Gi
ả
ng viên : H
Ồ
c Nam K105041613
TPH
CM
-
Tháng 4/ 2012
CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ
(FED)
SO SÁNH ĐỊA VỊ PHÁP LÍ & CHỨC NĂNG, VAI TRÒ
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC - CỤC DỰ TRỮ LIÊN
BANG MỸ (FED)
I. NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG
MỸ (FED):
Cả hai đối tượng được đề cập trên đều được xem như cùng một hình thức
là “Ngân hàng Trung Ương” , có đặc điểm như sau:
- Nhiệm vụ của NHTW là vừa thực hiện chức năng độc quyền phát hành
giấy bạc ngân hàng vào lưu thông, vừa thực hiện quản lí nhà nước trên
lĩnh vực tiền tệ - tín dụng – ngân hàng.
- Không giao dịch với công chúng mà chỉ giao dịch với kho bạc và các
ngân hàng trung gian.
- Mục đích hoạt động: cung ứng tiền cho nền kinh tế, điều hòa lưu thông
tiền tệ và quản lí hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo lưu thông tiền tệ
ổn định, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm và kiểm soát
lạm phát.
- Có vị trí đặc thù trong bộ máy quản lí và điều hành nền kinh tế vĩ mô.
- Định chế có sự kết hợp của hai tính chất: Doanh nghiệp và quản lí
liên bang
(tiếng Anh:
Federal Reserve System – Fed)
là ngân hàng trung ương của Hoa
Kỳ. Bắt đầu hoạt động năm 1915
theo "Đạo luật Dự trữ Liên bang"
của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua
cuối năm 1913. quản lý kho bạc, thực hiện chính
sách tín dụng để phát triển sản
xuất, phối hợp với mậu dịch để
quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền
tệ với thực dân Pháp. Địa vị
pháp lí
Ngân hàng TW trực thuộc chính
phủ.
Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn
đối với NHTW thông qua việc
bổ nhiệm các thành viên, can
thiệp trực tiếp vào việc xây dựng
và thực thi chính sách tiền tệ.
hành pháp. Tuy nhiên, Hội đồng
phải gửi báo cáo tới Quốc hội theo
định kỳ.
Cơ cấu tổ
chức
Bộ máy làm
việc
Các thành phần:
1. Hội đồng Ngân hàng:
Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam là người đứng
đầu của NHNNVN là một
Các thành phần:
1. Hội đồng thống đốc: Cơ quan
quản lí cao nhất của FED là Hội
đồng Thống đốc gồm 7 thành
viên. Nhiệm kì mỗi thành viên là
thành viên c
ủ
a Chính ph
ủ
,
được Thủ tướng Chính phủ
VN đề nghị trình Quốc hội
VN chấp thuận bổ nhiệm.
thống tiền nhiệm chỉ định).
Các thành viên của HĐTĐ không
được tái nhiệm nếu như đã hoàn
thành xong nhiệm kì của mình. Chủ tịch Hội đồng thống đốc của
FED hiện nay là Ben Bernanke. 2. Các ngân hàng dự trữ: FED bao
gồm 12 ngân hàng và 25 chi
nhánh ở khắp nước Mỹ, mỗi ngân
hàng Dự trữ liên bang đại diện
cho một quận, Ngân hàng dự trữ
New York có vai trò "nổi bật hơn
một chút" so với các ngân hàng
còn lại.
Ngân hàng dự trữ liên bang khu
v
ự
c không ph
ả
i là công c
ụ
c
ủ
a H
ộ
i đ
ồ
ng
thống đốc và 5 đại diện từ các
Ngân hàng dự trữ liên bang khu
vực. Luôn có một đại diện của
ngân hàng Fed tại Quận 2, thành
phố New York (hiện tại là
Timonthy Geithner) là thành viên
trong Ủy ban này. Thành viên từ
các ngân hàng khác được luân
phiên theo thời gian 2 hoặc 3
năm.
Cách thức
điều hành,
hoạt động
NHNN Chi nhánh tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung
ương: Là các đơn vị phụ
thuộc của NHNN, chịu sự
điều hành và lãnh đạo tập
trung, thống nhất của Thống
đốc NHNN.
Hội đồng tư vấn liên bang do 12
đại diện của các ngân hàng địa
phương thuộc cục dự trữ Liên
bang, có quyền bỏ phiếu như
thành lập các ngân hàng và tổ
chức tín dụng, quản lý các
ngân hàng thương mại nhà
nước
* Thực thi những chính sách tiền
tệ quốc gia để duy trì mức việc
làm, giá cả ổn định và lãi suất
tương đối thấp.
* Giám sát và quản lý các thể chế
ngân hàng để đảm bảo đó là
những nơi an toàn để gửi tiền và
để bảo vệ quyền lợi tín dụng của
người dân.
