xã hội là một hệ thống các chế độ trợ cấp nhằm góp phần thay
thế thu nhập (tiền lơng hoặc tiền công) của ngời lao động khi gặp phải những tr-
ờng hợp rủi ro bị mất khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn do ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hu trí hoặc tử tuất để đảm bảo
cuộc sống của ngời lao động và gia đình họ bằng cách hình thành một quỹ tài
chính để trợ cấp do các bên liên quan đến việc sử dụng lao động và bản thân ng-
ời lao động đóng góp.
Bảo hiểm xã hội ra đời là yêu cầu khách quan đối với ngời lao động và xã
hội. Xét từ phía ngời lao động, trong quá trình lao động sản xuất, kinh doanh,
ngời lao động luôn gặp phải những trờng hợp rủi ro khách quan nh ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu... làm cho họ bị mất khả năng
6
lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn, giảm hoặc mất nguồn thu nhập từ tiền lơng,
chính bản thân ngời lao động đóng góp theo quy định mà cả chủ sử dụng lao
động và Nhà nớc cũng góp phần.
Tuy nhiên bảo hiểm xã hội cũng là một loại hình bảo hiểm tham gia hoạt
động trong nền kinh tế thị trờng, giữa bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thơng mại
có nhiều điểm giống và khác nhau, nhng có một số điểm giống và khác nhau cơ
bản đó là:
Giống nhau:
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thơng mại đều hoạt động theo nguyên tắc
lấy số đông bù cho số ít. Nghĩa là số đông ngời tham gia đóng bảo hiểm để bảo
hiểm cho số ít ngời không may bị rủi ro. Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
và bảo hiểm thơng mại chủ yếu do các đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội đóng
góp.
Khác nhau:
Hoạt động của bảo hiểm xã hội là những hoạt động không vì mục đích
lợi nhuận mà vì an sinh xã hội. Thu của bảo hiểm xã hội dùng để chi trả cho các
chế độ bảo hiểm xã hội. Nếu thu không đủ chi, Ngân sách Nhà nớc trợ cấp. Hầu
hết các nớc trên thế giới, Ngân sách Nhà nớc đều cấp bù cho quỹ bảo hiểm xã
hội một khối lợng rất lớn nh: Đan mạch Nhà nớc cấp hỗ trợ 81%, Ai len là
66%..., ở nớc ta, theo chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành, ngời lao động và
chủ sử dụng lao động đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội 20% tiền lơng. Trong
quãng thời gian ngời lao động nghỉ hu, quỹ bảo hiểm xã hội chỉ đủ chi trả cho 8
năm, từ năm thứ 9 Ngân sách Nhà nớc cấp bù.
Nhng mục đích của loại hình bảo hiểm thơng mại là lợi nhuận. Các hoạt
động bảo hiểm thơng mại đợc thực hiện theo Luật Công ty và Luật doanh
nghiệp, phải hạch toán kinh doanh, phải đóng thuế cho Nhà nớc và nếu thua lỗ
không đợc Nhà nớc cấp bù. Đó là những điểm khác nhau cơ bản giữa bảo hiểm
8
xã hội và các loại bảo hiểm thơng mại.
1.1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội
Hoạt động bảo hiểm xã hội là loại hoạt động dịch vụ công mang tính xã
động bảo hiểm xã hội, Nhà nớc đã đảm bảo cho mọi ngời, mọi tổ chức, mọi đơn
vị bình đẳng, công bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong đời sống
xã hội, góp phần đảm bảo cho ổn định kinh tế chính trị xã hội.
- Bảo hiểm xã hội góp phần tăng thêm nguồn vốn đầu t để phát triển kinh
tế. Trong quá trình hoạt động, bảo hiểm xã hội thực hiện thu các khoản đóng
góp và giải quyết các chế độ cho ngời lao động. Với nguyên tắc hoạt động lấy
số đông bù cho số ít, trong những khoảng thời gian nhất định quỹ bảo hiểm xã
hội tạm thời có những khoản tiền nhàn rỗi để đầu t vào các lĩnh vực kinh tế xã
hội góp phần tăng trởng quỹ và tăng thêm nguồn vốn đầu t cho việc phát triển
kinh tế đất nớc.
- Bảo hiểm xã hội thực hiện tái phân phối thu nhập giữa những ngời lao
động. Biểu hiện cụ thể là thực hiện tái phân phối thu nhập giữa những ngời lao
động có thu nhập cao với những ngời lao động có thu nhập thấp, giữa những ng-
ời lao động đang lao động với những ngời lao động đang nghỉ việc vì nhiều lý
do khác nhau qua đó BHXH đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc tái
phân phối thu nhập giữa những ngời lao động tham gia BHXH, thực hiện điều
chỉnh các quan hệ xã hội nhằm duy trì và bảo vệ công bằng xã hội.
1.1.2. Một số nội dung về tài chính Bảo hiểm xã hội
1.1.2.1.Bản chất tài chính bảo hiểm xã hội, phân biệt quỹ bảo hiểm xã hội và
Ngân sách nhà nớc
Để hiểu rõ bản chất tài chính của bảo hiểm xã hội ta tìm hiểu tài chính
bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm xã hội.
Tài chính đợc đặc trng bởi sự vận động độc lập tơng đối của tiền tệ với
10
chức năng phơng tiện thanh toán và phơng tiện cất trữ trong quá trình tạo lập
hay sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể
kinh tế-xã hội. Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân
phối các nguồn lực tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ
nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ hay tiêu dùng của các chủ thể (pháp nhân hay
thể nhân) trong xã hội.
-Các quan hệ tài chính xếp vào một khâu tài chính nếu hoạt động tài
chính có cùng tính chất, đặc điểm, vai trò và đồng nhất về các hình thức; quan
hệ tài chính phù hợp với mục đích sử dụng của tiền tệ.
Nh vậy, tài chính bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm xã hội là hai thuật
ngữ khác nhau nhng lại có nhiều nội dung đồng nghĩa với nhau nên trên thực tế
nói đến tài chính bảo hiểm xã hội thì thực chất cũng là nói đến các mối quan hệ
trong sự tạo lập và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội. Vì thế để hiểu bản chất của
quỹ bảo hiểm xã hội cũng nh hiểu bản chất của tài chính bảo hiểm xã hội phải
đi sâu phân tích các mối quan hệ kinh tế-xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập
và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.
Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiền tệ bao gồm nhiều nội dung, mỗi nội
dung đợc hình thành từ một chế độ, chính sách cụ thể. Để phân tích bản chất tài
chính bảo hiểm xã hội trớc hết phải phân loại nội dung quỹ bảo hiểm xã hội
theo các tiêu thức. Có nhiều cách phân loại nội dung quỹ bảo hiểm xã hội, mỗi
tiêu thức phân loại lại có những ý nghĩa nhất định. Để nghiên cứu bản chất tài
chính bảo hiểm xã hội nên tiêu thức phân loại nội dung của quỹ bảo hiểm xã
hội chủ yếu phân theo nguồn hình thành và nội dung chi của quỹ vì trong các
nội dung kinh tế-xã hội của quỹ bảo hiểm xã hội thì thu và chi là những nội
dung chủ yếu của quỹ.
Nguồn hình thành quỹ BHXH (thu của quỹ BHXH)
Quỹ bảo hiểm xã hội đợc hình thành từ nhiều nguồn, trong đó có hai
nguồn chính là nguồn đóng góp của các đối tợng thuộc diện bắt buộc (gọi tắt là
nguồn bắt buộc) theo quy định và nguồn đóng góp của các đối tợng tự nguyện
(gọi tắt là nguồn tự nguyện). Về mặt hình thức, hai nguồn này tuy có khác nhau
12
về phạm vi, đối tợng và mức độ đóng góp, song nội dung kinh tế-xã hội lại tơng
đối đồng nhất với nhau ở những điểm sau:
-Cả hai nguồn này đều có chung một mục đích là hình thành quỹ bảo
hiểm xã hội để chi trả cho các chế độ bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội đ-
ợc hình thành do các bên tham gia đóng góp, là quỹ tài chính trung gian độc lập
chi trả cho thân nhân đối tợng hoặc giao tiền trợ cấp một lần cho gia đình họ
(nếu không có ngời hởng định xuất hàng tháng).