* Cung cấp các dịch vụ tài chính
cho các tổ chức tín dụng, Chính
phủ Mỹ và Ngân hàng trung ương
các nước khác như thanh toán bù
trừ, thanh toán điện tử, phát hành
tiền
* Ngoài ra FED còn tiến hành các
nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ
cũng như kinh tế các bang, cung
cấp thông tin về nền kinh tế thông
qua các ấn phẩm, hội thảo giáo
dục và qua website.
phát
Tỷ lệ thất
nghiệp
Tỷ lệ GDP
Công cụ thi
hành chủ
yếu và hiệu
quả
-
Dự trữ bắt buộc
- Lãi suất
- Tỷ giá hối đoái
- Hạn mức tín dụng
Ví dụ: năm 2008, để kiềm chế lạm
phát NHNN đã quy định hạn mức
tín dụng của các Ngân hàng thương
mại không vượt qua 30%.
-
Dự trữ bắt buộc
- Lãi suất
- Tỷ giá hối đoái
- Hạn mức tín dụng
- Thỏa thuận mua lại
- Giao dịch mua đứt
- Thị trường mở
Ví dụ: FED mua số lượng
Trái phiếu và Cổ phiếu
Kho bạc bí mật cho tài
Corporation. Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến
rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó
càng thêm khó khăn. Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành. Cuộc khủng
hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra.
Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác. Ở Anh quốc, ngân hàng
Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của
mình ra.
Trước tình hình đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã tiến hành các biện pháp
nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng chẳng hạn như thực
hiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ
quan chính phủ Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín
dụng nhà ở. Tháng Chín 2007, Cục Dự trữ Liên bang còn tiến hành giảm lãi
suất cho vay qua đêm liên ngân hàng (Fed fund rates) từ 5,25% xuống
4,75%. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã bơm 205 tỷ Dollar
Mỹ vào thị trường tín dụng để nâng cao mức thanh khoản.
Tháng 12 năm 2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khi
những báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất
động sản diễn ra lâu hơn dự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn
dự tính. Tình trạng đói tín dụng trở nên rõ ràng. Hệ thống dự trữ liên bang cố
gắng giảm mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng 2 năm
2008 nhưng không có hiệu quả như mong đợi.
Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu Bear
Sterns, nhưng không nổi. Công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua
lại với giá 10 dollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2
dollar một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra. Việc Ngân
hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để
công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can
thiệp của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn. Sự sụp đổ
của Bear Stern đã đẩy cuộc khủng hoảng lên nấc trầm trọng hơn.
Tác động:
theo hướng xuất khẩu ở Đông Á. Một số nền kinh tế ở đây như Nhật Bản,
Đài Loan, Singapore và Hong Kong rơi vào suy thoái. Các nền kinh tế khác
đều tăng trưởng chậm lại.
Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Hoa Kỳ chịu tác động
nghiêm trọng cả về tài chính lẫn kinh tế. Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị
phá sản đến mức trở thành khủng hoảng tài chính ở một số nước như
Iceland, Nga. Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý rơi vào suy
thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăng trưởng. Khu vực
đồng Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từ ngày
thành lập.
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ,
nên cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực
và khi giá dầu giảm mạnh. Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng
hoảng nợ.
Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu
mỏ cho sản xuất và tiêu dùng giảm cũng như giá dầu mỏ giảm. Điều này lại
làm cho các nước xuất khẩu dầu mỏ bị thiệt hại. Đồng thời, do lo ngại về bất
ổn định xảy ra đã làm cho nạn đầu cơ lương thực nổ ra, góp phần dẫn tới giá
lương thực tăng cao trong thời gian cuối năm 2007 đầu năm 2008, tạo thành
một cuộc khủng hoảng giá lương thực toàn cầu. Nhiều thị trường chứng
khoán trên thế giới gặp phải đợt mất giá chứng khoán nghiêm trọng. Các nhà
đầu tư chuyển danh mục đầu tư của mình sang các đơn vị tiền tệ mạnh như
dollar Mỹ, yên Nhật, franc Thụy Sĩ đã khiến cho các đồng tiền này lên giá so
với nhiều đơn vị tiền tệ khác, gây khó khăn cho xuất khẩu của Mỹ, Nhật
Bản, Thụy Sĩ và gây rối loạn tiền tệ ở một số nước buộc họ phải xin trợ giúp
của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tiền tệ khi won
liên tục mất giá từ đầu năm 2008.