Chế độ trợ cấp hu trí và tử tuất bắt nguồn từ việc bảo hiểm nguồn thu
nhập cho ngời lao động khi đã già yếu, hết tuổi lao động, mất sức lao động vĩnh
viễn và qua đời mà bất kỳ ngời lao động nào cũng phải trải qua. Trách nghiệm
đóng bảo hiểm hu trí, tử tuất thuộc về ngời lao động và ngời sử dụng lao động vì
khi còn khoẻ, ngời lao động làm việc cho ngời sử dụng lao động thì khi về già,
ngời sử dụng lao động phải có một phần trách nhiệm bảo đảm cuộc sống cho
họ. Việc tiến hành bảo hiểm hu trí và tử tuất nếu không có tổ chức bảo hiểm bắt
buộc của xã hội, của Nhà nớc thì bản thân ngời lao động cũng phải tìm một
hình thức nào đó để tự lo cho mình nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống lúc già
yếu, lúc qua đời.
Đặc điểm của bảo hiểm hu trí và tử tuất là nó thực hiện sau quá trình lao
động, quan hệ phân phối có tính chất hoàn trả, lợi ích đợc hởng tơng ứng với
nghĩa vụ đóng góp. Bản chất kinh tế-xã hội của quỹ bảo hiểm xã hội chi cho
chế độ hu trí và tử tuất phản ánh quan hệ kinh tế (quan hệ lợi ích) giữa ngời lao
động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc. Ngời lao động và ngời sử dụng lao
động đóng bảo hiểm hu trí, tử tuất nhằm mục đích đảm bảo lâu dài, ổn định
cuộc sống cho bản thân ngời lao động và gia đình họ khi già yếu không có
khoản thu nhập từ lao động. Mức hởng trợ cấp hu trí phụ thuộc vào mức đóng
góp và thời gian đóng phí bảo hiểm ít hay nhiều còn thời gian hởng hu trí là
14
không có giới hạn, hởng đến khi chết mà tuổi thọ của từng ngời lao động lại
khác nhau nên tính hoàn trả không đồng đều, cùng thời gian đóng nh nhau nhng
ngời nào sống lâu hơn thì đợc hởng hu trí nhiều hơn, thậm chí hởng nhiều hơn
cả mức đóng góp. Phần hởng nhiều hơn đó đợc quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo,
đó chính là tính chất xã hội, tính cộng đồng của bảo hiểm xã hội.
Chế độ hu trí và tử tuất thờng đợc gọi là chế độ dài hạn vì từ khi ngời lao
động tham gia bảo hiểm đến khi nghỉ hu đợc hởng chế độ hu trí phải trải qua
một thời gian dài 30 năm. Số d của quỹ bảo hiểm xã hội thực chất là số tiền ứng
xảy ra tai nạn lao động; cũng có thể do nguyên nhân khách quan nh nồi hơi bị
nổ, sự cố về điện, máy móc... gây ra tai nạn; cũng có thể do công tác an toàn lao
động, vệ sinh công nghiệp, phòng chống độc hại không tốt dẫn đến ngời lao
động bị ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp... Hậu quả khi xảy ra các
rủi ro đó ngời lao động không những mất nguồn thu nhập từ lao động mà còn
phải tăng thêm chi phí cho việc chăm sóc y tế nếu bị nặng thì tàn phế suốt đời
hoặc chết ngời.
Bên cạnh đó những lao động nữ còn có một thiên chức đó là làm mẹ.
Trong thời gian sinh và nuôi con nhỏ, lao động nữ phải nghỉ làm việc dẫn đến
giảm một phần thu nhập do lao động.
Đối với ngời sử dụng lao động, thì khi ngời lao động bị rủi ro đó không
những ảnh hởng đến quá trình sản xuất kinh doanh mà còn phải bỏ ra nhiều chi
phí để khắc phục hậu quả đột xuất cho các rủi ro đó gây ra dẫn đến
tình hình tài chính của đơn vị càng gặp khó khăn hơn.
Để có nguồn thu nhập ổn định cuộc sống cho ngời lao động trong khi bị
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ổn định kinh tế tài
chính cho ngời sử dụng lao động tất yếu phải có quỹ bảo hiểm, ngời sử dụng lao
động phải có trách nhiệm trích nộp phần thu nhập để đóng góp vào quỹ BHXH
cho các mục đích trên.
16
Thông thờng, để ổn định kinh tế cho doanh nghiệp nguồn đóng góp để
tạo lập quỹ bảo hiểm cho các rủi ro này đợc Nhà nớc cho phép hạch toán vào
giá thành sản phẩm để ngời tiêu dùng trong xã hội gánh chịu. Tính chất độc hại,
không an toàn trong sản xuất kinh doanh gây ốm đau, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp cho ngời lao động xảy ra khác nhau ở các ngành, các doanh
nghiệp nhng do nhu cầu của các sản phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng
cuộc sống mang tính chất xã hội vì thế mọi doanh nghiệp, mọi thành viên xã
hội tiêu dùng sản phẩm đều phải có nghĩa vụ bảo hiểm cho ngời lao động khi
xảy ra rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Nh vậy
bản chất kinh tế-xã hội của các chế độ bảo hiểm ốm đau, thai sản, tai nạn lao
cuộc sống của ngời lao động và gia đình họ khi gặp các rủi ro làm giảm hoặc
mất thu nhập từ lao động (tiền lơng, tiền công); phần quỹ tạm thời nhàn rỗi
đợc tham gia đầu t phát triển, góp phần ổn định kinh tế-xã hội của đất nớc.
Chủ thể nguồn tài chính bảo hiểm xã hội là những ngời sở hữu quỹ bảo hiểm
xã hội, đó là các bên tham gia đóng bảo hiểm xã hội mà đại diện của nó là
Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt nam.
Nh vậy, đặc điểm tạo lập và sử dụng quỹ BHXH thể hiện nh sau:
-Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiền tệ tập trung giữ vị trí là khâu tài
chính trung gian trong hệ thống tài chính quốc gia. Nó ra đời, tồn tại và gắn với
mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho ngời lao động và gia đình họ khi gặp
rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động mà không nhằm mục đích kinh
doanh kiếm lời.
-Phân phối quỹ bảo hiểm xã hội vừa mang tính chất hoàn trả, vừa mang
tính chất không hoàn trả. Tính chất hoàn trả và không hoàn trả lớn hơn so với
mức phí đóng góp thể hiện tính chất xã hội của các hoạt động bảo hiểm xã hội.
-Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào trình
18
độ phát triển kinh tế-xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng
thời kỳ nhất định của đất nớc. Trình độ kinh tế-xã hội càng phát triển thì các
chế độ bảo hiểm xã hội đợc áp dụng càng mở rộng, nhu cầu thoả mãn về bảo
hiểm xã hội đối với ngời lao động càng đợc nâng cao và khi kinh tế phát triển
ngời lao động có thu nhập cao càng có điều kiện tham gia đóng bảo hiểm xã
hội.
Để hiểu rõ hơn bản chất của tài chính bảo hiểm xã hội ta cần phân biệt sự
giống và khác nhau giữa quỹ bảo hiểm xã hội và Ngân sách Nhà nớc.
Ngân sách Nhà nớc là sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với
quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nớc nhằm thực hiện các
chức năng kinh tế-xã hội theo kế hoạch của Nhà nớc trên cơ sở luật định. Nó
phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nớc và các chủ thể trong xã hội phát
sinh khi nhà nớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên
tắc cân đối thu và chi.