Hành động của FED:
khủng hoảng tài chính từ tháng 8 năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ
(Fed) đã tiếp tục tiến hành các biện pháp nới lỏng tiền tệ để tăng thanh
khoản cho các tổ chức tài chính. Cụ thể là lãi suất cho vay qua đêm liên
ngân hàng đã được giảm từ 5,25% qua 6 đợt xuống còn 2% chỉ trong vòng
chưa đầy 8 tháng (18/9/2007-30/4/2008). Lãi suất này sau đó còn tiếp tục
giảm và đến ngày 16/12/2008 chỉ còn 0,25%, mức lãi suất gần 0 hiếm thấy.
Fed còn thực hiện nghiệp vụ thị trường mở (mua lại các trái phiếu chính
phủ Hoa Kỳ mà các tổ chức tài chính nước này có) và hạ lãi suất tái chiết
khấu. Giữa tháng 12 năm 2008, Fed tuyên bố có kế hoạch thực hiện chính
sách nới lỏng tiền tệ mặt lượng.
Tháng 12 năm 2007, Chính phủ Hoa Kỳ đã lập ra và giao cho Fed chủ trì
chương trình Term Auction Facility để cấp các khoản vay ngắn hạn có kỳ
hạn từ 28 đến 84 ngày theo lãi suất cao nhất mà các tổ chức tài chính trả qua
đấu giá. Tính đến tháng 11 năm 2008, đã có 300 tỷ dollar được FED đem
cho vay theo chương trình này. FED còn tiến hành cho vay thế chấp đối với
các tổ chức tài chính với số tiền tổng cộng tới 1,6 nghìn tỷ tính đến tháng 11
năm 2008.
Thứ hai, bơm tiền vào lưu thông trên hai kênh
Cho các ngân hàng thương mại vay với lãi suất thấp để ngân h
àng cho
các DN vay lãi suất thấp nhằm tay tính thanh kho
ản đối với hệ thống ngân
hàng, đ
ồng thời h
òan thu
ế cho ng
ư
ời dân nhằm kích cầu ti
êu dùng đ
ối với
nền kinh tế.
Hai kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ là Kênh lãi suất v
à Kênh giá
cả tài sản
Thứ ba, không khống chế bất kỳ giá đầu ra của hàng hóa nào, k
ể cả
xăng d
ầu
FED có quan điểm rất rõ ràng không dùng giải pháp hành chính đ
ể can
thiệp vào giá cả thị trường, mà dùng các biện pháp kinh tế
như chính sách
thuế, chính sách tín dụng lãi suất thấp và tăng tính c
ạnh tranh của nền kinh
kinh tế
Trong những tháng đầu năm 2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) đã từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ (CSTT) để thúc đẩy phát
triển sản xuất kinh doanh và chủ động hạn chế tác động của khủng hoảng tài
chính, ngăn chặn nguy cơ suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, cùng với đà tăng
trưởng trở lại của kinh tế trong nước cũng như thế giới, càng về những tháng
cuối năm diễn biến thị trường tài chính - tiền tệ càng trở nên phức tạp, áp lực
lạm phát trở lại đối với nền kinh tế ngày càng rõ nét.
Với mục tiêu duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng
trưởng kinh tế bền vững trong năm 2010, chủ động đối phó với diễn biến
phức tạp của thị trường tài chính và kinh tế thế giới, NHNN đã quyết định:
1. Điều chỉnh lãi suất cơ bản tăng từ 7%/năm lên 8%/năm (Quyết định
số 2665/QĐ-NHNN), tăng lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên
8%/năm, lãi suất chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm (Quyết định
số 2664/QĐ-NHNN) áp dụng từ 01/12/2009.
Bên cạnh đó, với mục tiêu điều hành tỷ giá trong mối quan hệ với lãi
suất, chỉ số giá tiêu dùng, diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế
phù hợp với tín hiệu của thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước,
NHNN công bố mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng áp dụng cho
ngày 26/11/2009 là 17.961(tăng 5,16%) và áp dụng biên độ tỷ giá mới
cho giao dịch mua bán giao ngay giữa USD và VND là ± 3% từ ngày
26/11/2009.
2. NHNN cũng cam kết sẽ hỗ trợ mạnh mẽ trong việc bán ngoại tệ cho
các ngân hàng thương mại kèm nhiều biện pháp hỗ trợ khác nhằm
bình ổn thị trường ngoại hối. Các TCTD có trạng thái ngoại tệ từ âm
5% trở xuống được NHNN cam kết bán ngoại tệ hỗ trợ nhằm đảm bảo
hệ thống ngân hàng cung cấp đủ ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu, đặc biệt ưu tiên những mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản
xuất
Quyết định thay đổi các loại lãi suất cùng với tỷ giá đã đưa đến những
làm chậm lại sự mất giá của VND so với đồng USD”.