Những điểm khác nhau:
-Điều kiện ra đời và phát triển của Ngân sách Nhà nớc và quỹ bảo hiểm
xã hội khác nhau. Ngân sách Nhà nớc ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự
ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nớc. Bộ máy Nhà nớc càng lớn, chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nớc càng mở rộng thì thu-chi quỹ Ngân sách Nhà nớc càng
lớn. Quỹ bảo hiểm xã hội ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển
của kinh tế hàng hoá với quan hệ thuê mớn nhân công. Khi kinh tế phát triển,
thu nhập tiền lơng càng cao thì phạm vi các chế độ bảo hiểm xã hội càng mở
rộng, mức độ thoả mãn cho ngời lao động của bảo hiểm càng cao. Đây là cơ sở
khách quan cho sự ra đời, phát triển của bảo hiểm xã hội, cũng là cơ sở cho
định hớng phát triển bảo hiểm xã hội trong thực tiễn.
20
-Quan hệ phân phối của Ngân sách Nhà nớc chủ yếu là phân phối lại và
không mang tính chất hoàn trả. Chủ thể đóng góp và hởng thụ Ngân sách Nhà
nớc tách rời nhau (trừ quan hệ tín dụng Nhà nớc). Các chủ thể có nghĩa vụ đóng
góp các khoản thu vào Ngân sách Nhà nớc do pháp luật quy định không đợc
Nhà nớc hoàn trả trực tiếp. Ngợc lại các chủ thể đợc hởng thụ các khoản chi
Ngân sách Nhà nớc cũng không phải hoàn trả lại số tiền mà Nhà nớc đã chi.
Đây là cơ sở khách quan cho hiện tợng trốn lậu các khoản thu nộp Ngân sách
Nhà nớc và thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả chi Ngân sách Nhà nớc mà trong
quản lý Ngân sách Nhà nớc phải có biện pháp khắc phục. Quan hệ phân phối
của quỹ bảo hiểm xã hội vừa mang tính chất hoàn trả, vừa mang tính chất không
hoàn trả. Việc hoàn trả không biết trớc chính xác về quy mô, thời gian và không
gian, thờng mức hoàn trả lớn hơn nhiều lần so với phí bảo hiểm đóng góp (nó
mang tính chất xã hội, tính chất cộng đồng). Đặc điểm này đã chi phối đến quá
trình quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội.
-Quan hệ phân phối của Ngân sách Nhà nớc phản ánh quan hệ lợi ích của
xã hội, lợi ích quốc gia và chi phối các quan hệ lợi ích bộ phận, lợi ích cá nhân,
nhằm đảm bảo cho nền kinh tế-xã hội của đất nớc tăng trởng và phát triển ổn
luôn gắn liền với các yếu tố sản xuất; đợc sử dụng cho mục đích tích luỹ là
chính chứ không phải cho mục đích tiêu dùng; nó luôn hoạt động nhằm mục
tiêu lợi nhuận. Tài chính doanh nghiệp ngoài tạo lập ban đầu chúng còn đợc bổ
sung hay rút bớt tuỳ theo nhu cầu mở rộng hoặc thu hẹp quá trình sản xuất kinh
doanh.
-Các quan hệ tài chính nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng tài
chính doanh nghiệp đều gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nghĩa là mọi hoạt động thu chi của tài chính doanh nghiệp đều nhằm
mục đích doanh lợi.
Từ bản chất của tài chính bảo hiểm xã hội và tài chính doanh nghiệp ta
22
có thể thấy những điểm giống nhau và khác nhau giữa tài chính bảo hiểm xã hội
và tài chính doanh nghiệp.
Những điểm giống nhau:
-Tài chính bảo hiểm xã hội và tài chính doanh nghiệp đều là những khâu
tài chính độc lập trong hệ thống tài chính quốc gia. Chúng ra đời, tồn tại và phát
triển đều do mục đích của chủ thể trong xã hội đòi hỏi.