- Báo cáo của Standard Chartered Bank (Anh) về kinh tế Việt Nam đặc
biệt đánh giá cao quyết định tăng lãi suất cơ bản của NHNN: “lãi suất
cơ bản tăng giúp đồng tiền nội địa hấp dẫn hơn và giúp giảm các quan
ngại về sự mất giá của VND. Các nhà đầu tư sẽ có xu hướng nắm giữ
VND hơn là USD do lãi suất VND tăng, qua đó, giảm sức ép lên cung
USD”.
- Phát biểu tại Hội nghị CG tháng 12 năm 2009, bà Victoria Kwakwa,
Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam khẳng định: " Những
ngày gần đây, Việt Nam đã công bố những biện pháp kinh tế vĩ mô
quan trọng mà tất cả đều đúng hướng xét về mặt bảo đảm ổn định
kinh tế vĩ mô, điều mà tất cả chúng ta đều cho là quan trọng để tiếp
tục có được tăng trưởng. Thành công này đã được các đối tác nói
riêng và cộng đồng toàn cầu nói chung ghi nhận".
III. TẦM ẢNH HƯỞNG TO LỚN CỦA FED ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ THẾ GIỚI:
Với vai trò là Ngân hàng trung ương của nền kinh tế mạnh nhất thế
giới, mỗi quyết định của FED đều gián tiếp ảnh hưởng lớn đến nền
kinh tế toàn cầu. Người ta hay nói vui rằng “một cái hắt hơi sổ mũi
của chủ tịch FED” cũng đủ làm chao đảo nền kinh tế thế giới, xét về
mặt nào đó cũng không phải là không có lý. Vậy FED đã tác động đến
nền kinh tế toàn cầu như thế nào?
- Vài giờ sau cuộc tấn công khủng bố 11/9/2001, Cục Dự trữ Liên bang
Mỹ đã đưa ra lời tuyên bố: “Cục Dự trữ Liên bang sẽ vẫn mở cửa và
hoạt động. Cánh cửa phòng cho vay có chiết khấu luôn sẵn sàng đáp
ứng mọi nhu cầu thanh khoản của người dân”.
Hai câu nói ngắn gọn và súc tích này ngay lập tức đã xoa dịu các thị
trường trên toàn cầu.
Ngân hàng trung ương Mỹ, cơ quan được coi là lực lượng quyền lực
nhất trong việc quyết định số phận của nền kinh tế Mỹ cũng như kinh tế
toàn cầu. Vai trò này xuất phát từ chỗ, FED là cơ quan kiểm soát nguồn
cung tiền của nước Mỹ và điều khiển chính sách lãi suất của Mỹ, theo đó
ảnh hưởng tới tốc độ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, sức mạnh của đồng
USD, và tất nhiên là cả “trọng lượng” chiếc ví của người tiêu dùng.
Hệ quả kéo theo đối với tác động lên nền kinh tế hàng đầu Thế giới tất
nhiên là làm cả thế giới chuyển biến theo, cụ thể hơn đó là:
- Thứ nhất các quyết định về tăng giảm lãi suất của FED tác động trực
tiếp đến sức mạnh của đồng USD, qua đó ảnh hưởng mạnh đến các
đối tác thương mại của Mỹ. Nếu FED tăng lãi suất đồng USD nhằm
kiềm chế lạm phát, vô hình chung làm tăng sức mạnh của đồng USD
trên thị trường tiền tệ quốc tế, làm tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu,
giảm đầu tư vào Mỹ.
- Thứ hai, FED còn trực tiếp can thiệp vào việc xác lập giá trị đồng
USD thông qua hoạt động mua bán USD và các ngoại tệ khác. Ví dụ,
nếu Mỹ bán đồng Yen ra đồng thời mua vào USD thì giá trị của USD
sẽ tăng, trong khi giá trị Yen giảm xuống, dẫn đến tỉ giá USD/Yen
tăng.
- Thứ ba, Đô-la Mỹ là đồng tiền dự trữ của hầu hết các quốc gia trên thế
giới. Mỹ gây ảnh hưởng lên OPEC, buộc các kết toán giao dịch dầu
hỏa phải được thực hiện bằng đô-la Mỹ. Và hiện nay trên thế giới rất
nhiều quốc gia hiện là chủ nợ của Mỹ, trong đó Trung Quốc là chủ nợ
nắm giữ lượng công trái lớn nhất của chính phủ Mỹ. Kế đến là nhiều
quốc gia thuộc OPEC, vì để đổi lại viện trợ của Mỹ các quốc gia này
phải chấp nhận đổi dầu hỏa lấy công trái chứ không phải là tiền mặt.
Các quốc gia khác như Việt Nam, dù muốn cũng không thể dự trữ
vàng để mua dầu hỏa. Các đặc tính như “khả năng hoán đổi”, hay “giá
trị ổn định” chỉ có được sau khi đồng đô-la Mỹ đã trở thành đồng tiền