-Việc tạo lập và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội và tài chính doanh nghiệp
đều biểu hiện dới hình thức tiền tệ và theo Pháp luật quy định.
Những điểm khác nhau;
-Điểm khác nhau đầu tiên của quỹ bảo hiểm xã hội và tài chính doanh
nghiệp là mục đích hoạt động của hai loại hình này. Quỹ bảo hiểm xã hội hoạt
động không nhằm mục đích doanh lợi. Hoạt động thu, chi của quỹ bảo hiểm xã
hội nhằm ổn định cuộc sống của ngời lao động khi gặp rủi ro khi giảm hoặc mất
thu nhập. Mọi hoạt động của tài chính doanh nghiệp chủ yếu kinh doanh kiếm
lời. Hay nói cách khác lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu chi phối hoạt động của
tài chính doanh nghiệp, lợi nhuận quyết định sự ra đời tồn tại, phát triển của
doanh nghiệp.
-Quan hệ phân phối quỹ BHXH và tài chính doanh nghiệp cũng khác
nhau. Quan hệ phân phối của quỹ bảo hiểm xã hội vừa mang tính chất hoàn trả
sở hữu quỹ bảo hiểm xã hội mà các bên tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội mới
là chủ sở hữu quỹ. Đại diện các bên tham gia đóng bảo hiểm xã hội là Hội đồng
quản lý bảo hiểm xã hội Việt nam có chức năng chỉ đạo, giám sát, kiểm tra việc
thực hiện thu chi quản lý quỹ bảo hiểm xã hội. Cơ chế tổ chức quản lý quỹ bảo
hiểm xã hội trình bày trên đây mang tính chất của cơ quan hành chính sự
nghiệp của Nhà nớc mà không bị ràng buộc bởi quan hệ kinh tế nh cơ chế quản
lý doanh nghiệp. Thực ra cơ quan bảo hiểm xã hội là một tổ chức công quyền
do Nhà nớc lập ra để thực hiện sự nghiệp bảo hiểm xã hội của Đảng và Nhà nớc
24
giao cho.
Giữa quỹ bảo hiểm xã hội và tài chính doanh nghiệp có một mối quan hệ.
Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu do chủ sử dụng lao động và ng-
ời lao động đóng góp trong đó có một nguồn không nhỏ từ tài chính doanh
nghiệp. Do vậy sự cân đối và phát triển quỹ bảo hiểm xã hội luôn gắn liền với
sự phát triển của tài chính doanh nghiệp.
1.2. Kinh nghiệm về tài chính BHXH ở một số nớc trên thế giới
Trên thế giới, nhất là những nớc có nền kinh tế phát triển, hoạt động bảo
hiểm xã hội đã có từ rất lâu và rất đa dạng, phong phú. Sau đây ta nghiên cứu về
kinh nghiệm tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội và chi quỹ bảo hiểm xã hội.
1.2.1.Kinh nghiệm về tạo lập quỹ Bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội ở các nớc đợc hình thành từ sự đóng góp của ngời
lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc. Tuy nhiên tỷ lệ đóng góp của các
đối tợng ở mỗi nớc không giống nhau mà tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện,
chính sách xã hội và quan điểm của mỗi Nhà nớc.
Phần đóng góp của ngời sử dụng lao động thờng đợc tính trên cơ sở số l-
ợng lao động thuê mớn trong doanh nghiệp. Tỷ lệ này đợc tính một mức trên
tổng quỹ lơng và theo pháp luật quy định. Phần đóng góp của ngời sử dụng lao
động đợc hạch toán vào chi phí kinh doanh của ngời sử dụng lao động.
Ngời lao động cũng phải đóng góp một phần với t cách là đối tợng đợc
thụ hởng sự phân phối của quỹ bảo hiểm xã hội. Khoản đóng góp của ngời lao